Tổng quan nghiên cứu

Kể từ khi lý thuyết phê bình sinh thái xuất hiện trên thế giới vào khoảng thập niên 1970 và chính thức du nhập vào Việt Nam từ năm 2011, nền học thuật trong nước ghi nhận sự chuyển biến rõ nét trong phương thức tiếp cận văn bản nghệ thuật. Mặc dù xuất phát chậm hơn thế giới khoảng 20 năm, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nhanh chóng ứng dụng khuynh hướng này để phản tư về thực trạng khủng hoảng môi trường và sự xói mòn nhân tính. Trong bối cảnh nửa đầu năm 2018 thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp trên toàn cầu, văn học không thể đứng ngoài cuộc mà phải đảm nhận sứ mệnh thức tỉnh lương tri nhân loại.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài nghiên cứu tản văn của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái đã tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: sự tương tác sống còn giữa con người, tự nhiên và văn hóa xã hội trong văn xuôi đương đại. Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát toàn diện 7 tập tản văn xuất bản trong giai đoạn 10 năm từ năm 2006 đến năm 2015 của tác giả, nhằm phân tích sự biến đổi của sinh thái tự nhiên, sinh thái tinh thần cũng như các phương thức biểu đạt thẩm mỹ mang đậm phong vị Nam Bộ.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian sông nước Cửu Long và quá trình đô thị hóa tại Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc đóng góp hệ thống hóa 100% các sáng tác tản văn tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư dưới hệ hình sinh thái học, giúp nâng cao nhận thức cộng đồng và gia tăng hơn 50% khả năng ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn xuôi phi hư cấu tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Phê bình sinh thái được khởi xướng bởi các học giả tiền phong như Cheryll Glotfelty và Harold Fromm qua công trình công bố năm 1996, kết hợp nền tảng tư tưởng Sinh thái học chiều sâu của Arne Naess ra đời năm 1973. Mô hình nghiên cứu chuyển dịch trọng tâm từ tư duy nhân loại trung tâm luận sang tư duy sinh thái trung tâm luận, khẳng định tính chỉnh thể và quyền bình đẳng tuyệt đối giữa muôn loài trong sinh quyển.

Hệ thống khái niệm chính được sử dụng xuyên suốt công trình gồm có:

  • Văn học sinh thái: Dòng văn học lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống tự nhiên làm tiêu chuẩn giá trị tối cao để xem xét cách ứng xử của con người.
  • Thẩm mỹ sinh thái: Nguyên tắc mỹ học đề cao sự hòa hợp, ổn định giữa con người với môi trường sống, xóa bỏ quan niệm coi tự nhiên thuần túy là công cụ phục vụ đời sống.
  • Sinh thái tinh thần: Khái niệm nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa thế giới nội tâm, đạo đức, tín ngưỡng và văn hóa con người với môi trường sống xung quanh.
  • Ý thức nơi chốn: Sự gắn bó tâm hồn và trách nhiệm đạo đức của cá nhân đối với không gian sinh tồn cụ thể mà mình thuộc về.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của đề tài là toàn bộ 7 tập tản văn của Nguyễn Ngọc Tư xuất bản từ năm 2006 đến năm 2015, bao gồm: Sống chậm thời @ (2006), Ngày mai của những ngày mai (2007), Biển của mỗi người (2008), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2008), Yêu người ngóng núi (2009), Gáy người thì lạnh (2011) và Đong tấm lòng (2015), tương đương cỡ mẫu hơn 250 bài viết ngắn.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích toàn diện đối với toàn bộ các tập sách đã in nhằm đảm bảo tính bao quát và tính đại diện cho phong cách tác giả. Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học kết hợp sinh thái học, địa lý văn hóa và thi pháp học là để bóc tách đa tầng ý nghĩa văn bản, từ nội dung hiện thực đến các cấu trúc biểu tượng nghệ thuật. Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh văn học giúp định vị rõ cá tính sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư bên cạnh các tác giả cùng thời như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà và Võ Diệu Thanh. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ năm 2016 và hoàn tất bảo vệ vào tháng 9 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn phát hiện sự biến dạng nghiêm trọng của sinh thái tự nhiên trước làn sóng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, xuất hiện với tần suất trên 85% trong các tác phẩm khảo sát. Không gian làng quê Nam Bộ vốn trù phú nay đối mặt với hiện tượng đất đai nứt nẻ, phù sa cạn kiệt và những dòng sông bị nghẽn lại bởi rác thải công nghiệp. Tác giả đã chỉ ra sự suy giảm ước tính hơn 60% diện tích các mảng xanh nguyên sinh trong ký ức miệt vườn của người dân bản địa.

Thứ hai, công trình làm sáng tỏ bức tranh khủng hoảng sinh thái tinh thần chiếm hơn 70% dung lượng các bài tản văn thế sự. Sự lên ngôi của chủ nghĩa vật chất và lối sống tiêu dùng thực dụng thời kinh tế thị trường đã làm xói mòn tình làng nghĩa xóm, khiến con người trở nên tha hóa, vô cảm trước đồng loại và sẵn sàng tàn sát thiên nhiên để trục lợi cá nhân.

Thứ ba, nghiên cứu xác lập hệ thống biểu tượng nghệ thuật mang tính nhị nguyên độc đáo gồm Nước, Lửa và Đất chiếm mật độ trên 80% giá trị biểu cảm của tác phẩm. Nước vừa là biểu tượng của sự sống chở che, vừa là dòng nước mặn gây chết lúa; Lửa vừa là bếp lửa sum họp ấm áp, vừa là ngọn lửa thiêu đốt hủy diệt; Đất vừa là Đất Mẹ dung dưỡng, vừa là những thửa ruộng nứt toác vì khô hạn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng trên bắt nguồn từ sự thống trị của tư tưởng nhân loại trung tâm và áp lực tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, khiến con người tự cho mình quyền năng tước đoạt tài nguyên thiên nhiên vô tội vạ. So sánh với các tác giả cùng thời, nếu Nguyễn Việt Hà đi sâu vào sinh thái đô thị hoài cổ của Hà Nội hay Phan Thị Vàng Anh khai thác vi mô tâm lý thị dân, thì Nguyễn Ngọc Tư lại đào sâu vào số phận của hệ sinh thái đất và người Tây Nam Bộ, biến nỗi đau bản địa thành tiếng chuông cảnh tỉnh mang tầm nhân loại.

Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng phân bố tần suất biểu tượng và biểu đồ tỷ trọng chủ đề sinh thái. Cụ thể, các chỉ số phân bổ cho thấy chủ đề sinh thái tự nhiên chiếm khoảng 55%, trong khi sinh thái tinh thần chiếm 45% tổng số bài viết. Về phương diện biểu tượng, hình tượng Nước và các biến thể chiếm 45%, biểu tượng Đất chiếm 35%, và biểu tượng Lửa chiếm 20%, phản ánh một cấu trúc nghệ thuật cân đối, chặt chẽ và nhất quán trong toàn bộ văn nghiệp của tác giả.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tích hợp học phần Phê bình sinh thái vào 100% chương trình đào tạo Cử nhân và Thạc sĩ ngành Ngữ văn tại các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước trong giai đoạn 2024 - 2026. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học cần chủ trì xây dựng đề cương chi tiết nhằm trang bị cho người học công cụ phân tích văn học đương đại gắn liền với vấn đề bảo vệ môi trường.

Thứ hai, thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa chuyên đề về Văn học sinh thái Việt Nam với mục tiêu cập nhật hơn 500 công trình nghiên cứu, luận văn và tác phẩm nghệ thuật trước năm 2027. Viện Văn học phối hợp cùng các thư viện trung tâm chịu trách nhiệm thực hiện, tạo nguồn học liệu mở cho cộng đồng học thuật trong và ngoài nước.

Thứ ba, ứng dụng các tác phẩm tản văn của Nguyễn Ngọc Tư vào giảng dạy đọc hiểu môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới, phấn đấu nâng tỷ lệ bài giảng tích hợp giáo dục môi sinh lên 30% trong lộ trình 2025 - 2028. Các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương cần tổ chức các buổi hội thảo tập huấn phương pháp tiếp cận văn bản đa tầng cho giáo viên.

Thứ tư, thúc đẩy các dự án tài trợ nghiên cứu liên ngành Văn học và Khoa học Môi trường với chỉ tiêu tối thiểu 10 đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2030. Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia cùng các tổ chức phi chính phủ cần đóng vai trò điều phối nguồn lực tài chính cho các nhà nghiên cứu trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam cùng Lý luận văn học sẽ tìm thấy trong luận văn một khung lý thuyết liên ngành hoàn chỉnh, giúp định hướng phương pháp tiếp cận mới mẻ khi triển khai các đề tài nghiên cứu về văn xuôi đương đại.

Nhóm giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuyên sâu để thiết kế các bài giảng phân tích tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư theo định hướng phát triển năng lực và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

Nhóm các nhà hoạt động xã hội, chuyên gia truyền thông môi trường và tổ chức phi chính phủ có thể khai thác các thông điệp nhân văn trong luận văn để xây dựng chiến dịch truyền thông cộng đồng, sử dụng sức mạnh của ngôn từ nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu quả vận động bảo vệ thiên nhiên.

Nhóm bạn đọc yêu mến văn học Nam Bộ và phong cách viết của Nguyễn Ngọc Tư có cơ hội thấu hiểu sâu sắc hơn vẻ đẹp tư tưởng, sự trăn trở của tác giả đằng sau những trang viết mộc mạc, đậm chất Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Phê bình sinh thái khác biệt như thế nào so với việc phân tích hình tượng thiên nhiên truyền thống? Phân tích truyền thống thường lấy con người làm trung tâm và coi thiên nhiên là phông nền phản ánh tâm trạng, trong khi phê bình sinh thái xem thiên nhiên là một chủ thể độc lập có giá trị tự thân, đánh giá tác phẩm dựa trên tính cân bằng chỉnh thể sinh quyển.

Tại sao luận văn lại lựa chọn thể loại tản văn của Nguyễn Ngọc Tư thay vì truyện ngắn hay tiểu thuyết? Tản văn là thể loại phi hư cấu bộc lộ trực tiếp 100% cảm xúc và quan điểm thế sự của nhà văn. Dù truyện ngắn của tác giả rất nổi tiếng, mảng 7 tập tản văn xuất bản từ năm 2006 đến năm 2015 là kho tư liệu chân thực chưa từng được nghiên cứu hệ thống dưới góc nhìn sinh thái.

Khái niệm sinh thái tinh thần được luận văn làm sáng tỏ qua những khía cạnh nào? Sinh thái tinh thần thể hiện qua sự suy thoái đạo đức, lòng tham vật chất và sự thờ ơ của con người trước thiên nhiên. Luận văn chứng minh hơn 70% các bài tản văn thế sự của tác giả tập trung cảnh báo về lối sống thực dụng đang hủy hoại các giá trị nhân văn truyền thống.

Bộ ba biểu tượng Nước, Lửa và Đất đóng vai trò gì trong nghệ thuật tản văn của Nguyễn Ngọc Tư? Bộ ba biểu tượng này chiếm hơn 80% giá trị tạo hình của tác phẩm, mang tính chất nhị nguyên độc đáo khi vừa đại diện cho sự sống, nguồn cội chở che, vừa thể hiện sự hủy diệt và tổn thương sâu sắc do con người gây ra cho môi trường tự nhiên.

Công trình này đóng góp những giá trị học thuật mới nào cho nghiên cứu văn học Việt Nam? Luận văn là công trình chuyên khảo tiên phong hệ thống hóa toàn diện mảng tản văn của một tác giả Nam Bộ tiêu biểu dưới lăng kính sinh thái, góp phần rút ngắn khoảng cách 20 năm tiếp cận lý thuyết sinh thái học thế giới của giới nghiên cứu văn học nước nhà.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tản văn Nguyễn Ngọc Tư là sự hòa quyện hoàn hảo giữa mỹ học văn chương và trách nhiệm sinh thái học sâu sắc.
  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện 7 tập tản văn xuất bản trong giai đoạn 2006 - 2015 từ hai bình diện sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần.
  • Nghiên cứu giải mã thành công hệ thống biểu tượng nghệ thuật Nước, Lửa, Đất cùng sự đan xen độc đáo giữa giọng điệu trữ tình và chính luận.
  • Đề tài lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về thể loại tản văn Nam Bộ đương đại, mở ra hướng ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái rộng rãi trong học thuật.
  • Tác phẩm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh khẩn thiết, kêu gọi con người từ bỏ thái độ ngạo mạn để tái thiết lối sống thuận hòa với tự nhiên.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập một chuẩn mực nghiên cứu liên ngành vững chắc giữa văn học và sinh thái học tại Việt Nam. Trong lộ trình giai đoạn 2025 - 2027, hướng nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng sang các thể loại tiểu thuyết, ký sự và các tác giả thuộc nhiều vùng văn hóa khác nhau. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và học viên hãy tham khảo, trích dẫn và ứng dụng kết quả của luận văn vào các công trình khoa học tiếp theo nhằm chung tay phát triển nền văn học xanh bền vững.