Chương 1 GIỌNG ĐIỆU GIỄU NHẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 1. Giới thuyết về giọng điệu giễu nhại 1. Giới thuyết về giọng điệu Thuật ngữ “giọng điệu” tồn tại ở phạm vi chủ yếu là trong văn học. Nhưng muốn thấu tỏ nó một cách toàn vẹn, trước hết nên hiểu nó với vai trò là một yếu tố để nhận biết mỗi cá nhân con người.
Với tư cách này, “giọng” phản ánh thái độ, tình cảm, tâm trạng, nhận thức của con người trong một thời điểm nào đó, thể hiện qua cách lựa chọn ngôn ngữ và sử dụng ngữ điệu, với sự can thiệp của trường độ, cường độ, âm sắc, âm lượng của nó. “Ngữ điệu là hình thức biểu hiện của lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh,…” [48, tr. Giọng điệu trong văn học được coi là một phạm trù thẩm mỹ thể hiện tài năng và khả năng sáng tạo của tác giả. Nó liên quan đến các yếu tố tạo nên văn phong bao gồm: cách diễn đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh, nhịp điệu.
Giọng điệu vừa biểu hiện một thái độ về đối tượng thẩm mĩ trong tác phẩm văn học vừa là thái độ của người phát ngôn văn học đối với người nghe. Giọng điệu trong tác phẩm văn chương thuộc lĩnh vực hình thức nhưng là “hình thức mang tính nội dung”, vì qua hình thức có thể hiểu được nội dung. Nó có khả năng liên kết các yếu tố hình thức khác nhau trong văn bản làm cho tác phẩm cùng mang một âm hưởng và cùng chung một khuynh hướng nhất định. Do vậy, giọng điệu trở thành một yếu tố quan trọng góp phần tạo ra đặc trưng riêng cho mỗi loại hình văn học và hơn thế, là một mốc giới xác định phong cách mỗi một nhà văn, mỗi một trào lưu văn học.
Tìm được giọng điệu phù hợp với câu chuyện được kể là rất khó. Giọng điệu ấy thường lại có những sắc thái, âm hưởng khác nhau để diễn tả cái 17 phong phú vốn có của đời sống. Người đọc có thể tìm thấy trong một tác phẩm, một tác giả nhiều sắc thái giọng điệu. “Giọng điệu không những không loại trừ mà còn cho phép tồn tại trong tác phẩm văn học những sắc thái khác nhau” [48, tr.
Chính vì thế, mỗi tác phẩm tồn tại như một môi trường đa giọng điệu, nhiều sắc thái. Tuy nhiên, những giọng điệu, sắc thái ấy đều xoay quanh một giọng chủ đạo - giọng được coi là chủ âm cho tác phẩm đó, đôi khi là cho toàn bộ sáng tác, đại diện cho phong cách của tác giả ấy. Giọng điệu tuy là khái niệm thường xuyên được sử dụng trong các công trình nghiên cứu và bài viết về tác phẩm văn học, được thừa nhận là một trong những lực hút làm nên sức quyến rũ cho tác phẩm và bồi đắp phong cách tác giả. Song phần lớn trong số những công trình ấy, giọng điệu chỉ được nhắc đến như một tiêu chí phụ bên cạnh những mảng lớn khác như tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ.
khi đánh giá về tác phẩm hoặc tác giả nào đó. Do vậy, việc xây dựng giới thuyết về giọng điệu là điều cần thiết. Trong phần này, luận văn không quá kỳ vọng sẽ tạo được một hệ thống lý thuyết chuẩn xác và đầy đủ về giọng điệu (bởi vì không có một hệ thống lý thuyết nào đúng hết cho mọi trường hợp), nhưng chúng tôi cố gắng ở mức cao nhất giới thiệu những nhận định được những nhà nghiên cứu có uy tín xác lập và nhận được phần đông sự đồng tình trong giới học thuật, từ đó có cơ sở xây dựng hệ thống luận điểm cho luận văn. Bakhtin quan niệm giọng điệu giống như “một yếu tố cốt tử tạo nên những mối quan hệ mở của tiểu thuyết, và chính nó - cái giọng điệu “nhiều bè” ấy - là sản phẩm tất yếu của một quá trình đối thoại đang diễn ra liên tục, không ngừng, có mặt khắp nơi trong đời sống” [23, tr.
Bakhtin cho rằng, giọng điệu văn chương thể hiện qua lời văn và văn cảnh chứa chất cuộc đối thoại. Tính đa thanh thấm sâu vào từng bộ phận của lời văn, từng từ một. Ngoài ra, giọng điệu còn được thể hiện qua phong cách 18 ngôn ngữ, các phương ngữ mang dáng vẻ lập trường cụ thể. Giọng điệu thể hiện khác nhau ở từng thể loại, nhưng chỉ có văn xuôi nghệ thuật mới đủ điều kiện xuất hiện giọng điệu đa thanh, khi mà ngôn ngữ của nó là ước lệ, lời văn có tính chất “tự phê phán”.
Ngôn ngữ tiếp nhận đối tượng và biến đối tượng thành một bộ phận trong lời nói của mình. Ở đây, tính chất đánh giá về lời người khác được thể hiện triệt để. Giọng điệu - theo ông - không chỉ tuân thủ yêu cầu về thể loại mà còn chịu sức ép của truyền thống và thời đại. Chúng tôi cũng tiếp nhận lý thuyết về giọng điệu của Gerard Genette - nhà nghiên cứu người Pháp - người được xem là “chuyên gia hàng đầu về thuật kể chuyện, hay nói đúng hơn, ông là ông tổ của những thuật ngữ liên quan tới trần thuật” [82, tr.
Giọng điệu là thuật ngữ trần thuật được ông đưa ra trong cuốn sách Diễn ngôn mới của truyện (1983). Genette cho rằng nghệ thuật kể chuyện là kết quả trực tiếp của điểm nhìn trần thuật, kéo theo đó là những giọng điệu khác nhau.Genette cũng là người phát hiện ra lý thuyết “sự di động của điểm nhìn” và để nhìn nghệ thuật là trả lời câu hỏi “nhân vật nào mà điểm nhìn hướng vào phối cảnh kể chuyện?” khác hoàn toàn với câu hỏi “ai là người kể?” (theo [55; tr. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Giọng điệu văn chương, cũng xuất phát từ ngôn ngữ, song nó có nghĩa rộng hơn nhiều, nó bao hàm cả ngữ cảnh, thái độ, quan niệm, cách ứng xử.
và cá thể hóa đến mức trở thành tài sản riêng của một sinh thể tư duy, như giọng điệu riêng của người ấy trong cuộc đời. Chẳng hạn, khi xuất hiện một chi tiết, một tình tiết diễn đạt bằng giọng điệu văn chương, ta thường lấy chi tiết tình tiết ấy soi ra bức màn hiện thực định giá cho nó và lấy quy luật ngôn ngữ, vận dụng các quan hệ quy chiếu về phong cách học để bình giá ngôn ngữ văn chương, mà quên rằng, cần thiết hơn là phải xem xuất phát từ quan niệm nào mà nhà văn sử dụng chi tiết, tình tiết ấy và miêu tả bằng giọng điệu ấy. 19 Trong cuộc sống, người ta có thể phân biệt người này người kia qua giọng nói thì trong văn học, giọng điệu cũng được dùng để nhận biết từng tác giả. Đó chính bởi vì giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [28, tr.
Giọng điệu, do vậy, vừa bộc lộ chính con người tác giả, vừa là một trong những thước đo tài năng của tác giả ấy. Giọng điệu của tác phẩm rõ ràng được định hình bởi quan niệm nghệ thuật, tình cảm, lập trường tư tưởng của tác giả, được thể hiện qua cách dùng từ, chọn hoàn cảnh, cách đặt tên nhân vật, lời văn, ngôn từ. Nghiên cứu giọng điệu chắc chắn cần nghiên cứu các nhân tố nghệ thuật liên quan: cách chọn đề tài, chủ đề; kết cấu tác phẩm; điểm nhìn trần thuật, tình huống trần thuật, cách đặt tên nhân vật, lời văn trần thuật. Tìm hiểu giọng điệu giễu nhại trong các tác phẩm đã chọn, chúng tôi cũng sẽ cố gắng khảo sát nó qua các yếu tố trên.
Giới thuyết về giễu nhại Nhại (parody) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp paroidia, có nghĩa là “một bài hát được hát cùng lúc với bài hát khác”. Nhại theo Từ điển tiếng Việt được dùng như nhái với ý nghĩa động từ, tức là bắt chước, ví dụ như nhái điệu bộ của ai. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa nhại là “một thể văn châm biếm dùng sự bắt chước để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lưu nghệ thuật. Phương tiện chủ yếu của nhại là bắt chước phong cách.
Hai kiểu nhại chủ yếu (đôi khi tách thành những thể tài riêng) là kiểu khôi hài trong đó đối tượng thấp được trình bày bằng một phong cách cao và kiểu chế nhạo trong đó đối tượng cao được trình bày bằng một phong cách thấp. Sự chế nhạo có thể nhằm vào phong cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào những thủ pháp thi ca đã trở thành khuôn sáo, lỗi thời hoặc những hiện tượng 20 đời sống vốn dung tục không xứng với thi ca. Có thể có lối nhại một thi pháp, một tác giả, một thể loại, một thế giới quan. Trong văn học, nhại được xem là hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chước phong cách và bút pháp của một nhà văn hoặc một nhóm nhà văn đặc biệt để nhấn mạnh đến sự non yếu của nhà văn ấy hoặc những quy ước bị lạm dụng của trường phái ấy.
Nhại khác với trò hài hước (burlesque) ở độ sâu từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó vào đối tượng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác được dùng để xử lý những vấn đề được đề cao trong bút pháp tầm thường, nhại thật sự bóc trần một cách tàn nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tư tưởng của những nạn nhân của nó, nhưng nhại không thể thực hiện được nếu không có sự đánh giá thấu đáo tác phẩm mà nó chế giễu. Xét rộng hơn, trong văn học còn xuất hiện những kiểu nhại khác như nhại chính các đối tượng phản ánh của văn học. Kiểu nhại này đa dạng cả về đối tượng nhại và cấp độ nhại. Các vấn đề về thể chế chính trị, văn hóa khoa học, văn chương nghệ thuật, đạo đức lối sống, thói hư tật xấu của con người ở mọi tầng lớp, địa vị xã hội.
Mức độ của nhại có thể đi từ khái quát đến chi tiết tùy theo mục đích của chủ thể sử dụng nhại. Đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở nhại là sự mô phỏng, dựa theo, bắt chước đối tượng nhại hoặc một đặc điểm nào đó của đối tượng nhại để làm bật lên cái đáng cười, đáng phê phán, chế giễu. Nhại gắn với bắt chước, mô phỏng âm thanh của đối tượng nhại (một bài hát, điệu hát) nhưng nhại còn gắn với bắt chước, mô phỏng dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, phong cách của đối tượng nếu đối tượng ấy là con người. Giễu mang sắc thái gần gũi với nhại.