mở đầu cho nền báo chí Việt Nam là tờ Gia Định báo ra mắt ngày 14 tháng 5 năm 1865 tại Sài Gòn. Năm 1893, Đại Nam đồng văn nhật báo ra đời, là tờ báo đầu tiên bằng chữ Hán. Năm 1913, tờ Đông Dương tạp chí do Scheneider làm chủ nhiệm, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, là tờ báo đầu tiên hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ. Ngày 13/7/1917, chánh mật thám Đông Dƣơng Louis Marty đứng tên sáng lập và cho xuất bản số đầu tiên Nam phong tạp chí do Phạm Quỳnh làm chủ bút.
Bắt đầu từ năm 1920, ở Hà Nội đã thực sự có những tờ báo quốc ngữ do ngƣời Việt chủ trƣơng. Nhƣ vậy là chỉ trong vòng mƣời năm, báo chí Việt bằng chữ quốc ngữ đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc. Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí thời kì này đã góp phần làm thay đổi một cách toàn diện văn hóa tinh thần của xã hội. Đặc biệt, có thể nói, báo chí chính là môi trƣờng 16 hoạt động chính, là bệ đỡ cho văn học viết bằng chữ quốc ngữ thời kì đầu.
Những tờ báo nhƣ Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy,… là nơi đăng tải, cập nhật những tác phẩm văn học mới nhất, là diễn đàn của nhiều tranh luận học thuật và tƣ tƣởng quyết liệt nhất, là nơi phát hiện và nuôi dƣỡng các tài năng văn chƣơng ngay từ những buổi đầu chập chững trên văn đàn. Chính báo chí với những lợi thế đặc thù của mình đã giúp cho văn chƣơng có khả năng chuyển tải và tác động một cách nhanh nhạy, mạnh mẽ, sâu sắc đến cộng đồng ngƣời đọc để tạo nên những cuộc cách mạng chƣa từng có trong lịch sử dân tộc trên phƣơng diện văn hóa tƣ tƣởng. Thơ mới đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Hiện đại hóa văn học là một thuật ngữ có nội hàm phức tạp. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi có sự đồng thuận cao với ý kiến của nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà: “Hiện đại hóa đƣợc hiểu nhƣ là quá trình gia nhập vào quỹ đạo chung của các nền văn học đã đƣợc quốc tế hóa nhƣ quá trình hội nhập vào dòng chảy của các nền văn học tiên tiến đƣơng đại trên thế giới” [9, tr.
Đối với nền văn học Việt Nam, quá trình hiện đại hóa đƣợc biểu hiện trƣớc nhất bằng việc đƣa văn học thoát khỏi sự chi phối của thi pháp văn học trung đại. Qúa trình này diễn ra trong giai đoạn đầu thế kỷ XX và đặc biệt mạnh mẽ vào thời 1932 – 1945 trên tất cả các lĩnh vực của văn học, trong đó có thơ ca và Thơ mới là một hiện tƣợng nổi bật, thu hút tinh hoa của cả một thời đại văn học. Đổi mới văn học là nhu cầu bức thiết Nhìn lại thơ Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1932 ta thấy cùng với sự suy tàn của Hán học, sự thất thế của các nho sĩ là sự bế tắc của lối thơ ngâm vịnh, thù tạc, sự trói buộc và sáo mòn của hình thức thơ Đƣờng luật. Nói về thơ ca giai đoạn này, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận định: “Bƣớc sang đầu thế kỷ XX, thơ ca công khai rơi vào tình trạng mất sức sống về nội dung 17 và nghèo nàn về hình thức” [32, tr.
Một vài nhà thơ nhƣ Tản Đà, Trần Tuấn Khải trở về cái gốc của thơ ca dân tộc, nhất là thơ ca dân gian, nhƣng không dễ tìm đƣợc lối ra. Nhà thơ Tố Hữu trả lời một bạn thơ nƣớc ngoài Mireille Gansel để nói về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX: “Ở nƣớc chúng tôi trong giai đoạn này, nhìn một cách nào đó thì thơ không tồn tại nữa, chỉ có những châm ngôn, những chữ có sẵn mƣợn ở Hán Văn” [32, tr. Thơ ca lúc này vay mƣợn nhiều điển cố, điển tích trong thơ cổ, thậm chí cả hình ảnh của thơ ca nƣớc ngoài, nhất là thơ ca Trung Quốc. Có những điều chỉ riêng có trên đất nƣớc chúng ta nhƣng trong thơ lại xuất hiện rất nhiều những hình ảnh gắn với ngƣời và cảnh Trung Hoa.
Tình trạng đó là một dấu hiệu đòi hỏi sự đổi thay. Thơ ca trung đại đã ở vào giai đoạn mạt kỳ và rộng hơn, nếp thẩm mỹ xƣa cũ của hệ tƣ tƣởng và văn hóa phong kiến đang đòi hỏi sự thay thế. Trong bối cảnh suy thoái và bế tắc ấy, nhu cầu cách tân văn học nói chung cũng nhƣ thơ ca nói riêng là một nhu cầu tự thân. Khi hình thức thơ ca truyền thống không đủ sức truyền tải cảm thức mới mẻ của con ngƣời trƣớc một cánh cửa mới đang bắt đầu mở ra, khi bản thân ngƣời sáng tác cũng đang cố hết sức để tìm đƣợc một lối thoát cho thơ ca, đổi mới lúc này là một vấn đề bức thiết và tất yếu của văn học Việt Nam.
Tuy nhiên, những nỗ lực của các nhà thơ cũ với những đại diện xuất sắc nhƣ Tản Đà, Trần Tuấn Khải vẫn không đủ để làm nên cuộc cách mạng. Mà nhu cầu cách tân thi ca xuất phát từ nguyên nhân sâu xa hơn của nhu cầu đổi mới văn học, trong đó có thơ ca, chính là sự biến đổi của đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa do cuộc xâm lƣợc của thực dân và chế độ thuộc địa đem lại. Những nhân tố mới trong đời sống xã hội nảy sinh và ngày càng phát triển. Lớp công chức, viên chức, học sinh, sinh viên hình thành một thế hệ mới của công chúng văn học.
Họ mang sức sống của tuổi trẻ, không chịu ảnh hƣởng nặng nề của lễ giáo phong kiến, đƣợc 18 tiếp thu văn hóa phƣơng Tây một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nên nếp tƣ duy và thẩm mỹ của họ cũng đổi mới. Nhà thơ Lƣu Trọng Lƣ nhận xét: “Các cụ ta ƣa những màu đỏ chót, ta lại ƣa những màu xanh nhạt. Các cụ bâng khuâng vì một tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi nhƣ đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ nhƣ đứng trƣớc một cánh đồng xanh.
Cái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân nhƣng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình giây phút, cái tình ngàn thu” [63, tr. Sự xuất hiện lớp công chúng mới ở thành thị với nhu cầu thẩm mĩ mới này đòi hỏi văn học phải thay đổi để đáp ứng. Họ cũng đồng thời là một chủ thể sáng tác mới, một cộng đồng tiếp nhận mới với hình thức phổ biến tác phẩm mới và một phƣơng pháp sáng tác mới nhƣ đã trình bày ở trên. Vai trò của Thơ mới trong tiến trình hiện đại hóa văn học Sự xuất hiện của Thơ mới nói nhƣ nhà nghiên cứu Phong Lê là một “sắp xếp của lịch sử, một định mệnh, không thể khác”.
Chỉ đến thời điểm đó mới có Thơ mới và về sau đó, Thơ mới không còn nữa khi tất cả đều đƣợc chuyển vào quỹ đạo của một nền thơ cách mạng. Nhận định này hoàn toàn có thể đƣợc chứng minh khi nhìn lại quá trình hình thành từng bƣớc xác lập vị trí của Thơ mới. Nhu cầu thẩm mĩ của lớp công chúng thành thị chƣa tìm thấy sự thỏa mãn ở thi ca đƣơng thời đòi hỏi thơ ca lúc này phải làm một cuộc cách mạng. Ngay những nhà thơ giao thời của hai thế kỉ nhƣ Tản Đà cũng đã ý thức đƣợc nhu cầu cách tân.
Có thể nói, những tìm tòi, vƣợt thoát khỏi hình thức thơ cũ đã có trƣớc khi Thơ mới xuất hiện. Một số bài từ khúc của Tản Đà nhƣ: Hoa rụng, Cảm thu, Tiễn thu… đã “phảng phất chút bâng khuâng, chút phóng túng của thời sau” (Hoài Thanh). Bài dịch Con ve sầu và con kiến từ thơ La-phông-ten của Nguyễn Văn Vĩnh cũng là một thử nghiệm về hình thức thơ mới. Nhƣng phải đến khi Phan Khôi đƣa ra Một lối Thơ mới trình chánh 19 giữa làng thơ đăng trên Phụ nữ tân văn số 122 ra ngày 10-3-1932, nhu cầu làm một cuộc cách mạng về thi ca của công chúng yêu thơ mới thực sự đƣợc đánh thức.
Trong bài viết này, sau khi công kích và kết án thơ cũ một cách nặng nề, Phan Khôi đã đề xuất một lối thơ mà ông đặt tên là Thơ mới: “Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bị bó buộc bởi một niêm luật gì hết” và ông minh họa cho ý tƣởng mới mẻ của mình bằng bài thơ Tình già. Ngƣời ta thƣờng coi Tình già của Phan Khôi nhƣ là sự mở đầu của Thơ mới bởi ở đó nói đến một kiểu tình yêu ngoài tình vợ chồng mà là “nhân ngãi” (tức ngƣời tình) – đó là điều cấm kỵ đối với lễ giáo phong kiến. Mối tình chỉ là nhân ngãi đó với “hai mƣơi bốn năm xƣa” và “hai mƣơi bốn năm sau” mà đôi bạn tình gặp nhau vẫn còn nhận đƣợc ra nhau “liếc đƣa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi”… Cái mới đó, theo Hoài Thanh, khiến cho “số đông thanh niên trong nƣớc bỗng thấy mở ra một góc trời vì cái táo bạo dấu diếm của mình đã đƣợc một bậc đàn anh trong văn giới công nhiên thừa nhận”. “Tiếng súng lệnh” của Phan Khôi đã làm dấy lên một cuộc tranh luận cực kì quyết liệt trên diễn đàn văn học thời kì này: cuộc tranh luận giữa Thơ mới và thơ cũ.
Lƣu Trọng Lƣ là ngƣời đầu tiên hƣởng ứng lời kêu gọi của Phan Khôi và trực tiếp bày tỏ những lo lắng trƣớc sự bế tắc của thi ca nƣớc nhà. Thực tế là khi mới xuất hiện, Thơ mới hầu nhƣ chƣa có hình hài cụ thể. Tình già của Phan Khôi chƣa thực sự là một bài thơ xuất sắc nhƣng nó cũng đủ khuấy động văn đàn và nhận đƣợc sự ủng hộ nhiệt liệt của những trí thức thế hệ mới. Những cuộc diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm, Lƣu Trọng Lƣ, Đỗ Đình Vƣợng, Vũ Đình Liên, Trƣơng Tửu liên tiếp xuất hiện.
Trên báo chí thƣờng xuyên đăng tải những bài chỉ trích thơ cũ và bênh vực Thơ mới. Báo Phong hóa (số 4 ngày 22-9-1932), cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn kêu gọi: “Bỏ luật, niêm, đổi, bỏ điển tích, sáo ngữ, nghĩa là tóm tắt, đừng bắt chƣớc cổ nhân một cách nô lệ. Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tƣởng”.