phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương. Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh.
12 Nhân vật của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TIỂU THUYẾT CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 1. Tổng quan về sự phát triển của tiểu thuyết đƣơng đại Việt Nam sau 1975 Nghiên cứu thể loại từ lâu đã trở thành một trong những xu hướng đầy thách thức trong lí luận văn học nói chung. Bước sang thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã hoàn toàn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của nhiều thể loại mới trên tiến trình hiện đại hóa. Đặc biệt, tiểu thuyết, một loại hình tự sự có sức sống lâu bền, thường được xem là “máy cái” của nền văn học đã trở thành đối tượng nghiên cứu sâu rộng, chiếm lĩnh vị trí trọng tâm trong lĩnh vực lí luận nghệ thuật.
Ở luận văn này, người viết không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam mà chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn có tính khái quát xoay quanh lộ trình nghiên cứu tiểu thuyết đương đại Việt Nam kể từ sau năm 1975. Xét về phương diện đó, tiểu thuyết chia thành hai giai đoạn lớn: từ 1975 đến 1985 và từ 1986 với công cuộc Đổi mới trở về sau. Hi vọng rằng, đặt ra một cái nhìn có tính lịch đại về bước đường phát triển của thể loại này ở một thời điểm nhạy cảm: trước và sau Đổi mới, chúng tôi có thêm nhiều căn cứ xác đáng hơn để đánh giá về những đóng góp của nhà văn Trung Trung Đỉnh trong diện mạo văn xuôi Việt Nam nói chung. 13 Lê Thị Thu Thuỷ 1.
Hai giai đoạn phát triển của tiểu thuyết “Thể loại sống bằng hiện tại, nhưng luôn nhớ quá khứ của mình, khởi thủy của mình”. Bakhtin) Từ sau năm 1975, đất nước hoàn toàn độc lập, dân tộc được giải phóng và con người thoát khỏi những nghiệt ngã của hoàn cảnh, của những giới hạn nhất thời thì văn học dường như cũng bước vào một công cuộc chuyển mình đầy thách thức. Tiểu thuyết, dĩ nhiên không ngoại trừ xu thế chung của thời đại, sống cùng nhịp thở hiện đại nhưng giai đoạn đầu, thể loại này vẫn mang đậm dấn ấn của văn học chiến tranh 1945 - 1975. Vì vậy, nhìn lại chặng đường 10 năm phát triển (1975 - 1985), người ta có thể thấy rằng, tiểu thuyết Việt Nam hoàn toàn bị “đóng băng”, hay nói cách khác, nó phát triển theo quy luật “quán tính” theo những định hướng về cảm hứng đề tài, nhân vật… Ở một đất nước mà “chiến tranh” được nhắc tới như một phạm trù văn hóa như Việt Nam thì việc văn chương phản ánh về cuộc sống chiến đấu, những năm tháng gian lao anh hùng của con người là một sự thật có cơ sở từ thực tế xã hội.
Những ảnh hưởng của văn xuôi 1945 - 1975 mà cảm hứng chủ đạo là: “Văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng. Nhân vật trung tâm của nó là những con người đại diện cho giai cấp dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng” [61; 61] vẫn tiếp tục ghi dấu ấn trong các tác phẩm sau 1975. Văn học mười năm đầu sau ngày đất nước giải phóng, thực chất là sự “nối dài” của văn học kháng chiến, cái nhìn sử thi về con người, xã hội vẫn chi phối nghệ thuật tiểu thuyết. Nói như thế không có nghĩa phủ nhận sạch trơn những gì mà văn xuôi giai đoạn này mang lại.
Hai đề tài lớn của tiểu thuyết: đề tài chiến tranh cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội 14 Nhân vật của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh vẫn tiếp tục được các nhà văn đi sâu, tìm tòi, khám phá với những biểu hiện mới mẻ hơn, với chiều kích sâu rộng hơn, ở cái nhìn có tính chất bao quát, toàn cảnh. Đó là sự chiêm nghiệm của những người vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến, nhìn hiện thực cuộc sống với con mắt của người trong cuộc nên tiểu thuyết không còn vẻ “xơ cứng” (chữ dùng của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng). Tiểu thuyết Việt Nam mười năm đầu sau chiến tranh có thể kể đến các tác phẩm: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà (Nguyễn Minh Châu), Mở rừng (Lê Lựu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 1975 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Vùng trời (Hữu Mai), Dòng sông phẳng lặng (Tô Nhuận Vĩ), v.v… Có thể nói, giai đoạn 1975 - 1985 là thời kì tiền đổi mới mà sự xuất hiện của một loạt tác phẩm ít nhiều gây tiếng vang như trên đã nhen nhóm những tín hiệu tốt lành cho sự chuyển đổi ngoạn mục về tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết. Trước hết, nó đem đến một không khí văn chương sôi nổi, thoát ra khỏi cái bóng của văn học tuyên truyền cổ vũ một thời; sáng tác về đề tài chiến tranh – người lính thời hậu chiến đã thấm đẫm cái nhìn đầy thực tế của những người vừa bước ra khỏi bầu không khí bom đạn ấy.
Điều này được ghi nhận rất rõ trong báo cáo của Nguyễn Khải tại Đại hội Nhà văn lần thứ ba: “Những tác phẩm viết về chiến tranh được xuất bản vào cuối những năm 70 nói rõ những đặc điểm: các tác giả không né tránh những hi sinh, thua thiệt tạm thời. Tính gay gắt của cuộc chiến đã được miêu tả tương đối trung thực trên nhiều khía cạnh. Khuynh hướng phân tích hiện thực chiến tranh giúp các cây bút đi sâu vào những biến cố, những tình thế dồn nén để nhân vật vươn lên khẳng định bản lĩnh và hoàn thiện mình. 15 Lê Thị Thu Thuỷ Bộ tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh là một bức tranh hiện thực đến trần trụi về cuộc chiến đi qua với tất cả sự bộn bề, phức tạp của nó.
Đó là những con người kiên cường, bám trụ vùng đất thép Củ Chi, Gia Định, tiếp tục cuộc đấu tranh dằng dai quyết liệt với địch để giành lại dân, giành lại địa bàn. Được sự giúp đỡ, phối hợp của lực lượng địa phương và của những người dân yêu nước, trung đoàn bộ binh Mười sáu đã bám đất, bám dân, đập tan âm mưu, biến vùng đất ven đô này thành vùng đất trắng của địch, tạo thế bàn đạp cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng. Lấy bối cảnh từ cuộc chiến tranh Việt Nam trong những ngày tháng cam go, quyết liệt nhất, Nguyễn Trọng Oánh không dập khuôn theo công thức ca ngợi những thắng lợi vang dội một cách cũ mòn theo lối văn chương cổ động quen thuộc mà tác giả đã bình tĩnh trình bày một cơn xoáy lốc dữ dội có thất bại, có hi sinh đổ máu của nhân dân để tạo ra những hoàn cảnh điển hình, đặt nhân vật vào những biến thiên mất mát, buộc nhân vật lựa chọn cách sống: dũng cảm hay hèn nhát, kiên định hay bội ước? Bước ra khỏi cuộc chiến dữ dội vừa đi qua, tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu với những cái tên như: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người ở trong rừng ra… vẫn cho thấy hiện thực nghiêm ngặt được tác giả nhắc đến trong một cái nhìn mới. Trong Miền cháy, tác giả lấy bối cảnh là thành phố mới giải phóng, còn sót lại đầy tàn dư của nếp nghĩ cũ kĩ, là những cánh đồng, thôn ấp đầy mìn dây thép gai, lẫn trong những mảnh đạn là xương người.
Từ đó, trung tâm của câu chuyện nổi bật hình ảnh con người, những người cán bộ trong cuộc chiến tranh vào sinh ra tử cùng nhân dân, cùng đắp hầm, đào ụ, sẵn lòng hi sinh cả tính mạng, bước vào thời bình trở thành người nắm quyền lực tập thể. Họ phải làm gì để 16 Nhân vật của tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh cân bằng trở lại, họ phải xử sự ra sao để những nguy cơ trả thù cá nhân không bùng phát, trái với lương tri cách mạng giữa bộn bề hiện thực. Bản thân nhà văn Nguyễn Minh Châu là một cây bút đầy tâm huyết và có những trăn trở tìm tòi trong suốt sự nghiệp văn học của mình. Nhưng có lẽ, ý thức về lẽ sống, về con người chính là điểm sáng khơi thức những xúc cảm dạt dào trong ông, để dù viết về vấn đề người lính chiến tranh thời chiến hay hậu chiến, Nguyễn Minh Châu vẫn thấm nhuần tư tưởng về chủ nghĩa anh hùng của dân tộc sau ba mươi năm chiến tranh gian khổ; văn học phải làm gì, nên làm gì để hòa mình với nhân loại, đó mãi mãi là niềm trăn trở của cây bút có tâm, có tài này.
Thời kì 1975 - 1985 có thể là giai đoạn chưa có những bước nhảy về chất cho sự chuyển mình, bứt phá mạnh mẽ của văn học Việt Nam nhưng theo ý người viết, đây là công cuộc chuẩn bị cần thiết, có tính chất dự báo cho những đổi thay ở giai đoạn tiếp sau. Cảm hứng sử thi mặc dù vẫn còn ghi dấu mạnh mẽ trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết nhưng không đơn thuần là hình ảnh của con người lớn lao, mang nhân cách lí tưởng của thời đại như chị Sứ (Hòn đất), Mẫn (Mẫn và tôi), Hảo (Vùng trời) là chính ủy Kinh, trung đội trưởng Khuê, Lữ, Thái… - những con người “Đẹp như chân lí sinh ra” trong tiểu thuyết đồ sộ Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu. Nhân vật trong tiểu thuyết mười năm đầu sau chiến tranh là hình ảnh của những nhân cách con người xã hội chủ nghĩa đang vươn lên khẳng định mình. Ở đó, con người chịu sự chi phối, ràng buộc của nghĩa vụ Tổ quốc và bản lĩnh cá nhân.
Đó là quá trình tự nhận thức lương tri, là khát vọng ý chí mạnh mẽ, muốn trở thành con người toàn diện như Vũ trong Biển gọi, Lợi trong Cửa gió… 17 Lê Thị Thu Thuỷ Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng rất xác đáng khi chỉ rõ đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam 1975 - 1985: “Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 có xu hướng xây dựng kiểu nhân vật tích cực, nghĩa là nhân vật đó không phải là siêu nhân, nói như Nguyễn Khải, họ có tầm vóc lớn hơn chúng ta, nhưng là con người đích thực, tuy nhiên sự so sánh này không nhằm khẳng định dứt khoát tiểu thuyết sau 1975 đã thành công hơn trong việc xây dựng nhân vật.