CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm nghi lễ hiến tế Hiến tế có lẽ là một trong những nghi lễ cổ xưa nhất trên thế giới. Nghi lễ hiến tế là một chuỗi hành động tiến hành theo nguyên tắc, khuôn mẫu nhất định, tuỳ vào mục đích mà đối tượng hiến tế được lựa chọn theo những tiêu chí, đặc điểm cụ thể. Chẳng hạn, gà trống, chó và ngựa là ba con vật có chức năng dẫn dắt linh hồn nên được chọn làm vật hiến sinh cho người chết ở Đức. Trong khi đó, ở Nemi xưa kia, những ai muốn trở thành “ông vua của rừng” thì phải tự tay giết chết tư tế đang tại vị, dùng họ làm vật hiến sinh.
Vì họ có đủ sức mạnh, tư chất để trở thành vật hiến tế nên người tham gia nghi lễ nhận được lợi ích vô cùng to lớn. Đó là trở thành vị tư tế tiếp theo. Đối tượng hiến tế dù có là đồ vật, cây cối, động vật hay con người thì đều mang tính chất thiêng liêng, đem lại lợi ích cho người tiến hành nghi lễ. Vật hiến tế càng có giá trị, càng thiêng liêng thì lợi ích mà người tham gia nhận được càng lớn.
11 Nghi lễ hiến tế tồn tại trong văn hoá phương đông và phương tây với các biểu hiện, vai trò, ý nghĩa đa dạng. Ở phương đông, người ta thường tiến hành hiến tế vào lễ kỷ niệm ngày sinh của một đứa trẻ, vào việc xây dựng nhà cửa để quá trình xây cất, sinh sống diễn ra suôn sẻ, để cầu mong phước lành trong năm, để rửa tội,… Vật hiến tế thường xuất hiện trong nghi lễ là dê, gà, bò, lạc đà, cừu,… Ở Nhật Bản, truyền thuyết con dê đực hết sức phổ biến. Ý nghĩa biểu tượng dê đực ở đất nước này có nét tương đồng với nhiều quốc gia trên thế giới. Dê đực đóng vai trò là vật hiến tế, là đối tượng chịu tội thay cho con người.
Dê đực chịu tội là minh chứng cho thái độ muốn trút hết tội lỗi lên đối tượng khác. Để nghi lễ diễn ra thành công, dê đực phải hy sinh. Như vậy, dê đực đã gánh hết tất cả tội lỗi cho con người và trở nên vô cùng thiêng liêng khi là vật hiến tế. Nghi lễ hiến sinh có thể được tổ chức sau một chiến thắng nào đó, với ước muốn duy trì may mắn suốt năm.
Sau khi tiến hành xong nghi lễ, người ta thường tận dụng một phần máu, xác hay những thứ gắn liền với vật hiến tế để lưu giữ với hy vọng điềm lành sẽ đến. Những nghi lễ này không khó bắt gặp ở Trung Quốc, Ấn Độ cùng một số quốc gia lân cận. Một số sách cổ ở Ấn Độ còn lưu lại đến ngày nay cho thấy nghi lễ hiến sinh thường tổ chức định kỳ sau mỗi chiến thắng. Khi đó, người ta dùng đất ở nơi con lợn hiến sinh để dựng bàn thờ trong nhà với hy vọng sức mạnh của nó mãi tồn tại dưới lớp đất của chiếc bàn thờ.
Trong trường hợp khác, ngón tay đau do gảy đàn của con người có thể hồi phục trong tích tắc bởi lẽ “khi các ngón tay bị tê cóng, bạn chỉ cần chạy ra cánh đồng, bắt lấy một con nhện chân dài, rồi nướng con vật khốn khổ đó trên lửa và lấy tro xác của nó xoa lên các ngón tay; sau khi làm như vậy, bàn tay sẽ thanh thoát cũng như những chiếc chân con nhện.” (James George Frazer, 65) Ở phương tây, nghi lễ hiến tế có lẽ khởi điểm trước hết từ tình yêu. Đó là tình yêu của những con người trần thế hoặc tình yêu đối với thần thánh. Tình yêu trở thành động cơ để con người chấp nhận, cố gắng vượt qua đau khổ, trở thành vật hiến sinh, mang lại lợi ích cho đối tượng tham gia. Trong mọi truyền thuyết, độc giả 12 không khó nhận ra hình ảnh người con trai hoặc người con gái chấp nhận hy sinh.
Trường hợp Abraham và Issac là hình tượng nổi bật hơn cả trong các nghi lễ hiến sinh. Tuy nhiên, trong hiến tế, nếu sự tự nguyện nhún nhường gắn với lòng kiêu căng ngầm thì rất dễ dẫn đến nguy cơ tự hành hạ bản thân. Thế nên, khi Abraham đau đớn trước việc chấp nhận hiến sinh không được từ chối thì Sara không chịu nổi kích động vì nghĩ rằng con mình đã qua đời. Điểm chung giữa các nghi lễ hiến sinh là sự thanh tẩy.
Nếu khởi điểm trong nghi lễ là tình yêu bị vấy bẩn do lòng thù hận thì nghi lễ đó không có giá trị thanh tẩy nữa. Như vậy, nghi lễ hiến tế sẽ mất đi bản chất vốn có của nó. Đó là lý do vì sao mà cừu non trở thành biểu tượng trong nghi lễ hiến tế ở nhiều nơi trên thế giới. Bởi lẽ cừu non là con vật thuần khiết, trong trắng, quý giá.
“Ở Hy Lạp, sự hiến tế được xem là biểu tượng của sự chuộc tội, sự tẩy uế, sự làm nguôi giận, sự cầu phúc. Thế nên người ta dâng lên cho các vị thần linh trên trời vật hiến tế có màu sáng và các vị thần ở âm ty vật hiến sinh có màu tối. Cách dâng vật hiến tế này phù hợp với mục đích và ý nghĩa tiến trình. Màu sáng, may mắn, sự thuần khiến gắn liền với thế giới thần linh trên trời.
Ngược lại, gam màu tối, sự xúi quẩy, u ám lại gắn liền với thế giới các vị thần ở chốn âm ty. Hơn nữa, máu chảy từ cổ vật hiến sinh rưới lên bàn thờ như một sự thanh tẩy, trừ khử những thứ ô uế, xấu xa, bắt đầu lại với những điều mới mẻ, may mắn. Việc dùng máu để tẩy uế là một đặc điểm quan trọng trong nghi lễ hiến sinh ở đây bởi lẽ, người Hy Lạp cho rằng, phạm tội nhẹ thì chỉ cần dùng nước và lửa để thanh tẩy. Tuy nhiên, nếu phạm phải tội giết người, người ta chỉ có thể rửa tội bằng máu.
Khi ấy, những người dân trong làng thực hiện nghi lễ hiến sinh. Họ giết chết một loài động vật trong làng và dùng máu tưới lên kẻ phảm tội. Với những tội lỗi nặng nề, chỉ có thể dùng máu mới có thể xoá đi cho con người. Điểm chung của nghi lễ hiến tế ở phương đông và phương tây đều là chọn lọc những vật hiến tế phù hợp với mục đích.
Sau đó, tiến hành nghi lễ hiến tế vào thời điểm thích hợp để đạt được lợi ích. Lợi ích con người nhận được từ các nghi lễ hiến 13 sinh thường gắn với lợi ích cộng đồng. Khái quát theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, có thể hiểu nội dung nghi lễ hiến tế “là hành động cho một vật hoặc một người nào đó trở thành thiêng liêng, nghĩa là làm cho cái đem dâng hiến, cho dù đó là của cải riêng hoặc cuộc sống bản thân, cách biệt với người dâng hiến; đồng thời cũng cách biệt với cả nhân quần trần tục; cách biệt với chính mình để được dâng cho Thần Linh, nhằm chứng tỏ sự lệ thuộc, sự phục tùng, sự ăn năn hối lỗi hay tình yêu. Của cải khi đã hiến dâng Thần Linh như vậy trở nên không thể chuyển nhượng được nữa - vì vậy nó thường được thiêu hay huỷ đi - hoặc không được đụng đến vì đã thuộc sở hữu Thánh thần, như vậy thật là hấp dẫn và đáng sợ.” (Jean Chevalier – Alain Gheerbrant, 396) Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, nghi (儀) có nghĩa là “làm mẫu, làm phép cho người ta bắt chước”.
(Thiều Chửu, 43) Lễ (禮) mang ý nghĩa “Lễ, theo cái khuôn mẫu của người đã qua, định ra các phép tắc, từ quan, hôn, tang, tế cho đến đi đứng nói năng đều có cái phép nhất định phải như thế gọi là lễ. Hiến (獻) có nghĩa “là dâng, biếu”. Cho đến ngày nay, ở các quốc gia phương đông, mỗi khi đến những dịp trọng đại, người ta thường thực hiện nghi lễ cúng tế thần thánh, tổ tiên để ước muốn trở thành hiện thực. Người ta quan niệm bản thân sẽ có được cuộc sống giàu sang, buôn may bán đắt, vợ đẹp con ngoan, gia đình đầm ấm,.nếu cứ đều đặn dâng lễ vật cúng tế cho các thánh thần.
Theo từ điển Oxford Learner’s Dictionary, nghi lễ (ritual) được định nghĩa là “một chuỗi những hoạt động lặp đi lặp lại theo cùng một cách thức, đồng thời cũng có thể hiểu là một phần của tôn giáo”. (Nhiều tác giả, 382) Hiến tế (sacrifice) có thể hiểu là “hành động dâng tặng một điều gì đó có giá trị để đổi lấy một điều gì đó quan trọng với mục đích tốt đẹp.” hay “hành động dâng hiến một thứ gì đó có giá trị cho một vị thần” (Nhiều tác giả, 388). Như vậy, nghi lễ hiến tế là một chuỗi 14 những hành động theo một khuôn mẫu, tiến hành dâng hiến một thứ có giá trị để đạt được lợi ích tốt đẹp. Ở phương tây, người ta thường tổ chức nghi lễ hiến tế để được mùa cả năm.
Ở Đức, người ta gọi những bó lúa mì là con thỏ vì cho rằng thỏ là hoá thân của thần lúa mì. Người đàn ông trong làng giết chết “con thỏ” và cung cấp máu “con thỏ” cho mọi người uống để mùa màng năm sau trở nên tốt hơn. Giết “con thỏ” thật ra là hành động cắt nắm lúa mì và máu “con thỏ” là nước khoáng. Vật hiến sinh ở đây mang tính tượng trưng.
Đối tượng hiến tế trong trường hợp này là lúa mì và đối tượng thụ hưởng là con người. Họ giết thần linh lúa mì đồng nghĩa với việc lúa mì được đập, mang lại hiệu suất kinh tế cho dân làng. Và họ phải xem lúa mì là một vị thần – đối tượng mang tính chất thiêng liêng để nhận được nhiều lợi ích. Tác giả Catherine Bell trong Ritual Perspectives and Dimensions đã tổng kết, phân tích các lý thuyết nghi lễ từ các nhà nghiên cứu đi trước.
Ông cho rằng: “Nghi lễ không phải là một dữ liệu có những đặc điểm dễ tái lập, phân tích. Ý đồ của nghi lễ là sự xây dựng, là công cụ để xây dựng các kiểu mẫu miêu tả mang tính dân tộc […]giải thích nguồn gốc của tôn giáo dựa trên các hành vi của con người” (Catherine Bell, 21). Về chức năng xã hội, “nghi lễ là một phương tiện sắp xếp và giữ đời sống ổn định trong hệ thống, điều chỉnh sự tương tác nội tại, duy trì phong tục cộng đồng, khôi phục lại sự hài hoà sau những biến cố. Trong những nghi lễ hiến sinh đã liệt kê, mỗi nghi lễ đều mang đặc trưng văn hoá, tích cách riêng của từng dân tộc, từng quốc gia.
Mọi người trong một cộng đồng tuân thủ nghi lễ với cùng một ước mong nhận được điềm lành, cùng đoàn kết, thống nhất thực hiện nghi lễ.