Khóa luận tốt nghiệp nhìn lại ông già và biển cả dưới góc độ nghi lễ trong giải phẫu phê bình của northrop frye

Khóa luận tốt nghiệp phân tích "Ông già và biển cả" qua góc độ nghi lễ trong giải phẫu phê bình của Northrop Frye, khám phá chiều sâu văn học và ý nghĩa biểu tượng.

Chuyên ngành

Văn học phương Tây

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ TRONG KHÓA LUẬN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái niệm nghi lễ hiến tế

1.2. Giải phẫu phê bình – Northrop Frye

1.3. Ông già và biển cả - Hemingway

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHI LỄ HIẾN TẾ TRONG ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

2.1. Tính đối lập

2.2. Tính chu kỳ

2.3. Tính biểu tượng

3. CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG DẠY HỌC HIẾN TẾ TRONG ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

3.1. Từ Ông già và biển cả – nghi lễ hiến tế, suy nghĩ về dạy học phân hóa

3.2. Từ thực tế thực tập, đề xuất giáo án mẫu cho dạy học chuyên đề

3.3. Từ Ông già và biển cả – nghi lễ hiến tế suy nghĩ về đào tạo cho sinh viên ở khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢN LƯỢC DỊCH CÔNG TRÌNH GIẢI PHẪU PHÊ BÌNH

PHỤ LỤC 2: CÁC TRÍCH DẪN LIÊN QUAN ĐẾN NGHI LỄ TRONG GIẢI PHẪU PHÊ BÌNH

PHỤ LỤC 3: BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ

Tóm tắt

I. Phân tích Ông già và biển cả qua góc độ nghi lễ

Phân tích 'Ông già và biển cả' qua góc độ nghi lễ trong giải phẫu phê bình của Northrop Frye mang lại cái nhìn mới về tác phẩm văn học này. Nghi lễ được xem như một công cụ để khám phá chiều sâu tác phẩm, đặc biệt trong việc phân tích các biểu tượng và hành trình của nhân vật chính. Northrop Frye đã kế thừa và phát triển lý thuyết nghi lễ từ các nhà nghiên cứu đi trước, áp dụng vào văn học để tìm hiểu các đặc trưng và biểu hiện của nghi lễ trong tác phẩm. Ông già và biển cả của Hemingway, với cốt truyện đơn giản nhưng giàu tính biểu tượng, trở thành đối tượng lý tưởng để phân tích qua lăng kính này.

1.1. Nghi lễ trong giải phẫu phê bình

Nghi lễ trong giải phẫu phê bình của Northrop Frye không chỉ là một nghi thức cổ xưa mà còn là một phương pháp để khám phá các lớp nghĩa sâu sắc trong tác phẩm văn học. Frye cho rằng nghi lễ là nguồn gốc của huyền thoại và văn học, từ đó hình thành nên các biểu tượng và cấu trúc tác phẩm. Trong Ông già và biển cả, nghi lễ hiến tế được thể hiện qua hành trình của Santiago, người đánh cá già, trong cuộc chiến với con cá kiếm khổng lồ. Hành trình này không chỉ là một cuộc đấu tranh sinh tồn mà còn mang ý nghĩa của một nghi lễ hiến tế, nơi Santiago phải hy sinh để đạt được sự cân bằng và tái sinh.

1.2. Biểu tượng và hành trình

Biểu tượng trong Ông già và biển cả được phân tích qua góc độ nghi lễ cho thấy sự kết nối sâu sắc giữa tác phẩm và các huyền thoại cổ xưa. Con cá kiếm khổng lồ không chỉ là một sinh vật biển mà còn là biểu tượng của sự thách thức và hy sinh. Hành trình của Santiago trên biển cả cũng tượng trưng cho hành trình tâm linh, nơi ông phải đối mặt với những thử thách để tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Northrop Frye nhấn mạnh rằng các biểu tượng này không chỉ mang tính cá nhân mà còn phản ánh những giá trị văn hóa và tâm lý sâu sắc của nhân loại.

II. Đặc điểm nghi lễ hiến tế trong Ông già và biển cả

Ông già và biển cả thể hiện rõ ba đặc điểm chính của nghi lễ hiến tế: tính đối lập, tính chu kỳ và tính biểu tượng. Những đặc điểm này không chỉ làm nổi bật cấu trúc tác phẩm mà còn giúp người đọc hiểu sâu hơn về ý nghĩa của hành trình Santiago. Tính đối lập được thể hiện qua sự đối đầu giữa Santiago và con cá kiếm, trong khi tính chu kỳ phản ánh quá trình tái sinh và cân bằng trong nghi lễ. Tính biểu tượng lại làm sâu sắc thêm các lớp nghĩa của tác phẩm, liên kết nó với các huyền thoại và văn hóa cổ xưa.

2.1. Tính đối lập

Tính đối lập trong Ông già và biển cả được thể hiện qua cuộc đấu tranh giữa Santiago và con cá kiếm. Đây không chỉ là cuộc chiến sinh tồn mà còn là sự đối đầu giữa con người và thiên nhiên, giữa sự yếu đuối và sức mạnh. Northrop Frye cho rằng sự đối lập này là một phần không thể thiếu trong nghi lễ hiến tế, nơi sự hy sinh của một bên mang lại sự cân bằng và tái sinh cho bên còn lại. Qua đó, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

2.2. Tính chu kỳ

Tính chu kỳ trong Ông già và biển cả được thể hiện qua quá trình Santiago trải qua những thử thách và tìm thấy sự tái sinh. Hành trình của ông không chỉ là một chuyến đi đơn thuần mà còn là một vòng tuần hoàn của sự sống và cái chết, của sự mất mát và tái sinh. Northrop Frye nhấn mạnh rằng tính chu kỳ này là đặc trưng của nghi lễ hiến tế, nơi sự hy sinh mang lại sự cân bằng và tái tạo. Qua đó, tác phẩm không chỉ là câu chuyện về một người đánh cá mà còn là biểu tượng của hành trình tâm linh và sự tái sinh.

III. Ứng dụng nghi lễ hiến tế trong giáo dục

Việc phân tích Ông già và biển cả qua góc độ nghi lễ hiến tế không chỉ mang lại cái nhìn mới về tác phẩm mà còn có giá trị ứng dụng trong giáo dục. Nghi lễ hiến tế giúp học sinh và sinh viên hiểu sâu hơn về các biểu tượng và ý nghĩa tâm lý trong tác phẩm, từ đó phát triển khả năng tư duy phê phán và sáng tạo. Northrop Frye đã chỉ ra rằng việc áp dụng lý thuyết nghi lễ vào giảng dạy văn học có thể giúp người học khám phá các lớp nghĩa sâu sắc và liên kết tác phẩm với các giá trị văn hóa và tâm lý.

3.1. Dạy học phân hóa

Dạy học phân hóa qua góc độ nghi lễ hiến tế giúp học sinh tiếp cận Ông già và biển cả một cách sâu sắc hơn. Bằng cách phân tích các biểu tượng và hành trình của nhân vật, học sinh có thể hiểu được ý nghĩa tâm lý và văn hóa của tác phẩm. Northrop Frye nhấn mạnh rằng việc sử dụng nghi lễ như một công cụ phân tích có thể giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phê phán và sáng tạo, từ đó hình thành năng lực văn học và tư duy độc lập.

3.2. Đề xuất giáo án mẫu

Việc đề xuất giáo án mẫu dựa trên góc độ nghi lễ hiến tế giúp giáo viên có thêm công cụ để giảng dạy Ông già và biển cả. Giáo án này không chỉ tập trung vào nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà còn khai thác các biểu tượng và ý nghĩa tâm lý thông qua lăng kính nghi lễ. Northrop Frye cho rằng việc áp dụng lý thuyết nghi lễ vào giảng dạy có thể giúp học sinh hiểu sâu hơn về các giá trị văn hóa và tâm lý trong tác phẩm, từ đó phát triển năng lực văn học và tư duy sáng tạo.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm nghi lễ hiến tế Hiến tế có lẽ là một trong những nghi lễ cổ xưa nhất trên thế giới. Nghi lễ hiến tế là một chuỗi hành động tiến hành theo nguyên tắc, khuôn mẫu nhất định, tuỳ vào mục đích mà đối tượng hiến tế được lựa chọn theo những tiêu chí, đặc điểm cụ thể. Chẳng hạn, gà trống, chó và ngựa là ba con vật có chức năng dẫn dắt linh hồn nên được chọn làm vật hiến sinh cho người chết ở Đức. Trong khi đó, ở Nemi xưa kia, những ai muốn trở thành “ông vua của rừng” thì phải tự tay giết chết tư tế đang tại vị, dùng họ làm vật hiến sinh.

Vì họ có đủ sức mạnh, tư chất để trở thành vật hiến tế nên người tham gia nghi lễ nhận được lợi ích vô cùng to lớn. Đó là trở thành vị tư tế tiếp theo. Đối tượng hiến tế dù có là đồ vật, cây cối, động vật hay con người thì đều mang tính chất thiêng liêng, đem lại lợi ích cho người tiến hành nghi lễ. Vật hiến tế càng có giá trị, càng thiêng liêng thì lợi ích mà người tham gia nhận được càng lớn.

11 Nghi lễ hiến tế tồn tại trong văn hoá phương đông và phương tây với các biểu hiện, vai trò, ý nghĩa đa dạng. Ở phương đông, người ta thường tiến hành hiến tế vào lễ kỷ niệm ngày sinh của một đứa trẻ, vào việc xây dựng nhà cửa để quá trình xây cất, sinh sống diễn ra suôn sẻ, để cầu mong phước lành trong năm, để rửa tội,… Vật hiến tế thường xuất hiện trong nghi lễ là dê, gà, bò, lạc đà, cừu,… Ở Nhật Bản, truyền thuyết con dê đực hết sức phổ biến. Ý nghĩa biểu tượng dê đực ở đất nước này có nét tương đồng với nhiều quốc gia trên thế giới. Dê đực đóng vai trò là vật hiến tế, là đối tượng chịu tội thay cho con người.

Dê đực chịu tội là minh chứng cho thái độ muốn trút hết tội lỗi lên đối tượng khác. Để nghi lễ diễn ra thành công, dê đực phải hy sinh. Như vậy, dê đực đã gánh hết tất cả tội lỗi cho con người và trở nên vô cùng thiêng liêng khi là vật hiến tế. Nghi lễ hiến sinh có thể được tổ chức sau một chiến thắng nào đó, với ước muốn duy trì may mắn suốt năm.

Sau khi tiến hành xong nghi lễ, người ta thường tận dụng một phần máu, xác hay những thứ gắn liền với vật hiến tế để lưu giữ với hy vọng điềm lành sẽ đến. Những nghi lễ này không khó bắt gặp ở Trung Quốc, Ấn Độ cùng một số quốc gia lân cận. Một số sách cổ ở Ấn Độ còn lưu lại đến ngày nay cho thấy nghi lễ hiến sinh thường tổ chức định kỳ sau mỗi chiến thắng. Khi đó, người ta dùng đất ở nơi con lợn hiến sinh để dựng bàn thờ trong nhà với hy vọng sức mạnh của nó mãi tồn tại dưới lớp đất của chiếc bàn thờ.

Trong trường hợp khác, ngón tay đau do gảy đàn của con người có thể hồi phục trong tích tắc bởi lẽ “khi các ngón tay bị tê cóng, bạn chỉ cần chạy ra cánh đồng, bắt lấy một con nhện chân dài, rồi nướng con vật khốn khổ đó trên lửa và lấy tro xác của nó xoa lên các ngón tay; sau khi làm như vậy, bàn tay sẽ thanh thoát cũng như những chiếc chân con nhện.” (James George Frazer, 65) Ở phương tây, nghi lễ hiến tế có lẽ khởi điểm trước hết từ tình yêu. Đó là tình yêu của những con người trần thế hoặc tình yêu đối với thần thánh. Tình yêu trở thành động cơ để con người chấp nhận, cố gắng vượt qua đau khổ, trở thành vật hiến sinh, mang lại lợi ích cho đối tượng tham gia. Trong mọi truyền thuyết, độc giả 12 không khó nhận ra hình ảnh người con trai hoặc người con gái chấp nhận hy sinh.

Trường hợp Abraham và Issac là hình tượng nổi bật hơn cả trong các nghi lễ hiến sinh. Tuy nhiên, trong hiến tế, nếu sự tự nguyện nhún nhường gắn với lòng kiêu căng ngầm thì rất dễ dẫn đến nguy cơ tự hành hạ bản thân. Thế nên, khi Abraham đau đớn trước việc chấp nhận hiến sinh không được từ chối thì Sara không chịu nổi kích động vì nghĩ rằng con mình đã qua đời. Điểm chung giữa các nghi lễ hiến sinh là sự thanh tẩy.

Nếu khởi điểm trong nghi lễ là tình yêu bị vấy bẩn do lòng thù hận thì nghi lễ đó không có giá trị thanh tẩy nữa. Như vậy, nghi lễ hiến tế sẽ mất đi bản chất vốn có của nó. Đó là lý do vì sao mà cừu non trở thành biểu tượng trong nghi lễ hiến tế ở nhiều nơi trên thế giới. Bởi lẽ cừu non là con vật thuần khiết, trong trắng, quý giá.

“Ở Hy Lạp, sự hiến tế được xem là biểu tượng của sự chuộc tội, sự tẩy uế, sự làm nguôi giận, sự cầu phúc. Thế nên người ta dâng lên cho các vị thần linh trên trời vật hiến tế có màu sáng và các vị thần ở âm ty vật hiến sinh có màu tối. Cách dâng vật hiến tế này phù hợp với mục đích và ý nghĩa tiến trình. Màu sáng, may mắn, sự thuần khiến gắn liền với thế giới thần linh trên trời.

Ngược lại, gam màu tối, sự xúi quẩy, u ám lại gắn liền với thế giới các vị thần ở chốn âm ty. Hơn nữa, máu chảy từ cổ vật hiến sinh rưới lên bàn thờ như một sự thanh tẩy, trừ khử những thứ ô uế, xấu xa, bắt đầu lại với những điều mới mẻ, may mắn. Việc dùng máu để tẩy uế là một đặc điểm quan trọng trong nghi lễ hiến sinh ở đây bởi lẽ, người Hy Lạp cho rằng, phạm tội nhẹ thì chỉ cần dùng nước và lửa để thanh tẩy. Tuy nhiên, nếu phạm phải tội giết người, người ta chỉ có thể rửa tội bằng máu.

Khi ấy, những người dân trong làng thực hiện nghi lễ hiến sinh. Họ giết chết một loài động vật trong làng và dùng máu tưới lên kẻ phảm tội. Với những tội lỗi nặng nề, chỉ có thể dùng máu mới có thể xoá đi cho con người. Điểm chung của nghi lễ hiến tế ở phương đông và phương tây đều là chọn lọc những vật hiến tế phù hợp với mục đích.

Sau đó, tiến hành nghi lễ hiến tế vào thời điểm thích hợp để đạt được lợi ích. Lợi ích con người nhận được từ các nghi lễ hiến 13 sinh thường gắn với lợi ích cộng đồng. Khái quát theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, có thể hiểu nội dung nghi lễ hiến tế “là hành động cho một vật hoặc một người nào đó trở thành thiêng liêng, nghĩa là làm cho cái đem dâng hiến, cho dù đó là của cải riêng hoặc cuộc sống bản thân, cách biệt với người dâng hiến; đồng thời cũng cách biệt với cả nhân quần trần tục; cách biệt với chính mình để được dâng cho Thần Linh, nhằm chứng tỏ sự lệ thuộc, sự phục tùng, sự ăn năn hối lỗi hay tình yêu. Của cải khi đã hiến dâng Thần Linh như vậy trở nên không thể chuyển nhượng được nữa - vì vậy nó thường được thiêu hay huỷ đi - hoặc không được đụng đến vì đã thuộc sở hữu Thánh thần, như vậy thật là hấp dẫn và đáng sợ.” (Jean Chevalier – Alain Gheerbrant, 396) Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, nghi (儀) có nghĩa là “làm mẫu, làm phép cho người ta bắt chước”.

(Thiều Chửu, 43) Lễ (禮) mang ý nghĩa “Lễ, theo cái khuôn mẫu của người đã qua, định ra các phép tắc, từ quan, hôn, tang, tế cho đến đi đứng nói năng đều có cái phép nhất định phải như thế gọi là lễ. Hiến (獻) có nghĩa “là dâng, biếu”. Cho đến ngày nay, ở các quốc gia phương đông, mỗi khi đến những dịp trọng đại, người ta thường thực hiện nghi lễ cúng tế thần thánh, tổ tiên để ước muốn trở thành hiện thực. Người ta quan niệm bản thân sẽ có được cuộc sống giàu sang, buôn may bán đắt, vợ đẹp con ngoan, gia đình đầm ấm,.nếu cứ đều đặn dâng lễ vật cúng tế cho các thánh thần.

Theo từ điển Oxford Learner’s Dictionary, nghi lễ (ritual) được định nghĩa là “một chuỗi những hoạt động lặp đi lặp lại theo cùng một cách thức, đồng thời cũng có thể hiểu là một phần của tôn giáo”. (Nhiều tác giả, 382) Hiến tế (sacrifice) có thể hiểu là “hành động dâng tặng một điều gì đó có giá trị để đổi lấy một điều gì đó quan trọng với mục đích tốt đẹp.” hay “hành động dâng hiến một thứ gì đó có giá trị cho một vị thần” (Nhiều tác giả, 388). Như vậy, nghi lễ hiến tế là một chuỗi 14 những hành động theo một khuôn mẫu, tiến hành dâng hiến một thứ có giá trị để đạt được lợi ích tốt đẹp. Ở phương tây, người ta thường tổ chức nghi lễ hiến tế để được mùa cả năm.

Ở Đức, người ta gọi những bó lúa mì là con thỏ vì cho rằng thỏ là hoá thân của thần lúa mì. Người đàn ông trong làng giết chết “con thỏ” và cung cấp máu “con thỏ” cho mọi người uống để mùa màng năm sau trở nên tốt hơn. Giết “con thỏ” thật ra là hành động cắt nắm lúa mì và máu “con thỏ” là nước khoáng. Vật hiến sinh ở đây mang tính tượng trưng.

Đối tượng hiến tế trong trường hợp này là lúa mì và đối tượng thụ hưởng là con người. Họ giết thần linh lúa mì đồng nghĩa với việc lúa mì được đập, mang lại hiệu suất kinh tế cho dân làng. Và họ phải xem lúa mì là một vị thần – đối tượng mang tính chất thiêng liêng để nhận được nhiều lợi ích. Tác giả Catherine Bell trong Ritual Perspectives and Dimensions đã tổng kết, phân tích các lý thuyết nghi lễ từ các nhà nghiên cứu đi trước.

Ông cho rằng: “Nghi lễ không phải là một dữ liệu có những đặc điểm dễ tái lập, phân tích. Ý đồ của nghi lễ là sự xây dựng, là công cụ để xây dựng các kiểu mẫu miêu tả mang tính dân tộc […]giải thích nguồn gốc của tôn giáo dựa trên các hành vi của con người” (Catherine Bell, 21). Về chức năng xã hội, “nghi lễ là một phương tiện sắp xếp và giữ đời sống ổn định trong hệ thống, điều chỉnh sự tương tác nội tại, duy trì phong tục cộng đồng, khôi phục lại sự hài hoà sau những biến cố. Trong những nghi lễ hiến sinh đã liệt kê, mỗi nghi lễ đều mang đặc trưng văn hoá, tích cách riêng của từng dân tộc, từng quốc gia.

Mọi người trong một cộng đồng tuân thủ nghi lễ với cùng một ước mong nhận được điềm lành, cùng đoàn kết, thống nhất thực hiện nghi lễ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân tích 'Ông già và biển cả' qua góc độ nghi lễ trong giải phẫu phê bình của Northrop Frye" mang đến một góc nhìn độc đáo về tác phẩm kinh điển của Ernest Hemingway. Bằng cách áp dụng lý thuyết giải phẫu phê bình của Northrop Frye, bài viết khám phá các yếu tố nghi lễ và biểu tượng trong câu chuyện, giúp độc giả hiểu sâu hơn về cấu trúc và ý nghĩa ẩn sau tác phẩm. Đây là một tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến phê bình văn học và muốn khám phá các lớp nghĩa phức tạp trong văn chương.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp phê bình văn học, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài và Nguyễn Quỳnh từ góc nhìn phê bình sinh thái, hoặc Luận văn thạc sĩ văn xuôi của Nguyễn Trí dưới góc nhìn phê bình sinh thái. Để mở rộng kiến thức về phê bình văn học nữ quyền, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ truyện ngắn nữ Việt Nam 2000-2015 từ góc nhìn phê bình văn học nữ quyền. Mỗi bài viết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp phê bình và ứng dụng của chúng trong văn học.