CHƯƠNG 1.1 Hà Minh Đức: Từ nhà giáo đến nhà văn 1.1 Nhà giáo Nếu phải đi trở lại, tôi vẫn đi đường này — Có lẽ đây là câu trả lời chắc chan sẽ nhận được, dù có ngàn lần lặp đi lặp lại một câu hỏi với Hà Minh Đức: Nếu được lựa chọn lại nghề nghiệp của mình, liệu ông có chọn nghề giáo viên? Hà Minh Đức, sinh ngày 3/5/1935 tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Từ năm 1941 đến năm 1953 ông theo học phổ thông sau đó thi đỗ đại học. Khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1957 ông là sinh viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bước chân vào môi trường đại học với đặc thù của ngành nghề theo đuôi ông đã biến lý thuyết thành thực tế bằng việc tham gia viết bài cho các tạp chí sinh viên, tạp chí khoa học.
Sớm bắt tay vào thực tiễn sáng tác đã cho ông kinh nghiệm và nhận thực rõ hơn về định hướng công việc lâu đài. Sau khi được giữ lại trường, ông đóng vai trò là trợ giảng cho Đặng Thai Mai và nhiều thầy giáo khác, và bước đầu đi vào tìm hiểu một vấn đề tương đối khó lúc bấy giờ là lí luận văn học Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1960 Hà Minh Đức chính thức đảm nhiệm vai trò giảng viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Và từ năm 1960 đến nay ông tiếp tục công tác giảng dạy tại khoa Văn, khoa Báo chí Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Trong quá trình giảng dạy, Hà Minh Đức còn tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học lớn trong và ngoài nước. Ông là người thích kết hợp giảng dạy và nghiên cứu nên lúc nao trong bài giảng của ông cũng có những Lê Thị Thanh Thương 16 Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học tư liệu và suy nghĩ mới, sinh động đề truyền đạt cho sinh viên. Những tri thức ngoài sách vở những vốn sống thực tế sinh động trong các bài giảng luôn trở thành những bài học bổ ích, những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc đầy ý nghĩa cho bao lớp học trò, khiến những buổi học luôn trở nên thú vị. Với ông sự hứng thú trên mỗi khuôn mặt học sinh trong từng giờ học hơn hết là niềm vui, là động lực thôi thúc ông nguyện gắn bó trọn đời với cái nghề nhọc nhăn vinh quang nay, mà như có lần ai đó từng hỏi: Nếu được chọn lại một nghề khác ông chọn nghề gì, ông vẫn tự hào khăng định ý nghĩ đầu tiên: nghề day học.
Giai đoạn về sau Hà Minh Đức tham gia nhiều vào công tác quản lý: Chủ nhiệm khoa Báo chí (1990-2000), Viện trưởng Viện Văn học (6/1995 — 2/2003), Tổng biên tập Tap chí Văn học (6/1995-11/2003). Dù bận bịu với công tác quản lí, tổ chức nhưng ông vẫn nhiệt tình tham gia vào công tác giảng dạy. Ông nói: Nghề dạy gắn bó với tôi gần trọn đời rồi, không sao bỏ được. Có lẽ lòng yêu nghề đó khiến cho 52 năm qua đứng trên bục giảng, với ông bài giảng nao cũng day hào hứng, sôi nổi mặc dù có thời kì ông phải đi dạy bằng xe ôm, bằng sự đưa đón của hoc trò.
Mặc du, tudi cao nhưng Hà Minh Đức chưa bao giờ bỏ một giờ dạy nào. Mỗi bài giảng của ông luôn là sự chờ đợi của sinh viên. Bởi ở đó không có kiến thức sách vở, không có những giờ đọc chép mà là sự chia sẻ kinh nghiệm cuộc sống, văn chương của người thầy với học trò. Những thông điệp ông mang đến cho sinh viên ngoài tri thức còn là niềm tin, sự lạc quan vào cuộc sống.
Sau này trong một bài ký của minh ông có ké về câu chuyện bác xe ôm bình luận về người thầy giáo: “Các thầy quyền chức chăng có, tiền của chang nhiều. Nhưng cái quý là không ai dám gọi các thay là “thăng”. Day thầy xem, bây giờ trừ bé trên ra, con người ta có thé gọi là thằng tuốt nêu họ không ưng ý, hoặc có chuyện gi chang hay. Còn ai dam, nỡ gọi thầy là thằng” [27, tr.
Phải chăng, với ông dù nghề Lê Thị Thanh Thương 17 Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học giáo có vất vả trăm bề, cay đăng nhưng nghe câu nói ấy cũng mát lòng mát dạ và cũng như sự an ủi với chính mình về nghề đã theo đuổi. Có thé nói từ khi ra trường cho đến nay, mặc du ở nhiều vị trí công việc khác nhau nhưng với 52 năm gắn bó với công tác giảng dạy, ông đã thực sự dành trọn tâm huyết cho nghề nghiệp cao quý này. Với ông nhiệt huyết lao động chưa bao giờ nguội tắt, nó chứa sức bền của niềm đam mê và cả khát khao được cống hién cho cái nghiệp mà ông đã bén duyên. Bao khóa học với hàng nghìn sinh viên được ông giảng dạy, truyền thụ kiến thức.
Ông đã hướng dẫn hàng trăm khóa luận cử nhân, vài chục luận văn cao học, hướng dẫn thành công 15 luận án tiến sĩ. Bao thế hệ học trò của thầy Hà Minh Đức đã thành danh trong các công việc của xã hội góp phần làm rạng danh thêm cho người Thay hết mực gan gũi và thân quen ay. Những câu chuyện, những kỷ niệm về Thay vẫn được những người học trò nay cũng đã là ông, là bà ghi nhớ mãi: “Thay của chúng ta — Người Thay chí hiếu, chí tinh, đa tài và cũng rat đa cảm” [27, tr. Dù mái tóc của thầy có bạc và tóc chúng tôi không còn xanh như xưa nhưng cả Thay và chúng tôi vẫn giữ được cái trẻ trung cần có của nghề nghiệp.
Trên 45 năm đứng ở giảng đường đại học, và trên 30 tập sách đóng góp cho đời, trong đó có những cuốn sách, mà theo tôi, dù Thầy đã viết từ hơn 30 năm trước đến giờ vẫn chưa có người nào đạt tới. Những danh hiệu cao nhất của một đời nghề Thay đã đạt được cả. Vinh quang như Thay, có lẽ không mấy ai có được. Mọi vui buồn của một đời người Thầy cũng đã nếm trải” [27, tr.
65] “Thầy Hà Minh Đức còn là một mẫu hình sinh động để chúng tôi học hỏi về phép đối nhân xử thế, về khả năng dung hóa các mối quan hệ, khả năng “hài hước hóa” những chuyện “nghiêm trọng” hoặc đang sắp sửa trở thành Lê Thị Thanh Thương 18 Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học nghiêm trọng, khả năng “xì hơi” làm dịu bầu không khí quá căng thắng của những cuộc họp hành, bầu bán” [27, tr. 72] “Ông là thầy dạy ở bậc đại học của ngót trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo và Tiến sĩ khoa học ngữ văn. Ông từng xuất bản hàng chục công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học. Có thể đánh giá các công trình của ông theo những cách khác nhau nhưng phải nói rằng, ông là người duyên dáng, ý nhị, hiền lành, rất ngại làm người khác phật ý” [43] Có lẽ những tình cảm của học trò là món quà lớn nhất, món quà vô giá dành tặng những người làm nghề giáo như ông.
Trong quyển Làm thầy và duyên nợ văn chương những bài viết của học trò về thầy giáo Hà Minh Đức chân thành và mộc mac với những kỷ niệm từ xa xưa ua về. Bao nhiêu con người, qua bao nhiêu thời gian nhưng ở những thế hệ học trò hình ảnh ấy đều có những kỷ niệm, những dấu ấn riêng, rõ nét và không bị phai mờ qua năm tháng về người thầy của mình. Như một niềm đam mê không tắt, dù ở tuổi 75 ông vẫn tiếp tục tham gia công tác giảng dạy “vẫn thấy say mê như một quán tính, một tình yêu và sự giải tỏa” [27, tr. Có lẽ nghề giáo đối với Hà Minh Đức là nghiệp, nghiệp ấy có côi rễ từ tình yêu.
Song có lẽ nói theo cách của thầy đó còn là “sự giải tỏa”. Động lực dé người thay ấy tiếp tục đứng trên bục giảng chính là tình yêu nghề, là khát khao được cống hiến, được gieo tri thức và cũng mong nhận lại một niềm vui sống như thầy tâm sự “Say mê truyền giảng đối thoại trước đám đông trước tuổi trẻ ham học và yêu đời và tôi cũng đã tiếp nhận được ở các em tình yêu cuộc sống” [27, tr. Phải chăng đấy là một sự trao đổi đầy toan tính nhưng công bằng mà ông vẫn thường hom hinh nói đùa mỗi khi có người hỏi đến. Một đời dang dặc "thất thập cổ lai hy" trên bục giảng mà van không mỏi mệt, vẫn không thay giọng hay đổi điệu bất chấp mọi biến thiên thời Lê Thị Thanh Thương 19 Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học cuộc.
Khi nghĩ về thầy giáo của mình người học trò tác giả của bài viết Giáo sư Hà Minh Đức - Người của thời đang sống đã hồi ức lại những kỷ niệm đẹp đẽ: Đã bao nhiêu thế hệ sinh viên từng ngồi nghe những bài giảng ấy, họ trưởng thành trong đời sống, giống nhau và khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, tranh cãi nhau kịch liệt, có khi đến mức như cãi cọ quan niệm với nhau, nhưng tất cả, khi nhắc về Hà Minh Đức, đều một niềm trân trọng. Người ngưỡng vọng thầy ở những thành tựu. Người xót xa thầy ở những điều chưa làm được hay ở những việc làm có thé chỉ đắc dụng một thời. Nhưng ai cũng trân trọng thầy ở tình thân ái "đồng hội đồng thuyền" mà dường như thầy đã dành cho tat ca! Ai cũng thương cam thầy khi đọc câu tho bat chợt hiện trong chiều: "Khoảng trời nào cũng có cát bay, Cuộc đời nào cũng dính vào với cát".
Với những đóng góp to lớn, không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục — sự nghiệp trồng người, năm 2000 Hà Minh Đức được vinh dự đón nhận danh hiệu cao quý mà Dang và Nhà nước đã trao cho: Danh hiệu — Nhà giáo Nhân dân.2 Nhà văn Trong một lần trò chuyện với học trò Hà Minh Đức đã nói: “Tôi cũng đã gắn cuộc đời người thầy với văn chương, một nghề nhiều âu lo và thử thách. Hoạt động nghiên cứu văn học đã thực sự giúp cho việc dạy học. Gid giảng thầy phải đem lại cho các em những tri thức bổ ích, cái mới và sự hứng khởi. Tôi luôn cố gắng làm theo điều đó” [27, tr.
Có thé nói thực tế sáng tác văn chương không hề độc lập với công tác giảng dạy mà chính là đòn bây cho sự nghiệp giảng dạy của Hà Minh Đức.