CHƯƠNG 1. CƠ SỞ CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN 1. SƠ LƯỢC VỀ DIỄN NGÔN (DISCOURSE) 1. Cách hiểu về diễn ngôn Diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau.
Vì vậy, cần thiết phải phân biệt diễn ngôn với văn bản để định nghĩa một cách đúng đắn. Theo Diệp Quang Ban, hai thuật ngữ diễn ngôn và văn bản có quá trình vận động, phát triển gắn với tiến trình ngôn ngữ học như sau: - Giai đoạn đầu (còn gọi là giai đoạn ngữ pháp văn bản): văn bản được định nghĩa tách bạch với diễn ngôn. Tên gọi văn bản được dùng để chỉ chung những sự kiện nói hoặc viết có mạch lạc và liên kết. Theo đó, Halliday và Hasan đưa ra khái niệm: “Văn bản có thể là bất kì đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh… Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ hành chức… Và văn bản là một đơn vị ngữ nghĩa” [40, tr.
- Giai đoạn thứ hai: trong giai đoạn này, cùng với việc cố gắng phân biệt ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói, đã hình thành xu hướng dùng văn bản để chỉ các sự kiện nói bằng chữ viết (lời viết) đối lại diễn ngôn – chỉ sự kiện nói miệng (lời âm) chiếm ưu thế. Khi phân ngành nghiên cứu, Barthes (1970) cho rằng diễn ngôn cũng là văn bản, nhưng văn bản do ngôn ngữ học văn bản nghiên cứu, còn diễn ngôn do ngôn ngữ học diễn ngôn nghiên cứu với những nội dung nghiên cứu riêng. Trong đó, việc lí giải nghĩa của mỗi phát ngôn s1 lệ thuộc vào sự lí giải những phát ngôn trong chuỗi s1,…, s (i-1)” [Dẫn theo 7, tr. Cũng trong nỗ lực phân biệt văn bản với diễn ngôn, G.Cook (1989) đưa ra định nghĩa: “văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lí giải được ở mặt hình thức, 12 bên ngoài ngữ cảnh và diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [7, tr.
Theo đó, cùng một sự kiện nói (bằng chữ viết hoặc phát âm), nếu chỉ xét ở mặt từ ngữ trong nội tại thì là phân tích nó như một văn bản, còn xét trong quan hệ với ngữ cảnh lại là phân tích nó với tư cách diễn ngôn. Từ định nghĩa này, chúng tôi hiểu, để coi một sản phẩm ngôn ngữ là diễn ngôn hay văn bản phụ thuộc vào cách đánh giá, hệ quy chiếu của người nghiên cứu. Nếu tách khỏi ngữ cảnh thì nó là văn bản, còn nhìn nhận dưới quan hệ không tách rời ngữ cảnh thì là diễn ngôn. Quan điểm này được sử dụng nhiều trong phân tích diễn ngôn ngày nay, kể cả phân tích diễn ngôn phê bình.
Nói cách khác, trong một tài liệu ngôn ngữ, các từ ngữ dù bằng âm thanh hay bằng chữ viết, được coi như bề mặt từ ngữ của tài liệu ngôn ngữ đó, nếu không xét đến mối quan hệ với các tình huống bên ngoài thì chính là văn bản. Còn những hiện tượng thuộc về nghĩa – logic (xét trong quan hệ với tình huống bên ngoài – ngữ cảnh) và chức năng (ý định hay mục đích của người phát) có quan hệ đến tài liệu đó thì thuộc về diễn ngôn. Cùng với cách nhìn nhận đó, việc phân tích bề mặt từ ngữ với các ý nghĩa vốn có sẵn trong bề mặt ấy, kể cả ngữ cảnh bằng từ ngữ của các phương tiện ngôn ngữ có trong diễn ngôn được gọi là phân tích văn bản. Ngược lại, nếu giải thích các từ ngữ bằng mối quan hệ giữa chúng với tình huống xã hội bên ngoài văn bản, việc tìm hiểu ý định của người phát thuộc về diễn ngôn và được thực hiện như một phần trong phân tích diễn ngôn.
Cook, diễn ngôn và văn bản được phân biệt bởi sự đối lập giữa chức năng và hình thức. Trong đó, văn bản thể hiện mặt hình thức, còn diễn ngôn thể hiện tính chức năng của ngôn ngữ. Tức là, văn bản nằm trong trạng thái tách khỏi hành chức, còn diễn ngôn thì luôn vận động trong ngữ cảnh. Đặc biệt, hai tác giả cho rằng: “văn bản là sản phẩm còn diễn ngôn là một quá trình” [9, tr.48] và “các từ, các ngữ và các câu xuất hiện trong việc ghi lại thành văn bản của một diễn ngôn là bằng chứng về việc một người sản xuất (người nói/người viết) cố gắng truyền báo thông điệp của anh ta đến người nhận (người nghe/người đọc)” [Dẫn theo 7, tr.
Như vậy, xét về mặt nghiên cứu ngôn ngữ văn học nói riêng, cách nhìn này đã nhấn mạnh vào sự tình đang diễn ra, đang tồn tại trong quá trình tiếp nhận của người nhận (người đọc) dù ở bất cứ thời đại, hoàn cảnh nào. Nó coi nội dung và ý nghĩa của diễn ngôn (tác phẩm văn học) không bao giờ cố định, bất biến y chang những gì tác giả (người phát) viết ra ban đầu mà luôn vận động, biến đổi qua các thời đại, xã hội (cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng) khác nhau. Và mỗi người nhận thuộc tầng lớp, xã hội, thời đại khác sẽ có vai trò, trách nhiệm bồi đắp thêm nội dung cho diễn ngôn đó qua các thao tác phân tích diễn ngôn (nói đơn giản là đọc, suy ngẫm và rút ra các ý nghĩa cho riêng bản thân mình). Diễn ngôn (tác phẩm) luôn sống và tồn tại, nhưng để sống và tồn tại được, nó cần đi vào hành chức, tức là cần có sự đọc và biện luận của độc giả.
Cùng xu hướng với Brown & Yule, Widdowson (1984) định nghĩa: “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể, thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là Văn bản” [40, tr. Cách đánh giá này có vai trò quan trọng trong việc coi phân tích diễn ngôn là hoạt động giao tiếp giữa người nhận và người phát. 14 - Giai đoạn thứ ba: diễn ngôn được dùng và hiểu như văn bản ở giai đoạn đầu, tức là chỉ chung cả sự kiện nói bằng miệng (ngữ âm) lẫn sự kiện nói bằng chữ viết có liên kết, mạch lạc.
Có thể thấy, trải qua ba giai đoạn khác nhau trong tiến trình ngôn ngữ học, việc phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn đã dần trở nên rõ ràng. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, thuật ngữ diễn ngôn và cách hiểu về nó vẫn chưa phổ biến như văn bản. Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi dựa theo hệ thống lý thuyết của Diệp Quang Ban khi tác giả đưa ra 4 đặc trưng của diễn ngôn/văn bản về mặt thực tế như sau: - Thứ nhất - về mặt mục đích sử dụng: mục đích này có quan hệ với đề tài – chủ đề, lĩnh vực xã hội của việc sử dụng văn bản, phương tiện truyền tải văn bản (nói hay viết) và nó chi phối cách cấu tạo văn bản. Hệ quả là nó được phản ánh trong cấu trúc của văn bản.
- Thứ hai - về mặt yếu tố nội dung: diễn ngôn luôn có đề tài (hoặc chủ đề) thống nhất và thường có thể xác định được. Yếu tố này giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp tình cờ đứng ra cạnh nhau, tạo ra chuỗi bất thường về nghĩa, hoặc cái gọi là phi văn bản. - Thứ ba - về mặt cấu trúc diễn ngôn: cấu trúc là sự tổ chức các yếu tố nội dung theo các cách thức hoặc trật tự nhất định phù hợp với các quy định của phong cách chức năng hoặc với các thể loại văn chương – nghệ thuật. Cấu trúc có vai trò lớn trong việc tạo nên mạch lạc.
- Thứ tư - về mặt yếu tố mạch lạc và liên kết: mạch lạc là vấn đề cốt yếu của phân tích diễn ngôn, là yếu tố quyết định việc tạo thành một diễn ngôn hay văn bản. Trong đó, nói rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của văn bản. Liên kết chỉ là một trong những phương thức tạo mạch lạc hoặc hiện thực hóa mạch lạc. Mạch lạc có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết, 15 và trái lại, có khi dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản.
Tuy vẫn còn nhiều quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về diễn ngôn, nhưng Diệp Quang Ban thống nhất về các đặc trưng của diễn ngôn như sau: - Diễn ngôn có tổ chức về hình thức (cái biểu đạt) và tổ chức về mặt nghĩa (cái được biểu đạt) – cách nhìn của ngôn ngữ học truyền thống (chủ nghĩa cấu trúc). Hai mặt này quan hệ không thể tách rời như hai mặt của một tờ giấy. - Diễn ngôn có quan hệ chặt chẽ với tình huống vật lí và văn hóa – xã hội (cách nhìn mới của ngôn ngữ học hiện đại). - Cơ sở hình thành diễn ngôn là mạch lạc, gồm mạch lạc với chính diễn ngôn (liên kết), mạch lạc với ngữ cảnh tình huống và mạch lạc diễn ngôn.
- Diễn ngôn có thuộc tính phong cách (hay ngôn vực): tức là mỗi diễn ngôn phải thuộc vào một phong cách ngôn ngữ nào đó. Thuộc tính phong cách là cơ sở để tổ chức đúng diễn ngôn (về hình thức và nghĩa), xét trong quan hệ với các lĩnh vực hoạt động xã hội sử dụng diễn ngôn, cũng tức là làm cơ sở cho diễn ngôn phù hợp với ngữ cảnh tình huống sử dụng nó. Diễn ngôn trong ngôn vực văn chương – nghệ thuật Với việc đề cập các thể loại văn học và các hình thái thể loại, Nguyễn Hòa đã nhận ra diễn ngôn văn chương có tính nghệ thuật và dấu ấn cá nhân: “các nhà phân tích diễn ngôn thường ít khi bàn đến diễn ngôn văn chương. Loại diễn ngôn này thường là đối tượng của tu từ học.
Lí do cũng không có gì khó hiểu: diễn ngôn văn chương có đặc tính nghệ thuật mang nhiều dấu ấn của tác giả. Chằng hạn như Morohovski (xem D. Ban 1998) đã cho rằng văn 16 chương tạo nên một kiểu loại ngôn ngữ chứ không phải một phong cách” [40, tr. Halliday khi phân loại diễn ngôn theo trường diễn ngôn, không khí chung của diễn ngôn, cách thức diễn ngôn đã quan niệm rằng, tác phẩm văn chương cũng là một thứ diễn ngôn bên cạnh các diễn ngôn khác.