mở đầu của thời đại văn học sinh thái. Tác phẩm cảnh báo con người cần thay đổi thái độ sống, thay đổi quan niệm về tự nhiên. Theo bà, nguy cơ sinh thái không chỉ là nguy cơ môi trường mà còn là nguy cơ đạo đức, nguy cơ tư tưởng, nguy cơ văn hoá. Trên thế giới có những tác phẩm văn học sinh thái tiêu biểu như: Frankenstein (1918) của Marry Shelley, Walden (1854) của Henry David Thoreau Niên giám xứ cát (1949) của Aldo Leopold, Ryx và Crake (2003) của Margaret Atwood.
Văn xuôi sinh thái trong văn học Việt Nam sau 1975 Hiện nay, ở Việt Nam chưa một nhà văn nào tự định danh tác phẩm của mình là văn học sinh thái, các nhà phê bình cũng không thể chỉ ra đâu là tác phẩm văn học sinh thái trong giai đoạn này. Tuy nhiên, nhiều tác giả đã bắt đầu đề cập đến mạch ngầm sinh thái, mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên bằng việc phản ánh thực trạng biến đổi cảnh quan, ô nhiễm môi trường, sự khai thác và chiếm đoạt không gian hoang dã, ảnh hưởng của đô thị, tệ nạn xã hội, những cuộc đời tang thương, số phận bi thảm của con người trong thảm hoạ thiên tai, dịch bệnh… Tất cả được nhà văn đưa vào tác phẩm của mình như những mảnh ghép của số phận. Từ những đề tài đó, văn học đưa ra những cảnh Luan van 17 báo môi trường và xã hội. Cho nên dễ dàng nhận thấy, trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam đương đại, có một khuynh hướng văn xuôi sinh thái đang dần hình thành vừa lặng lẽ, vừa mãnh liệt và mang tính thời sự cao.
Các tác giả đã thể hiện đậm nhạt được yếu tố sinh thái trong tác phẩm của mình. Khuynh hướng này đang dần lớn mạnh và quy tụ được nhiều cây bút. Văn xuôi sinh thái đã có những tác phẩm đáng ghi nhận khi viết trực diện về mối quan hệ của văn học và môi trường và đưa đến cho văn xuôi sinh thái Việt Nam nhiều vấn đề mới lạ. Có thể thấy, các tác phẩm văn xuôi sinh thái sau 1975 đã có những đặc trưng cần có của văn học sinh thái là lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái.
Trong cái nhìn so sánh lịch đại, có thể khẳng định rằng văn xuôi sinh thái Việt Nam sau 1975 đã trở thành một khuynh hướng. Và tư duy đối thoại sinh thái của văn xuôi sau 1975 với văn xuôi truyền thống khá rõ nét qua các phương diện điểm nhìn, cốt truyện, cảm hứng chủ đạo. Về điểm nhìn, có sự thay đổi trong điểm nhìn của văn xuôi sau 1975, chuyển từ “con người là trung tâm” sang “trái đất là trung tâm”. Tự nhiên trong văn xuôi sinh thái trước 1975 xuất hiện là cái cớ, cái nền cảnh cho con người xuất hiện, là phương tiện để biểu hiện tính cách, tâm hồn của con người.
Đoàn Giỏi (Đất rừng phương Nam) chọn một cậu bé thành phố lưu lạc về miền sông nước làm nhân vật chính, lấy con mắt chiêm ngưỡng, lạ lùng, tò mò của người thành phố để nhìn vẻ đẹp sông nước mênh mông, giàu có. Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam thể hiện khả năng chinh phục của tự nhiên của con người như các truyện bắt sấu, bắt rắn, lấy ong, lấy mật. Nếu như văn xuôi trước 1975 viết về tự nhiên là để nói con người, lấy con người làm trung tâm để mô tả, biểu hiện đánh giá tự nhiên thì văn xuôi sau 1975 nhìn nhận sinh thái là trung tâm. Khác với văn xuôi truyền thống, các tác phẩm văn xuôi sau 1975 không chỉ nói Luan van 18 về thế giới con người mà còn nói về muông thú có tình cảm, tính cách và số phận.
Tự nhiên có sinh mệnh độc lập, tồn tại ngoài ý thức của con người. Trong Cái nhìn khắc khoải (Nguyễn Ngọc Tư) con Vịt Cộc được xem như một người bạn để chuyện trò, tâm sự, giãi bày, an ủi với ông Già. Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận lang thang trên khắp các cánh đồng, bạn của họ là gà với vịt, chim muông, tự nhiên là nơi con người nương tựa vào để mà sống. Muông thú trở thành những người bạn thân thiết của con người chứ không đơn giản là loài vật được nhìn nhận qua con người.
Thậm chí chúng còn được sánh ngang với con người. Con chó và vụ li hôn của Dạ Ngân gây bất ngờ vì nguyên nhân người vợ viết đơn li dị là vì con chó. Giữa “chọn chó hay chọn chồng”, cô đã chọn con chó. Cán cân loài vật và con người được đặt ngang hàng nhau, thậm chí sự đối trọng có phần nghiêng về chú chó.
Các loài vật trong văn xuôi sinh thái sau 1975 có cá tính thật sự, có sự thông thái, hiểu biết, và tình cảm sâu nặng. Con Chó Bi (Đời lưu lạc - Ma Văn Kháng) chung thuỷ với ông Toản, luôn đi theo và sẵn sàng bảo vệ cho người bạn của mình. Hay con chim bìm bịp (Biển người mênh mông - Nguyễn Ngọc Tư) cũng có cảm xúc nhớ quê hương giống như con người. Không chỉ là người chia sẻ nỗi buồn cùng ông già, Bìm bịp cũng mang trong mình những tâm tư nỗi niềm riêng.
Bìm bịp nhớ về nơi mình đã sinh ra và lớn lên, mỗi lần nhớ sống nó đều cất lên tiếng kêu buồn thiu, thảm thiết. Phê bình sinh thái chỉ ra chính tư tưởng sùng thượng con người một cách thâm căn cố đế trong tư tưởng nhân loại dẫn đến sự khủng hoảng của con người thời hiện đại. Con người phải từ bỏ cái trung tâm luận là chính mình để soi vào vạn vật và nhận ra vẻ đẹp vô tư, không vụ lợi của tự nhiên, bằng cái nhìn bình đẳng, nhận ra tạo vật và một sự thật mà bấy lâu nay vì thói tự phụ, con người quên mất: tự nhiên có trước và là chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người. Về cốt truyện: Văn xuôi trước 1975 viết về tự nhiên để ca ngợi sự chinh phục của con người.
Ở đó, thiên nhiên cũng luôn được đề cao và trở thành Luan van 19 nguồn cảm hứng bất tận của văn xuôi. Sơn Nam, đã phác thảo bức tranh sinh động của đời sống miệt vườn, với những giậu mồng tơi, những rừng đước, rừng mắm, rừng tràm… Nhà văn cũng dựng lại nhiều hình ảnh con người va chạm thiên nhiên qua những lần tìm tổ ong, bắt rùa, bẫy rắn trong Hương rừng Cà Mau, Bắt sấu rừng U Minh hạ, Biển cỏ miền Tây… Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi miêu tả những rừng tràm bạt ngàn, dải sông mênh mông, cánh đồng bát ngát, tôm cá đầy ghe, qua các địa danh sông Tiền, sông Hậu đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, đất mũi Cà Mau. Nguyễn Quang Sáng khắc hoạ thiên nhiên như bà mẹ vĩnh cữu, luôn rộng mở, che chở cho người dân thoát khỏi vòng vây kẻ thù. Vì vậy, văn xuôi trước 1975 nhìn nhận thiên nhiên vừa hoang sơ, khắc nghiệt nhưng vô cùng trù phú và hoà hợp với con người.
Thiên nhiên được nhìn nhận trong mối quan hệ tương hỗ với con người, chinh phục thiên nhiên gắn liền với cải tạo thiên nhiên. Sau 1975, văn xuôi nhìn nhận tự nhiên và con người trong sự xung đột. Vì vậy, cốt truyện của văn xuôi chủ yếu là cốt truyện về những cuộc khai thác, đi săn, sự cỗi cằn. Cốt truyện nói về việc khai thác tự nhiên: Trong văn xuôi trước 1975, các tác phẩm miêu tả tả khai thác thiên nhiên trong sự hoà hợp.
Ví dụ trong các sáng tác của các tác giả Nam Bộ như Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, … người dân Nam Bộ vận dụng điểm mạnh yếu của dòng nước vào lao động sản xuất. Họ chủ động hơn trong công việc của mình. Tùy theo trạng thái của dòng nước, con người có thể lựa chọn công việc thích hợp, giảm bớt sức lao động của con người, hay tiến hành công việc thuận lợi. Chẳng hạn nước lớn thì giăng câu, câu cắm, còn nước ròng thì đào ao, vét bùn, … hoặc theo chế độ dòng chảy hoặc theo chế độ dòng chảy mà cho thuyền xuôi ngược giảm sức chèo chống.
Dựa vào chế độ bán nhật triều, người Việt ở Nam Bộ xác định thời điểm con nước để tận dụng khoảng thời gian quan trọng ấy vào các hoạt động của mình. Tận dụng chu kỳ con nước hàng ngày (ví như nước lớn, nước ròng) để đi lại bằng ghe xuồng là vấn đề thiết yếu của cư dân nơi đây. Luan van 20 Tận dụng chu kỳ con nước hàng tháng (ví như nước rong, nước kém) để đi lại, giăng câu, chài lưới, đăng đó, đánh bắt thủy sản. Trúng con nước là trúng mánh và đặc biệt, tận dụng chu kỳ con nước hàng năm - nước nổi để khai thác các sản vật đặc biệt từ cây (bông súng, rau dừa, điên điển,.) đến con (cá linh, cá sặc, chuột đồng, hến,…) mà quan trọng nhất là đánh bắt thủy hải sản với năng suất cao, quy mô lớn, thời gian kéo dài nhất trong năm.
Chính vì vậy mà mùa nước nổi được người dân miền Tây Nam Bộ vô cùng mong đợi và cũng nhờ vậy mà cuộc sống con người thịnh vượng hơn. Không chỉ nổi bật với hệ thống kênh, rạch chằng chịt, vùng đất Nam Bộ này còn nổi tiếng với những đặc sản miệt vườn hấp dẫn, khẳng định nền văn hóa miền Nam tổ quốc. Văn xuôi sau 1975 đề cấp đến việc khai thác tự nhiên một cách tận diệt, chống lại bản mệnh vốn có của tự nhiên. Trần Duy Phiên viết Trăm năm còn lại với nội dung con người ỷ vào sức mạnh khoa học để tàn phá tự nhiên một cách bạo tàn.
Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên là mối thâm thù dai dẳng. Hoàng Phủ Ngọc Tường đánh giá tiểu thuyết này của Duy Phiên là “cuốn tiểu thuyết dữ dội nhất của văn học Việt Nam dẫn dắt chúng ta vào tận thế giới bên trong chứa đầy sức bạo liệt của Rừng”. Dòng sông Dakbla luôn bị thách thức bởi ông già “Tao sẽ lấp”, “Tao sẽ lấp cho bằng được”, “Tao phải lấp”, “mẹ cha nó, tao lấp”. Tham vọng muốn tự nhiên phục tùng chính là đầu mối của những tai họa.
Bên cạnh Trần Duy Phiên, các tác giả khác cũng lên án mạnh mẽ sự khai thác tận diệt thiên nhiên của con người. Thung Mơ của Hà Nguyên Quyến kể về lòng tham của con người, muốn khai thác những đặc sản của tự nhiên. Gỗ ra, tiền vào, rừng teo tóp, gỗ càng khan hiếm.