Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khủng hoảng môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu trong những thập niên cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã đặt nhân loại trước những thách thức sinh tồn cấp bách. Trước thực tế đó, lý thuyết phê bình sinh thái (ecocriticism) hình thành như một khuynh hướng nghiên cứu liên ngành, sử dụng lăng kính văn học để tái thẩm định văn hóa nhân loại và khảo nghiệm ứng xử của con người với tự nhiên.
Trong tiến trình đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1975, nhà văn Nguyễn Minh Châu được đánh giá là "người mở đường tinh anh và tài năng nhất". Không chỉ nhạy bén chuyển hướng ngòi bút từ "cuộc chiến đấu giành quyền sống của cả dân tộc" sang "cuộc chiến đấu giành quyền sống của từng con người", Nguyễn Minh Châu còn sớm thể hiện dự cảm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và môi trường sống. Đúng như quan niệm nghệ thuật của ông: "Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối mặt với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống". Khóa luận tập trung nghiên cứu mảng truyện ngắn của ông sau năm 1975 nhằm làm rõ hệ thống cảm quan sinh thái và phương thức thể hiện nghệ thuật tương ứng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Tìm ra hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu từ góc nhìn phê bình sinh thái; phản ánh thực trạng môi trường và gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về ý thức, thái độ của con người đối với tự nhiên.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phê bình sinh thái và tiến trình văn nghiệp của Nguyễn Minh Châu.
- Phân tích cảm quan sinh thái trên hai bình diện: sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong truyện ngắn sau 1975.
- Khảo sát các phương thức nghệ thuật biểu hiện tinh thần sinh thái (nhan đề, tình huống truyện, tổ chức cốt truyện luận đề).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau năm 1975 nhìn từ lý thuyết phê bình sinh thái.
- Phạm vi tư liệu: Khảo sát các truyện ngắn tiêu biểu mang cảm quan sinh thái in trong cuốn Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Văn học, 2006), tiêu biểu gồm Bến quê, Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và mốc lịch sử phát triển của phê bình sinh thái thế giới:
- Khái niệm sinh thái học: Bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Hy Lạp "oikos" (nhà ở, nơi cư trú của muôn loài và con người).
- Khái niệm phê bình sinh thái (ecocriticism): Thuật ngữ do William Rueckert sử dụng lần đầu tiên năm 1978 trong công trình Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism. Thuật ngữ này đồng nghĩa hoặc liên hệ mật thiết với các tên gọi như "phê bình văn hóa xanh" (green cultural studies), "thi pháp sinh thái" (ecopoetics), "phê bình văn học môi trường" (environmental literary criticism).
- Lịch sử hình thành: Cột mốc thành lập Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường (ASLE) tại Đại học Nevada năm 1992; chuyên luận của Karl Kroeber năm 1994; tuyển tập lý luận The Ecocriticism Reader (1996) do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên xác lập định nghĩa: nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên theo hướng lấy Trái Đất làm trung tâm (earth-centered approach); lý thuyết tiếp cận văn hóa môi trường của Greg Garrard; triết lý Sinh thái học bề sâu (deep ecology) và lý thuyết sinh thái tinh thần của các nhà nghiên cứu Lỗ Khu Nguyên, Vương Nhạc Xuyên.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
| Tên phương pháp | Nội dung và mục đích áp dụng trong khóa luận |
|---|---|
| Phương pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm | Đặt văn bản truyện ngắn vào tiến trình sáng tác, tiểu sử và tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu giai đoạn hậu chiến. |
| Phương pháp phân tích - tổng hợp | Mổ xẻ chi tiết không gian nghệ thuật, diễn biến tâm lý nhân vật và tổng hợp các luận điểm về cảm quan sinh thái tự nhiên, sinh thái tinh thần. |
| Phương pháp so sánh - đối chiếu | Đối chiếu cảm quan nghệ thuật trước và sau 1975 của tác giả; liên hệ với các cây bút đương đại cùng phản ánh đề tài tự nhiên như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư. |
| Phương pháp nghiên cứu liên ngành | Kết hợp thi pháp học văn học với sinh thái học, xã hội học đô thị và đạo đức học môi trường để diễn giải văn bản. |
Nguồn dữ liệu chính là văn bản tác phẩm trong Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn (NXB Văn học, 2006) kết hợp tài liệu phê bình chuyên ngành của các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Bùi Việt Thắng, Phạm Vĩnh Cư, TS. Phạm Ngọc Lan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về phê bình sinh thái
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết nền tảng và phác thảo hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu:
- Giới thuyết chung về phê bình sinh thái:
- Nguồn gốc và bản chất: Phê bình sinh thái chuyển dịch từ khoa học sinh học thuần túy sang khoa học xã hội nhân văn, lấy sinh thái làm trung tâm nhằm thay đổi lối tư duy duy nhân loại (anthropocentrism).
- Trách nhiệm của văn học: Văn học tham gia vào thiết chế văn hóa kiến tạo lăng kính nhìn nhận tự nhiên; phê phán thái độ ngạo mạn của con người, hướng đến một chủ nghĩa nhân văn mới nơi con người biết lắng nghe tiếng nói của tự nhiên.
- Tác giả Nguyễn Minh Châu:
- Tiểu sử: Nguyễn Minh Châu (1930–1989), quê tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tốt nghiệp Kỹ nghệ Huế (1945), học trường Huỳnh Thúc Kháng (1950), phục vụ trong quân đội từ các ban tham mưu chiến đấu đến Phòng Văn nghệ Quân đội và Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Mất ngày 23/01/1989 tại Viện Quân y 108; được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2000.
- Sự nghiệp văn học:
- Trước 1975: Sáng tác đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn anh hùng (Cửa tùng, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng), phản ánh hiện thực chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.
- Sau 1975: Chuyển hướng khám phá số phận cá nhân và hiện thực thế sự đời thường. Tác giả tự đổi mới nghệ thuật, đi sâu vào thế giới nội tâm, phê phán cái xấu, cái ác và những ngộ nhận đạo đức nhằm hoàn thiện nhân cách con người.
Chương 2: Cảm quan phê bình sinh thái trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
Chương này đi sâu phân tích hai bình diện cảm quan sinh thái trong các tác phẩm tiêu biểu:
- Cảm quan sinh thái tự nhiên:
- Không gian thôn dã đang bị lãng quên (Bến quê): Không gian làng quê, bến sông gắn liền với ký ức tuổi thơ và nguồn cội. Nhân vật Nhĩ sau một đời bôn tẩu khắp năm châu, những ngày cuối đời nằm liệt bên cửa sổ mới nhận ra vẻ đẹp quyến rũ, trù phú của bãi bồi bên kia sông Hồng ("màu vàng thau xen với màu xanh non"). Bến quê tượng trưng cho sự bao dung của tự nhiên, đồng thời đặt ra nỗi xót xa trước sự lãng quên các giá trị bình dị, gần gũi của con người hiện đại.
- Môi trường phố thị trước những nguy cơ (Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra):
- Trong Sống mãi với cây xanh, tác giả miêu tả cảnh triệt hạ cây sấu cổ thụ như một "cuộc hành hình", lột vỏ cây "như lột da một con bò ở lò sát sinh". Sự đối lập giữa bác Thông (người bầu bạn với cây) và đám đông hăm hở chặt cây làm củi phơi bày mặt trái của đô thị hóa cơ học và sự tha hóa đạo đức.
- Trong Khách ở quê ra, không gian hoang sơ, khắc nghiệt gắn với chân dung lão Khúng đối lập với sức hút đô thị ngột ngạt nhưng đầy cám dỗ, phản ánh sự va đập giữa lối sống tự nhiên truyền thống và xu thế công nghiệp hóa.
- Môi trường biển đang bị suy thoái (Chiếc thuyền ngoài xa): Bức tranh tuyệt mỹ về chiếc thuyền thu lưới trong sương sớm như "bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ" che giấu thực tế khắc nghiệt: những ngày biển động cả nhà ăn cây xương rồng luộc chấm muối và nạn bạo lực gia đình tàn bạo. Tác phẩm cảnh báo lối khai thác tự nhiên mang tính bóc lột một chiều và thức tỉnh nhận thức về tính toàn vẹn của sinh thái biển.
- Cảm quan sinh thái tinh thần:
- Thức tỉnh ý thức giữ gìn vẻ đẹp bình dị, thân thuộc nơi thôn quê: Qua chi tiết Nhĩ nhờ con trai (Tuấn) sang sông nhưng cậu bé bị cuốn vào bàn cờ thế ven đường, tác giả cảnh báo những cám dỗ vòng vèo trên đường đời khiến con người bỏ lỡ các giá trị cội nguồn bền vững.
- Thức tỉnh ý thức bảo vệ thiên nhiên trong quá trình đô thị hóa: Dưới lăng kính sinh thái học bề sâu, tác giả chỉ ra sự nông cạn của "tầng văn hóa con người" khi đào hố chặt cây sấu, phê phán tư tưởng tự phong cho mình quyền thống trị giới tự nhiên.
- Thức tỉnh ý thức bảo vệ sự toàn mỹ của sinh thái biển: Yêu cầu người nghệ sĩ và xã hội phải từ bỏ cái nhìn lãng mạn một chiều; bảo vệ môi trường tự nhiên gắn liền với bảo vệ điều kiện sinh tồn và phẩm giá của con người lao động.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tinh thần phê bình sinh thái trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
Chương 3 khảo sát các phương diện thi pháp mang đặc trưng sinh thái:
-
Nhan đề mang ý nghĩa sinh thái: Nhan đề các truyện ngắn gắn chặt với các hình ảnh và không gian tự nhiên (Bến quê, Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra), vừa xác lập không gian địa lý - sinh thái, vừa gợi mở luận đề tư tưởng về sự gắn bó hữu cơ giữa con người và hoàn cảnh tự nhiên.
-
Tình huống truyện mang tinh thần sinh thái:
- Tình huống nghịch lý trong Bến quê: Người từng đi khắp địa cầu lại bị trói buộc bên giường bệnh cạnh cửa sổ, khao khát đặt chân lên bãi bồi quen thuộc đối diện nhưng bất lực; hành động khoát tay cuối cùng mang ý nghĩa thức tỉnh con người thoát khỏi sự chùng chình để hướng về giá trị đích thực.
- Tình huống phát hiện kép trong Chiếc thuyền ngoài xa: Nhiếp ảnh gia Phùng phát hiện khoảnh khắc nghệ thuật toàn bích trên biển sớm, ngay sau đó đối diện với cảnh bạo hành gia đình tàn nhẫn bước ra từ chính con thuyền ấy, buộc người quan sát phải thay đổi nhận thức bề sâu.
- Tình huống đối lập giá trị trong Sống mãi với cây xanh: Bác Thông yêu cây bị người đời coi là "dở tính", cô độc trước đám đông thực dụng nhân danh quy hoạch đô thị.
- Cốt truyện hay phương thức tổ chức luận đề sinh thái:
- Thay thế mô hình tự sự truyện kể truyền thống bằng mô hình tự sự tiểu thuyết: mạch suy tưởng, triết lý tràn vào dòng trần thuật làm nới lỏng khung sự kiện.
- Phân hóa thành cốt truyện tâm lý (Bến quê - dồn sức nặng vào diễn biến nội tâm nhân vật) và cốt truyện nghịch lý/luận đề (Chiếc thuyền ngoài xa, Sống mãi với cây xanh), biến văn bản thành không gian đối thoại đạo đức giữa con người và tự nhiên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Đã ứng dụng lý thuyết phê bình sinh thái để phân tích có hệ thống truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau năm 1975, chứng minh tính tiên phong của nhà văn trong việc dự báo các nguy cơ sinh thái hậu chiến và đô thị hóa.
- Xác lập mối liên hệ giữa các hình tượng nghệ thuật với vấn đề môi trường:
| Tác phẩm | Không gian sinh thái | Xung đột / Luận đề sinh thái chính | Đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Bến quê | Thôn dã, bãi bồi sông Hồng | Sự lãng quên cội nguồn và vẻ đẹp tự nhiên trước những cám dỗ xa xôi | Cốt truyện tâm lý, tình huống nghịch lý nhận thức |
| Sống mãi với cây xanh | Phố thị, cây xanh cổ thụ | Xung đột giữa quy hoạch đô thị thực dụng và bảo tồn sinh thái văn hóa | Nhân cách hóa tự nhiên, tình huống đối lập giá trị |
| Khách ở quê ra | Nông thôn hoang dã vs. Đô thị | Sức ép của công nghiệp hóa đối với sinh kế và tâm lý người nông dân | Xây dựng nhân vật mang tính biểu tượng văn hóa |
| Chiếc thuyền ngoài xa | Biển đảo, làng chài | Quan hệ một chiều giữa khai thác tài nguyên biển và sinh kế nhọc nhằn | Tình huống phát hiện kép, cốt truyện luận đề |
- Đóng góp về mặt học thuật: Khóa luận góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học hiện đại Việt Nam không chỉ ở phương diện đổi mới thi pháp nhân sinh thế sự mà còn ở tầm nhìn sinh thái mang tính nhân văn sâu sắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung khảo sát phạm vi truyện ngắn trong cuốn Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn (NXB Văn học, 2006); chưa mở rộng khảo sát các thể loại khác như tiểu thuyết (Cỏ lau, Mảnh đất tình yêu), tiểu luận phê bình hay di cảo của tác giả.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu phê bình sinh thái trên toàn bộ di sản văn xuôi và tiểu luận của Nguyễn Minh Châu.
- Đặt truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong thế so sánh đối chiếu với các tác giả đổi mới cùng thời (Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư) để khái quát tiến trình vận động của cảm quan sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và Lý luận văn học.
- Hạng mục tham khảo giá trị:
- Chương 1 cung cấp tổng quan có hệ thống về lịch sử hình thành và các khái niệm cốt lõi của lý thuyết phê bình sinh thái thế giới.
- Chương 2 và Chương 3 cung cấp khung phân tích văn bản cụ thể kết hợp giữa thi pháp học và sinh thái học, có thể ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn phổ thông và đại học.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm phê bình sinh thái trong khóa luận được dẫn xuất từ những cơ sở học thuật nào?
Khóa luận dẫn nguồn từ thuật ngữ ecocriticism do William Rueckert sử dụng năm 1978, mốc thành lập ASLE năm 1992, chuyên luận của Karl Kroeber năm 1994, định nghĩa lấy Trái Đất làm trung tâm của Cheryll Glotfelty và Harold Fromm (1996), cùng các khái niệm sinh thái tinh thần của Lỗ Khu Nguyên và Vương Nhạc Xuyên. -
Hình ảnh "bãi bồi bên kia sông Hồng" trong truyện ngắn "Bến quê" mang ý nghĩa sinh thái gì?
Hình ảnh bãi bồi với "màu vàng thau xen với màu xanh non" tượng trưng cho vẻ đẹp nguyên sơ, bền vững của tự nhiên và cội nguồn làng quê; là không gian đối lập với sự bôn ba phù phiếm của đời người, thức tỉnh ý thức trân trọng những giá trị bình dị trước khi quá muộn. -
Cảnh chặt hạ cây sấu trong truyện "Sống mãi với cây xanh" được miêu tả như thế nào để thể hiện cảm quan sinh thái?
Tác giả miêu tả cây sấu bị lột vỏ đỏ hỏn như thịt một sinh thể trong lò sát sinh, vết đào quanh gốc phơi bày "tầng văn hóa" mỏng manh của con người; qua đó lên án hành vi hủy hoại tự nhiên nhân danh quy hoạch đô thị và lòng tham vật chất vụn vặt. -
Tình huống hai phát hiện trong "Chiếc thuyền ngoài xa" liên hệ như thế nào với vấn đề sinh thái và đời sống?
Phát hiện thứ nhất về vẻ đẹp toàn bích của con thuyền trong sương sớm đối lập với phát hiện thứ hai về cảnh bạo hành gia đình man rợ bước ra từ con thuyền ấy; tình huống chỉ ra rằng nghệ thuật và việc bảo vệ sinh thái không thể tách rời hiện thực mưu sinh khốc liệt của con người. -
Các dạng cốt truyện chính được khóa luận phân loại khi Nguyễn Minh Châu thể hiện luận đề sinh thái là gì?
Khóa luận xác định hai dạng cốt truyện chủ đạo: cốt truyện tâm lý (tập trung vào sự tự ý thức nội tâm của nhân vật như trong Bến quê) và cốt truyện nghịch lý/luận đề (tổ chức chuỗi sự kiện đối lập để dẫn dắt nhận thức như trong Chiếc thuyền ngoài xa và Sống mãi với cây xanh).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Hồng Hạnh đã phân tích toàn diện truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 dưới góc nhìn phê bình sinh thái. Công trình làm sáng tỏ sự kết hợp giữa cảm quan sinh thái tự nhiên, sinh thái tinh thần với nghệ thuật tổ chức nhan đề, tình huống và cốt truyện luận đề. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm nhìn dự báo và giá trị nhân văn sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Minh Châu trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.