Chương 1. Cảm hứng phê phán trong văn học Việt Nam và sáng tác của Ma Văn Kháng. Ở chương này chúng tôi tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau: 1. Những biến đổi của văn học Việt Nam sau 1975.
Sự gia tăng tỷ trọng của cảm hứng phê phán trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Hành trình sáng tạo của Ma văn Kháng. Những biểu hiện của cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết Ma văn Kháng. Trong đó chúng tôi tập trung vào 3 vấn đề chính: 2.
Phơi bày sự xuống cấp của đạo đức và văn hóa trong các quan hệ xã hội. Báo động về sự suy thoái của nhân cách con người. Cái thiện đem lại sắc thái lạc quan cho cảm hứng phê phán. Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết của Ma văn Kháng.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật. NỘI DUNG Chƣơng 1: CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG 1. Những biến đổi của văn học Việt Nam sau 1975 Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, cũng từ đây, đất nước ta lại gặp những khó khăn, thử thách mới, con người Việt Nam phải đối mặt với một hiện thực mới.
Khi những thử thách và sự khốc liệt của nó không giấu trong họng súng mà trong sự cay cực, thiếu thốn triền miên của “đời sống cơm áo” thời hậu chiến. Và lúc cơ chế “quan liêu bao cấp” được thay thế bởi “cơ chế thị trường” thì cùng với sự thay da, đổi thịt của đời sống vật chất, bộ mặt xã hội thời mở cửa cũng kịp phô ra biết bao sự xô bồ “ác hiểm”. Cuối năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI được tiến hành, đánh dấu sự đổi mới của Đảng về tư duy, nhận thức. Trước hết ở quan niệm đề cao thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, phát huy tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, chống sức ỳ và tính bảo thủ của quan niệm cũ, mở ra một bối cảnh mới cho sự sáng tạo.
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị yêu cầu: Để thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học, kỹ thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, nền văn hoá, văn nghệ nước ta phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thể hiện tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”. Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng để bước 7 z vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc. Đường lối “đổi mới” tại Đại hội VI của Đảng và tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều đó đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật. Đây là chặng đường chuyển tiếp từ nền “Văn học Cách mạng” trong chiến tranh sang nền “Văn học của thời kỳ hậu chiến”.
Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học. Trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học. Thay cho một nền văn học mang nặng tính chất minh họa, cùng cả dân tộc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống giặc ngoại xâm là một thời kì mới với một nền văn học đã có đời sống tự thân của riêng mình. Văn chương thời kỳ này đi sâu phản ánh đời sống với nhiều mảng sáng, tối khác nhau đặc biệt các vấn đề của đời sống thường ngày được đi sâu tìm tòi phản ánh.
Con người đặt trước những biến đổi của thời cuộc khi phải đối mặt với những khó khăn của đời sống hàng ngày, với những giá trị sống có phần bị đảo lộn, khi nền kinh tế thị trường với nhiều mặt trái của nó đang tác động không nhỏ tới đời sống của mối cá nhân cũng như của toàn xã hội. Những vấn đề nhức nhối của hiện thực cuộc sống chính là những mảng đề tài để tiểu thuyết khai phá. Những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao với ngòi bút của mình đã đưa tới những thành quả đầu tiên cho văn học thời kỳ này. Vào nửa cuối những năm 80 và đầu những năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ, những bức tranh hiện thực với nhiều mảng tối trước đây thường bị khuất lấp, nay đã hiện ra trên trang sách với bao điều xót xa và cả sự nhức nhối mà các tác giả muốn thức tỉnh trong mỗi người đọc cũng như toàn xã hội 8 z để có thể dứt khoát vượt qua cái “Thời xa vắng” vốn chưa xa là mấy.
Cố nhiên, cảm hứng phê phán cũng có lúc bị đẩy tới cực đoan, lệch lạc và người viết bộc lộ cái nhìn ảm đạm, hoài nghi, thiên lệch. Tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự – đời tư đã được mở ra ở nửa đầu những năm tám mươi, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khía cạnh của đạo đức cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng. Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật là những động lực tinh thần cho văn học của thời kỳ đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi. Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn học, nó vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác, đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của công chúng văn học.
Tư duy văn học mới đã dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học. Đồng thời sự đổi mới tư duy nghệ thuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn. Và những tìm tòi ấy đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức – thế sự đang tồn tại nổi cộm, đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá. Những tác phẩm ấy đã giúp thu hẹp khoảng cách giữa văn học và đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kỳ đổi mới.
Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật trong văn xuôi sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là thay đổi các yếu tố thuộc về cơ cấu của văn xuôi như bút pháp, nhân vật trung tâm, hệ vấn đề, cốt truyện, hệ đề tài, lời văn… Chẳng hạn về bút pháp văn xuôi của ta sau 1975 nhìn chung thay đổi khác so với trước. Xin dẫn 9 z ra đây ý kiến của nhà văn Bùi Hiển về vấn đề này: Theo nhận xét riêng của tôi về khuynh hướng “hiện đại hóa” trong văn xuôi hiện nay, một trong những đặc điểm bút pháp của nó là trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi vẻ say sưa, nồng nhiệt so với những sáng tác trước đây về cách mạng và kháng chiến, tạo một khoảng cách nhất định với đối tượng miêu tả, do đó bình thản hơn, trí tuệ hơn, thấm đậm hơn giọng điệu phê phán, bình giá, trên cơ sở một cái nhìn thiên về bề sâu tâm tưởng, ý nghĩa nhân sinh, tuy nhiên không vì thế mà lạnh lùng khô héo, trái lại nữa, qua giọng điệu lời văn ta vẫn thấy cái “hơi ấm nhân tình”. Đó là kết quả của tư duy tiểu thuyết, của cách tiếp cận tiểu thuyết đối với hiện thực, cũng như giọng hào hùng của văn chương một thời là kết quả của cảm hứng sử thi, tư duy sử thi. Khác với văn học giai đoạn trước, giai đoạn sau 1975, thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự phát triển mạnh mẽ và dần dần trở thành thể tài chính yếu của văn xuôi sau 1975.
Có thể kể đến các tác giả và các tác phẩm thuộc thể tài này như Nguyễn Khải với “Cha và con và…”, “Cõi nhân gian bé tí”…; Nguyễn Minh Châu với “Bức tranh”, “Bến quê”, “Khách ở quê ra”… ; Vũ Huy Anh với “Cuộc đời bên ngoài” … ; Vũ Tú Nam với “Sống với thời gian hai chiều”; Lê Lựu với “Thời xa vắng”, Dương Thu Hương với “Những bông bần li”, “Ngôi nhà trên cát”… Phát triển thể tài thế sự đời tư, văn chương có khả năng đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thế, nhất là trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh ba mươi năm bước sang đời sống hòa bình đầy phức tạp và thử thách. Con người bình thường, con người đời thường được miêu tả sâu sắc. Nhiều truyện ngắn, truyện vừa và cả tiểu thuyết đã tập trung miêu tả những con người bất hạnh với những bi kịch về cuộc đời họ. Đấy là bi kịch của một thời con người tự hy sinh cá nhân để vươn tới cái tập thể một cách giản đơn, cứng nhắc để rồi suốt đời thất bại (“Thời xa vắng”).
Đấy là cái bi kịch chấp chới giữa danh vọng và tình yêu với những tính toán thấp hèn không dám chịu 10 z trách nhiệm cuối cùng đều trở thành ảo ảnh cả (“Bên kia bờ ảo vọng”).