Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nguyễn Trãi và thơ chữ Nôm 1. Thời đại Nguyễn Trãi sống trong thời đại cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV. Đây là thời đại diễn ra sự suy thoái của hai nhà Trần, Hồ và sự phát triển đến đỉnh cao của nhà Hậu Lê.
Cuối thế kỷ XIV, giai cấp phong kiến nhà Trần bước vào giai đoạn suy yếu. Các vị vua cuối triều Trần từ Trần Nghệ Tông đến Trần Thiếu Đế đều là những vị vua bạc nhược, u mê và không có tài cầm quyền. Tất cả quyền lực triều chính đều nằm trong tay Hồ Quý Ly. Sau khi Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly đã giết vua Thuận Tông và ép vua Trần Thiếu Đế (con vua Trần Thuận Tông, cháu nội vua Trần Nghệ Tông, cháu ngoại Hồ Quý Ly) nhường ngôi cho mình.
Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, lập ra nhà Hồ, niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, nhưng ngay sau đó lại nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương và lên làm Thái Thượng Hoàng. Là vị vua đầu tiên của triều đại mới, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách các lĩnh vực hành chính, kinh tế, quân sự đồng thời dời đô từ kinh thành Thăng Long về Thanh Hóa. Trong khoảng thời gian trị vì, ông còn đem quân đánh Chiêm Thành và chiếm được nhiều châu huyện lúc bấy giờ. Thế nhưng, nhà Hồ chưa được thành lập bao lâu, giặc Minh thừa dịp tình thế xã hội nước ta có nhiều xáo trộn biến đổi làm cho lòng dân li tán, thế nước không yên đã viện cớ “phù Trần diệt Hồ” nhằm xua quân sang xâm lược.
Năm 1406, tướng Trương Phụ của nhà Minh chỉ huy mở cuộc xâm lược vào nước ta. Quân nhà Hồ tích cực chống cự nhưng nhanh chóng gặp thất bại. Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly và các triều thần nhà Hồ đều bị quân Minh bắt và đưa về Trung Quốc. Dưới ách cai trị của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt liên tiếp nổ ra ở khắp cả nước.
Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa này chỉ duy trì trong thời gian ngắn rồi lại bị quân Minh đàn áp và thất bại. 15 Năm 1416, Lê Lợi tổ chức Hội thề Lũng Nhai để tập hợp người hiền, kẻ sĩ có tài nhằm chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương. Nghĩa quân Lam Sơn thời gian đầu mới thành lập ở vùng núi Thanh Hóa luôn gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều tổn thất khi phải hứng chịu những cuộc truy quét của quân Minh và quân Ai Lao.
Quân Lam Sơn phải tiến quân ra Nghệ An xây dựng căn cứ địa, sau nhiều trận đánh với quân Minh, quân Lam Sơn đã giải phóng liên tiếp hầu hết các vùng từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa. Sau đó, Lê Lợi tiến quân ra Bắc, bao vây quân Minh tại thành Đông Quan, Vương Thông xin giảng hòa để ngầm sai người về nước xin viện binh. Cuối năm 1427, nhà Minh cử Liễu Thăng, Mộc Thạnh mang mười lăm vạn quân sang viện trợ Vương Thông nhưng mau chóng bị nghĩa quân đánh bại và tiêu diệt. Vương Thông cùng đường phải giảng hòa và được Lê Lợi “mở đường hiếu sinh” cho phép rút quân về nước.
Sau mười năm kháng chiến kiên trì gian khổ (từ năm 1417 đến năm 1427), nghĩa quân Lam Sơn đã đuổi sạch giặc Minh, đưa đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, độc lập. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, thi hành nhiều chính sách mới và đạt được nhiều thành tựu. Vương triều nhà Lê không chỉ kế thừa thành tựu của thời Lý Trần mà còn phát triển thêm hướng đi mới phù hợp với tình hình đất nước, lựa chọn “hệ tư tưởng Nho gia kết hợp với tinh thần tự cường dân tộc làm nền tảng để xây dựng một thể chế nhà nước phong kiến hiệu quả nhất trong việc nội trị cũng như ngoại giao, nhằm phát huy nội lực và đưa đất nước đi đến cường thịnh, có vị thế cao trong khu vực. Có thể nói, thế kỷ XV là giai đoạn mà chế độ phong kiến Đại Việt đạt đến sự cường thịnh, phát triển đáng tự hào của dân tộc.
Con người - cuộc đời Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Hải Dương (sau dời về Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, làm quan dưới triều nhà Hồ. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán – tôn thất nhà Trần. Nguyễn Trãi từ nhỏ đã được bồi dưỡng “truyền 16 thống yêu nước thương dân và tình cảm nhân hậu rộng mở” từ cha và ông ngoại.
Tư tưởng này theo suốt cuộc đời Nguyễn Trãi và được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm của ông. Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi sống với mẹ và ông ngoại ở dinh quan Tư đồ, sau dời về Côn Sơn. Khi mẹ và ông ngoại đều mất, ông về sống với cha ở Nhị Khê. Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh và cùng cha ra làm quan dưới triều Hồ, phụ giúp Hồ Quý Ly thi hành cải cách về kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm đưa đất nước phát triển hơn.
Năm 1407, nhà Minh cướp nước ta, Nguyễn Phi Khanh cũng nằm trong số quan lại bị giặc bắt mang sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi cùng em trai đi theo với ý định sang bên kia biên giới để chăm sóc cha trong khoảng thời gian bị cầm tù. Khi đến biên ải, nghe lời cha khuyên dạy, ông ở lại “đền nợ nước, báo thù nhà”, nhưng lại bị giặc Minh bắt giữ và giam lỏng tại thành Đông Quan. Sau đó, ông tìm cách thoát ra và đi nhiều nơi để tìm kiếm vị minh chủ phò tá diệt giặc.
Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam Sơn, Nguyễn Trãi tìm gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách. Ông theo Lê Lợi kháng chiến, giữ nhiều chức vụ quan trọng, được Lê Lợi tin tưởng cho làm quân sư và thảo những thư từ, mệnh lệnh quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Năm 1427, giặc Minh rút về nước. Năm 1428, nhà Lê được thành lập.
Nguyễn Trãi bắt đầu thực hiện lý tưởng xây dựng đất nước nhưng chưa được bao lâu thì bị nghi oan và bị bắt giam, sau đó lại được thả nhưng không được tin dùng như trước. Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, vua Lê Thái Tông lên ngôi tuổi còn non trẻ, bọn gian thần luôn đặt điều gièm pha ông với vua. Đau buồn vì thói đời cay đắng và cũng vì lý tưởng không thể tiếp tục được thực hiện, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn (năm 1437, 1438). Nguyễn Trãi là một con người có lòng “ưu dân ái quốc” sâu đậm.
Tuy về Côn Sơn sống thanh nhàn, hướng lòng về cuộc sống chân quê, nhưng càng gần gũi với nhân dân, ông càng thấm thía hơn ai hết cuộc sống cơ cực, vất vả của họ, đồng thời cảm thông, gắn bó sẻ chia với những con người cơ cực ấy. Không chỉ lo dân, ông còn hướng lòng về đất nước. Nỗi niềm canh cánh về “việc nước” luôn theo suốt 17 cuộc đời Nguyễn Trãi. Đa số các bài thơ Nôm trong thời kỳ ở ẩn của ông đều toát lên niềm ưu hoài dân nước đến “cuồn cuộn”.
Năm 1440, Lê Thái Tông sau khi đã trừ khử những thế lực bất chính, nắm lại quyền hành, chấn chỉnh triều đình đã mời Nguyễn Trãi trở ra làm quan, ông nghe lệnh vua và bắt tay thực hiện hoài bão trị nước an dân. Nhưng chưa được bao lâu thì sự biến Lệ Chi viên xảy ra, vua Lê Thái Tông mất sau khi ghé thăm ông và nghỉ đêm tại Trại Vải trên đường về kinh. Bọn gian thần vịn vào cớ đó mà kết tội ông mưu giết vua và tru di ba họ. Nỗi oan khiên thảm khốc ấy kéo dài mãi đến năm 1464 mới được Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan, truy phục tước phong và cho sưu tầm thơ văn của ông.
Cuộc đời Nguyễn Trãi dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng ở ông, nổi bật lên trên tất cả vẫn là hình ảnh của một con người “lo đời, đau đời”, suốt đời luôn trăn trở, lo âu cho “dân, nước”, mang trong mình chí hướng sắt son và một tâm hồn, một nhân cách thanh cao trong sáng: Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước nước triều Đông. (Thuật hứng, bài 5) Nguyễn Trãi không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao tài ba mà còn là nhà văn hóa tư tưởng lớn, một tác gia văn học lớn. Các sáng tác của ông cho đến nay vẫn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong nền thơ ca dân tộc. Ông để lại một số lượng lớn các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị to lớn trong nền văn học nước nhà.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi Trong suốt cuộc đời sáng tác, Nguyễn Trãi đã để lại một số lượng lớn các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm có giá trị. Riêng bộ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được giới nghiên cứu đánh giá là tác phẩm xưa nhất bằng tiếng Việt còn giữ được đến ngày nay. Tập thơ là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu ngôn ngữ và văn học dân tộc. Việc sưu tầm văn bản thơ Nôm Nguyễn Trãi cho đến nay đã dần hoàn thiện.
Từ sau vụ thảm án Lệ Chi Viên, số lượng thơ của Nguyễn Trãi bao gồm cả Quốc 18 âm thi tập cũng bị tiêu hủy và thất lạc rất nhiều. Đến năm Quang Thuận thứ tám, vua Lê Thánh Tông sau khi giải oan và khôi phục cho ông đã hạ chỉ cho Trần Khắc Kiệm sưu tầm lại những di cảo thơ văn của ông. Tiếp theo đến mấy trăm năm thăng trầm của lịch sử từ nhà Lê cho đến đầu nhà Nguyễn, bản sưu tầm thơ ông của Nguyễn Khắc Kiệm cũng bị thất lạc. Mãi đến thời vua Minh Mạng, Tự Đức, các nhà Nho như Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngô Thế Vinh cùng chung sức tìm kiếm và sưu tập, lại đem khắc ván in.
Bộ sách có tên chung là Ức trai thi tập gồm 7 quyển. Quốc âm thi tập nằm trong quyển thứ bảy. Một điều cần lưu ý là tập thơ Quốc âm thi tập sưu tầm được không phải là nguyên bản của Nguyễn Trãi mà là do người đời sau chép lại, theo bản cũ đã nát mà chép hoặc do người đọc cho mà chép, cứ như thế qua nhiều thời kỳ khác nhau được chép đi chép lại cho nên có nhiều dị bản chưa thống nhất với nhau về mặt từ ngữ.