Tổng quan luận án

Luận án Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam / Lý luận văn học, được triển khai theo hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích thi pháp, hệ thống văn bản và liên ngành văn hóa - xã hội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển của khoa học công nghệ và văn minh nhân loại đặt con người vào vị trí chi phối Trái đất, đồng thời làm phát sinh khủng hoảng sinh thái: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên nước, suy thoái rừng và dịch bệnh. Phê bình sinh thái (Ecocriticism) hình thành từ thập niên 1970 và phát triển sâu rộng từ thập niên 1990 trên thế giới nhằm thức tỉnh trách nhiệm của nhân loại trước nguy cơ sinh thái.

Tại Việt Nam, văn học sau năm 1986 ghi nhận sự xuất hiện của nhiều tác phẩm phản ánh trực diện vấn nạn môi sinh, song nghiên cứu lý thuyết phê bình sinh thái vẫn còn là mảng đề tài chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống trên thể loại tiểu thuyết. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, thúc đẩy sự quan tâm của giới nghiên cứu và sáng tác đối với mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa lý thuyết phê bình sinh thái từ các nguồn tài liệu quốc tế và quá trình tiếp nhận tại Việt Nam.
  2. Luận giải các đặc trưng thi pháp của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 dưới góc nhìn hậu/giải cấu trúc.
  3. Khảo sát và định giá hệ chuẩn tắc đạo đức sinh thái thông qua hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết đương đại.
  4. Làm rõ sự phục hưng tinh thần sinh thái thông qua quyền lực của diễn ngôn và tính liên văn bản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986 thể hiện rõ nét cảm thức sinh thái của các tác giả tiêu biểu như: Đỗ Phấn (Gần như là sống, Ruồi là ruồi, Rụng xuống ngày hư ảo), Nguyễn Khắc Phê (Thập giá giữa rừng sâu), Trần Duy Phiên (Trăm năm còn lại), Nguyễn Ngọc Tư (Sông), Đỗ Bích Thúy (Bóng của cây sồi, Chúa đất), Ma Văn Kháng (Chó Bi, đời lưu lạc), Nguyễn Thế Hùng (Họ vẫn chưa về), Đặng Thiều Quang (Săn cá thần), Bùi Ngọc Tấn (Biển và chim bói cá), Nguyễn Xuân Thủy (Nhắm mắt nhìn trời), A Sáng (Thân xác), Đỗ Tiến Thụy (Con chim joong bay từ A đến Z), Đào Thắng (Dòng sông mía), Thiên Sơn (Dòng sông chết), Mạc Can (Những bầy mèo vô sinh), Thủy Trương (Biển của vô cùng)...
  • Phạm vi không gian: Không gian phản ánh trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại đặt trong tương quan đối thoại với các lý thuyết sinh thái phương Tây và tư tưởng triết học phương Đông.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm khảo sát từ năm 1986 đến năm 2014, có mở rộng khảo cứu bổ sung các tác phẩm xuất bản trong các năm 2015, 2016 và 2017.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các bình diện: hệ sinh thái, hình tượng con người và các hình thức nghệ thuật biểu đạt cái nhìn sinh thái.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả phân chia diễn trình phát triển của phê bình sinh thái trên thế giới thành ba giai đoạn cơ bản qua các tư liệu tiếng Anh:

Giai đoạn Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung học thuật chính
Chặng 1 (1972 – 1991): Thời kỳ manh nha - J. W. Meeker (1972), The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology
- William Rueckert (1978), Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism
- Frederick O. Waage (1985), Teaching Environmental Literature: Materials, Methods, Resources
- Cheryll Glotfelty & Glen A. Love (1989)
- Robert Finch & John Elder (1990), The Norton Book of Nature Writing
- Harold Fromm (1991)
- Jonathan Bate (1991), Romantic Ecology: Wordsworth and the Environmental Tradition
- Đặt nền móng kết hợp văn học và sinh thái học.
- Khởi xướng thuật ngữ "Phê bình sinh thái" (William Rueckert, 1978).
- Phân tích sự đối lập giữa bi kịch (nhân loại trung tâm) và hài kịch (sự tiếp nối sinh tồn cộng đồng).
- Tiếp cận văn học dưới dạng thức các nghiên cứu về "lối viết tự nhiên" (nature writing).
Chặng 2 (1992 – 2004): Bùng nổ lý thuyết - Thành lập Hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường - ASLE (1992)
- Scott Slovic (1992), Seeking Awareness on America Nature Writing
- Kent C. Ryden (1993), Mapping the Invisible Landscape
- Karl Kroeber (1994), Ecological Literary Criticism
- Lawrence Buell (1995, 2001), The Environmental Imagination, Writing for an Endangered World
- Cheryll Glotfelty & Harold Fromm (1996), The Ecocriticism Reader
- Michael Bennett & David W. Teague (1999), The Nature of Cities
- Laurence Coupe (2000), The Green Studies Reader
- Greg Garrard (2004), Ecocriticism
- Kate Rigby (2002), Peter Barry (2002)
- Thể chế hóa phê bình sinh thái thành tổ chức học thuật quốc tế.
- Khảo sát ý thức nơi chốn (sense of place), mở rộng nghiên cứu sang môi trường đô thị (urban ecocriticism).
- Xuất bản giáo trình, tài liệu nhập môn xác lập hệ thống khái niệm then chốt: ô nhiễm, vùng hoang dã, nơi trú ngụ, động vật, tận thế, Trái đất.
- Phân biệt khuynh hướng phê bình sinh thái Mỹ (ca tụng tự nhiên) và Anh (nghiên cứu xanh, cảnh báo môi trường).
Chặng 3 (2005 đến nay): Hoàn thiện và mở rộng - Lawrence Buell (2005), The Future of Environmental Criticism
- Catrin Gersdorf & Sylvia Mayer (2006), Nature in Literary and Cultural Studies
- Scott Slovic (2008), Going Away to Think
- Susan Rowland (2011), The Ecocritical Psyche
- Greg Garrard (chủ biên, 2013), The Oxford Handbook of Ecocriticism
- Scott Slovic & S. Sarveswaran (2014), Ecoambiguity, Community, and Development
- Karen Thornber (2013), East Asian Ecocriticism
- Xác lập "bước chuyển môi trường" (environmental turn) trong nghiên cứu văn hóa - văn học.
- Mở rộng liên ngành với tâm lý học Jung, phân tâm học, hậu thực dân, nữ quyền luận, ký hiệu học sinh học (biosemiotics).
- Chuyển dịch nghiên cứu từ trung tâm Âu - Mỹ sang văn bản Đông Á và Nam Địa cầu; nghiên cứu khái niệm "sự mơ hồ sinh thái" (ecoambiguity).

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về tiếp nhận và dịch thuật lý thuyết: Báo cáo Ecocriticism của Karen Thornber tại Viện Văn học (3/2011); các bản dịch và bài giới thiệu của Đỗ Văn Hiểu (2012), Trần Ngọc Hiếu (2013), Trần Thị Ánh Nguyệt (2014); công trình Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên (2017) tập hợp các bài viết của Phạm Phương Chi, Đặng Thị Thái Hà, Lê Quốc Hiếu, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Trường Sinh.
  • Về lý luận và nghiên cứu tổng quan: Các bài viết của Đỗ Văn Hiểu (2012); Nguyễn Thị Tịnh Thy với Phê bình sinh thái – nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc (2013) và chuyên luận Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương – Phê bình sinh thái (2017); Phương Lựu với Cần tìm hiểu sự chuyển hướng của Phê bình sinh thái (2015) đề xuất hướng tiếp cận Chủ nghĩa Mác sinh thái; Trần Đình Sử với Phê bình sinh thái tinh thần (2016).
  • Về ứng dụng nghiên cứu văn học và liên ngành:
    • Ứng dụng thể loại: Đặng Thị Thái Hà (nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, 2014); Nguyễn Đăng Điệp (Thơ Mới, 2014); Dương Thu Hằng (thơ Tú Xương, 2015); Trịnh Thị Bích Liên (phóng sự thời kỳ Đổi mới, 2008); Lê Trà My (tản văn thế kỷ XX, 2009); Ngô Thị Thu Giang (truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, 2014); Trần Xuân Tiến (tiểu thuyết Cá hồi, 2016); Nhã Thuyên (thơ Mai Văn Phấn, 2011).
    • Ứng dụng liên ngành văn hóa - triết học: Trần Quốc Vượng (2003, tiếp cận sinh thái nhân văn qua ẩm thực, di tích, tục thờ cây); Trần Hải Yến (2014, tìm về Tam giáo); Phan Thị Yến Tuyết (2015, văn hóa cư dân Nam Bộ); Hoàng Diệu Thảo (2014, tư tưởng Hồ Chí Minh về môi trường).

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu phê bình sinh thái tại Việt Nam gia tăng, phần lớn chỉ dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ, luận văn nghiên cứu từng tác gia riêng biệt hoặc khảo sát các thể loại thơ ca, truyện ngắn, phóng sự, tản văn. Luận án là công trình chuyên khảo tập trung khảo sát toàn diện thể loại tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 đến nay dưới hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái kết hợp giác độ hậu hiện đại và giải cấu trúc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái: Vận dụng các luận điểm nền tảng của W. Meeker, W. Rueckert, L. Buell, C. Glotfelty, G. Garrard, S. Slovic, K. Thornber.
  • Lý thuyết Hậu hiện đại và Giải cấu trúc (Deconstruction): Dựa trên tư tưởng của J. Lacan, J. Derrida, M. Foucault (quyền lực diễn ngôn, cái chết của chủ thể), R. Barthes (tác giả đã chết, liên văn bản), M. Bakhtin (nguyên lý đối thoại), M. Heidegger (sinh thái học bề sâu - deep ecology). Tiếp thu định hướng "sự hòa trộn hậu cấu trúc luận" (compoststructuralism) của Christopher Cokinos và Serpil Oppermann để giải cấu trúc nhị nguyên "nhân loại / tự nhiên".
  • Hệ tư tưởng sinh thái phương Đông: Kết hợp triết lý phương Đông cổ đại gồm Kinh Veda (vạn vật đồng nhất thể), tư tưởng Đạo giáo của Lão Tử (vô vi, thuận theo tự nhiên), Phật giáo và Nho giáo (thiên nhân hợp nhất) nhằm thiết lập cơ sở đối thoại văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt các hiện tượng văn học và các yếu tố thi pháp tương đồng trong một chỉnh thể thống nhất nhằm luận giải xu hướng vận động của tiểu thuyết sau Đổi mới và xác định các sắc độ tiếp biến nghệ thuật sinh thái ở từng nhà văn.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu văn học với các lĩnh vực văn hóa học, triết học môi trường, sinh học, địa lý, dân tộc học và chính trị học để phân tích các thông điệp cảnh báo môi trường trong văn bản nghệ thuật.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu văn học Việt Nam với các khuynh hướng phê bình sinh thái thế giới (Âu – Mỹ, Đông Á); đối chiếu các tác phẩm viết về thiên nhiên truyền thống với văn học sinh thái đương đại; so sánh các văn bản cùng thời kỳ nhằm chỉ ra tính đa dạng trong tư duy nghệ thuật.
  • Phương pháp phân tích văn bản và phân tích chuyên đề: Khảo sát trực tiếp các diễn ngôn, hình tượng, cốt truyện và cấu trúc nhân vật trong các cuốn tiểu thuyết thuộc phạm vi nghiên cứu.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Các văn bản tiểu thuyết Việt Nam xuất bản từ năm 1986 đến 2014 (và bổ sung đến 2017).
  • Hệ thống chuyên luận, giáo trình, tập san học thuật quốc tế và trong nước về lý thuyết phê bình sinh thái, chủ nghĩa hậu hiện đại và giải cấu trúc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng thuật lịch sử hình thành và phát triển của lý thuyết phê bình sinh thái trên thế giới qua ba giai đoạn (1972–1991, 1992–2004, 2005 đến nay); phân tích quá trình dịch thuật, tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu văn học tại Việt Nam. Đồng thời, chương 1 khảo sát tiến trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 từ cảm hứng sử thi, ca ngợi sang cảm hứng thế sự, đời tư, từ đó chuyển dịch nhận thức và tiến dần đến văn học sinh thái khi đối diện với các khủng hoảng môi trường thực tế.

Chương 2: Một cái nhìn hậu/ giải cấu trúc về phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014

Chương 2 làm rõ đặc tính hậu/giải cấu trúc của phê bình sinh thái và triển khai phân tích ba phương diện cốt lõi trong tiểu thuyết sau 1986:

  • Phi trung tâm – dạng thức tồn tại của văn hóa hậu hiện đại:
    • Giải cấu trúc tư duy "nhân loại trung tâm" (anthropocentrism), bác bỏ các đại tự sự và trật tự đẳng cấp nhị nguyên thống trị giữa con người và tự nhiên.
    • Thể hiện sự bất định, mong manh của kiếp người khi đối diện với tự nhiên trong Săn cá thần (Đặng Thiều Quang), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Biển của vô cùng (Thủy Trương).
    • Thiết lập "tính tụ điểm" của phê bình sinh thái: dịch chuyển trung tâm sang các đối tượng yếu thế, phi nhân loại như loài vật trong Chó Bi, đời lưu lạc (Ma Văn Kháng), Ruồi là ruồi (Đỗ Phấn), sinh thể thực vật trong Thân xác (A Sáng), hoặc sinh vật biến đổi gen trong Những bầy mèo vô sinh (Mạc Can).
  • Cái chết của chủ thể - tính liên chủ thể:
    • Xóa bỏ quan niệm con người là chủ thể tự chủ tuyệt đối có quyền năng thống trị muôn loài; giải thiêng vị thế cứu thế, thần thánh. Trong Sông của Nguyễn Ngọc Tư, tự nhiên (dòng Di giang) có thể xóa sổ sự sống con người trong khoảnh khắc, con người bị đẩy vào thế cô độc và bất lực.
    • Phơi bày sự suy vong của con người do tha hóa đạo đức và tàn phá sinh thái: dịch bệnh lạ và cái chết môi trường trong Dòng sông chết (Thiên Sơn); sự hủy diệt dòng sông, làng nghề và bản án tuyệt tự trong Dòng sông mía (Đào Thắng); sự lụi tàn gia tộc trong Trăm năm còn lại (Trần Duy Phiên).
  • Tính đối thoại – phương thức kết nối với thế giới tự nhiên: Khảo sát các hình thức tương tác, trao đổi và hòa giải giữa con người và môi trường sinh thái, xem tự nhiên như một chủ thể có tiếng nói riêng.

Chương 3: Định giá chuẩn tắc đạo đức sinh thái từ hệ thống nhân vật

Chương 3 xây dựng khung định giá đạo đức sinh thái thông qua việc phân loại và phân tích ba nhóm nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết đương đại:

  • Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên – khát vọng bành trướng:
    • Tư tưởng nhân loại trung tâm và sai lạc hành vi: Những nhân vật đại diện cho lòng tham vật chất, khai thác tài nguyên kiệt quệ, nhân danh phát triển để tàn sát tự nhiên.
    • Sự mơ hồ sinh thái – những ngộ nhận trong quy luật sinh tồn: Những nhân vật hành động dựa trên nhận thức sai lệch về quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên.
  • Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái – hậu quả của văn minh:
    • Nông dân, người nghèo và dấu ấn của sinh thái giai cấp: Phản ánh sự bất công sinh thái khi các tầng lớp yếu thế phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên.
    • Thị dân, trí thức và làn sóng sinh thái đô thị: Khắc họa không gian sống ngột ngạt, sự tha hóa tinh thần và xung đột sinh thái nơi thành thị.
    • Nữ giới và những thấu chạm sinh thái nữ quyền (ecofeminism): Mối liên hệ tương đồng giữa sự áp bức phụ nữ của chế độ phụ quyền và sự bóc lột tự nhiên của chủ nghĩa duy lý công nghiệp.
  • Kiểu nhân vật thức tỉnh – ý niệm về sự hợp nhất:
    • Sám hối, trăn trở – niềm kính sợ sinh mệnh: Nhân vật nhận ra tội lỗi trước tự nhiên, thể hiện nỗi đau đớn và thái độ tôn kính sinh mệnh muôn loài.
    • Bảo vệ tự nhiên – nỗ lực tái thiết Trái đất: Những hành động thiết thực nhằm ngăn chặn sự hủy diệt môi trường sống.
    • Hướng đến lối sống điền viên – cuộc hành hương về với tự nhiên: Xu hướng tìm kiếm sự thanh lọc tâm hồn, quay về lối sống hòa nhập, nương tựa vào tự nhiên.

Chương 4: Phục hưng tinh thần sinh thái từ quyền lực văn hóa

Chương 4 tiếp cận văn học sinh thái từ góc độ quyền lực văn hóa và sự tương tác biểu trưng:

  • Quyền lực của diễn ngôn – những khai mở nhãn quan văn minh đương đại:
    • Định hình diễn ngôn lãng mạn tự nhiên trong tầm nhận thức mới: Tái hiện vẻ đẹp thiên nhiên không chỉ để thưởng ngoạn thuần túy mà gắn liền với ý thức bảo tồn và giá trị tự thân của sinh thái.
    • Kiến tạo diễn ngôn sinh thái hiện đại – tưởng tượng khác về môi trường: Xây dựng những hình dung mới về mối quan hệ cộng sinh, cảnh báo thảm họa và tái định nghĩa sự phát triển bền vững.
  • Quyền lực liên văn bản – tạo liên kết với tổng thể sống linh thiêng trong vũ trụ:
    • Sự biện chứng giữa văn chương và thực tế: Mối liên hệ tương hỗ giữa hiện thực suy thoái sinh thái đời sống và cách thức phản ánh trong văn bản nghệ thuật.
    • Những huyền tích, tập tục như cách thức điều chỉnh tư duy về Trái đất: Khai thác các biểu tượng văn hóa dân gian, huyền thoại bản địa, tín ngưỡng thờ thần cây, cá thần, linh vật như những cơ chế văn hóa điều chỉnh hành vi ứng xử của con người đối với môi trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, các khái niệm then chốt và các giai đoạn phát triển của lý thuyết phê bình sinh thái từ các nguồn tư liệu quốc tế, đồng thời điểm duyệt tình hình nghiên cứu lý thuyết này tại Việt Nam.
  2. Xác lập mối liên hệ lý thuyết giữa phê bình sinh thái và chủ nghĩa hậu hiện đại/giải cấu trúc, chỉ ra cách thức giải cấu trúc nhị nguyên "nhân loại / tự nhiên", "văn hóa / vật chất", "chủ thể / khách thể" trong nghiên cứu văn học.
  3. Đề xuất khung phân tích thi pháp sinh thái kết hợp giữa tư tưởng luân lý sinh thái học phương Tây với các giá trị triết học truyền thống phương Đông (thiên nhân hợp nhất, vạn vật đồng nhất thể).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Chứng minh tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã có bước chuyển biến sâu sắc, vận động từ cảm quan hiện thực - sử thi sang cảm quan thế sự và tiến dần đến văn học sinh thái, hòa nhịp cùng dòng chảy văn học toàn cầu.
  2. Phân tích cụ thể các dạng thức thi pháp sinh thái trong tiểu thuyết: hiện tượng phi trung tâm hóa, sự giải thể của chủ thể quyền lực, tính liên chủ thể và tính đối thoại với thế giới phi nhân loại qua các tác giả như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Phấn, Ma Văn Kháng, Đặng Thiều Quang, Trần Duy Phiên, Đào Thắng, Thiên Sơn, A Sáng...
  3. Định hình và phân loại hệ thống nhân vật theo các chuẩn tắc đạo đức sinh thái (xâm phạm, nạn nhân, thức tỉnh) và làm rõ vai trò của diễn ngôn, liên văn bản trong việc phục hưng tinh thần sinh thái.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đẩy mạnh việc nghiên cứu và giảng dạy phê bình sinh thái như một khuynh hướng học thuật liên ngành trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đại học.
  • Khuyến khích các nhà văn mở rộng đề tài môi trường, nâng cao trách nhiệm sinh thái trong sáng tác văn học nghệ thuật.
  • Ứng dụng các thông điệp và giá trị nhân văn của văn học sinh thái vào công tác truyền thông, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết giai đoạn 1986 – 2014 (có mở rộng khảo sát một số tác phẩm đến năm 2017), chưa bao quát toàn bộ các thể loại khác như thơ ca, kịch bản, phóng sự, truyện ngắn hay văn xuôi phi hư cấu (non-fiction).
  • Tư liệu lý thuyết quốc tế chủ yếu khai thác từ nguồn văn bản tiếng Anh, chưa bao quát đầy đủ các trường phái phê bình sinh thái sử dụng các ngữ hệ khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng khảo cứu phê bình sinh thái trên các thể loại khác của văn học Việt Nam đương đại (truyện ngắn, ký, phóng sự môi trường).
  • Đi sâu nghiên cứu các khuynh hướng chuyên biệt của phê bình sinh thái như: Chủ nghĩa Mác sinh thái (Eco-Marxism), Phê bình sinh thái nữ quyền (Ecofeminism), Ký hiệu học sinh học (Biosemiotics) hoặc Sinh thái học tinh thần trong văn học trung đại và văn học dân gian các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn học so sánh: Tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về lý thuyết phê bình sinh thái, khung phân tích giải cấu trúc và phương pháp tiếp cận văn bản nghệ thuật từ góc nhìn môi trường.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ biên soạn bài giảng chuyên đề về Văn học Việt Nam sau 1986, Văn học Hậu hiện đại và các lý thuyết phê bình văn học mới.
  • Nhà văn, nhà phê bình văn học và nhà hoạt động xã hội: Tham khảo các mô hình phân tích đạo đức sinh thái, quyền lực diễn ngôn nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi sinh thông qua sáng tác văn học và hoạt động văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Phê bình sinh thái" (Ecocriticism) lần đầu tiên xuất hiện khi nào và do ai đề xuất?

Theo tổng quan lịch sử của luận án, thuật ngữ "Phê bình sinh thái" (Ecocriticism) được William Rueckert sử dụng lần đầu tiên vào năm 1978 trong tiểu luận Văn học và Sinh thái học: Một thử nghiệm trong Phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism).

2. Ba phương diện hậu/giải cấu trúc của phê bình sinh thái được luận án triển khai trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 là gì?

Luận án xác định ba phương diện chính:

  1. Phi trung tâm hóa (xóa bỏ quan niệm "nhân loại trung tâm", dịch chuyển góc nhìn sang sinh thái trung tâm và sinh thể trung tâm).
  2. Cái chết của chủ thể - tính liên chủ thể (giải thiêng vị thế tối thượng của con người, phá bỏ phân chia chủ - khách, nhìn nhận tự nhiên như một chủ thể tồn tại song hành).
  3. Tính đối thoại (xác lập phương thức kết nối, giao tiếp giữa con người và thế giới tự nhiên).

3. "Tính tụ điểm" trong cách tiếp cận phi trung tâm của phê bình sinh thái được luận án giải thích như thế nào?

Luận án chỉ ra rằng, khác với cảm quan phân mảnh hỗn mang thuần túy của hậu hiện đại, phê bình sinh thái khi xóa bỏ trung tâm "nhân loại" sẽ tạo ra các "tụ điểm". Tụ điểm này hướng sự chú ý của nhà văn vào các đối tượng yếu thế, bị chìm khuất hoặc tổn hại trong tự nhiên (như loài ruồi trong Ruồi là ruồi của Đỗ Phấn, cây dẻ trong Thân xác của A Sáng, hay loài chó trong Chó Bi, đời lưu lạc của Ma Văn Kháng), từ đó tái lập sự cân bằng sinh thái.

4. Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết sau 1986 được luận án phân loại theo những chuẩn tắc đạo đức sinh thái nào?

Hệ thống nhân vật được phân chia thành ba kiểu chính:

  1. Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên (khát vọng bành trướng, mang tư tưởng nhân loại trung tâm và sự mơ hồ sinh thái).
  2. Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái (nông dân, người nghèo gắn với sinh thái giai cấp; thị dân, trí thức gắn với sinh thái đô thị; phụ nữ gắn với sinh thái nữ quyền).
  3. Kiểu nhân vật thức tỉnh (trăn trở sám hối, bảo vệ tự nhiên và hướng đến lối sống điền viên hòa hợp).

5. Những phương pháp nghiên cứu chính nào được tác giả sử dụng trong luận án?

Luận án sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu định tính chủ yếu:

  1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống.
  2. Phương pháp liên ngành (văn học kết hợp văn hóa học, triết học, sinh học, địa lý, chính trị).
  3. Phương pháp so sánh (đối chiếu văn học trong nước - quốc tế và liên hệ các ngành khoa học).
  4. Phương pháp phân tích văn bản và phân tích chuyên đề.

Kết luận

Luận án Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái là công trình nghiên cứu hệ thống về sự tiếp biến lý thuyết phê bình sinh thái trong bối cảnh văn học Đổi mới tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phê bình sinh thái với lý thuyết hậu hiện đại và giải cấu trúc, tác giả đã làm sáng tỏ quá trình lật đổ tư tưởng nhân loại trung tâm, định hình hệ chuẩn tắc đạo đức sinh thái qua hệ thống nhân vật, và khẳng định quyền lực văn hóa của diễn ngôn văn học trong việc bảo vệ môi sinh. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nghiên cứu lý luận văn học, thi pháp tiểu thuyết đương đại và các nghiên cứu văn hóa liên ngành.