Luận Án Về Phê Bình Sinh Thái Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Giai Đoạn 1986-2014

Chuyên đề nghiên cứu Phê Bình Sinh Thái Trong Tiểu Thuyết Việt Nam (1986-2014), cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2014

165
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận án

Kết cấu luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái

1.1.1. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới

1.1.1.1. Chặng một từ 1972 đến 1991: Thời kì manh nha
1.1.1.2. Chặng hai từ 1992 đến 2004: bùng nổ lí thuyết phê bình sinh thái

2. CHƯƠNG 2: MỘT CÁI NHÌN HẬU/ GIẢI CẤU TRÚC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2014

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH GIÁ CHUẨN TẮC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI TỪ HỆ THỐNG NHÂN VẬT

4. CHƯƠNG 4: PHỤC HƯNG TINH THẦN SINH THÁI TỪ QUYỀN LỰC VĂN HÓA

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 từ góc nhìn phê bình sinh thái là một hướng đi mới, mang lại nhiều kiến giải quan trọng. Các nhà văn và nhà phê bình đã bắt đầu nhận thức rõ về xu hướng toàn cầu hóa, đặc biệt là khi vấn đề môi trường và nguy cơ sinh thái đang ở mức báo động. Từ đó, việc tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài cần được xem xét từ bình diện khái quát đến cụ thể. Những thành tựu trong nghiên cứu phê bình sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam đã được khởi xướng từ những công trình đáng chú ý. Các nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ khái niệm mà còn mở rộng hiểu biết về mối quan hệ giữa văn học và môi trường. Phê bình sinh thái đã trở thành một phong trào có sức ảnh hưởng lớn trong giới học thuật, đặc biệt là trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại.

1.1. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái

Lí thuyết phê bình sinh thái đã được phát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu như W. Meeker và William Rueckert đã đặt nền móng cho việc kết hợp giữa văn học và sinh thái học. Họ đã chỉ ra rằng văn học không chỉ phản ánh cuộc sống con người mà còn có thể ảnh hưởng đến hành vi của con người đối với môi trường. Những nghiên cứu này đã mở ra một hướng đi mới cho việc phân tích văn học, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về vai trò của văn học trong việc bảo vệ môi trường. Đặc biệt, các hội thảo và tổ chức như ASLE đã thúc đẩy sự phát triển của phê bình sinh thái, tạo ra một cộng đồng nghiên cứu mạnh mẽ và kết nối các nhà văn, nhà phê bình trên toàn thế giới.

II. Một cái nhìn hậu giải cấu trúc về phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 2014

Giai đoạn 1986 - 2014 đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam, đặc biệt là trong việc tiếp cận phê bình sinh thái. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn này đã bắt đầu thể hiện rõ nét những vấn đề sinh thái, từ đó hình thành nên một phong trào văn học có ý thức về môi trường. Các nhà văn như Đỗ Phấn, Nguyễn Khắc Phê đã khéo léo lồng ghép những thông điệp về bảo vệ môi trường vào trong tác phẩm của mình. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của độc giả mà còn góp phần vào việc xây dựng một nền văn học có trách nhiệm với môi trường.

2.1. Đặc tính hậu giải cấu trúc của phê bình sinh thái

Đặc tính hậu/giải cấu trúc của phê bình sinh thái thể hiện qua việc phá vỡ các ranh giới giữa con người và thiên nhiên. Các tác phẩm văn học không còn chỉ tập trung vào con người mà còn mở rộng ra các yếu tố tự nhiên, tạo nên một không gian giao thoa giữa con người và môi trường. Điều này giúp độc giả nhận thức rõ hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và thiên nhiên. Các nhà văn đã sử dụng những hình thức nghệ thuật đa dạng để thể hiện mối quan hệ này, từ đó khẳng định rằng văn học có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Những tác phẩm này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn có giá trị thực tiễn trong việc giáo dục cộng đồng về trách nhiệm với môi trường.

III. Định giá chuẩn tắc đạo đức sinh thái từ hệ thống nhân vật

Trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014, các nhân vật không chỉ đơn thuần là những hình tượng nghệ thuật mà còn là những đại diện cho các vấn đề sinh thái. Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên thường thể hiện khát vọng bành trướng, trong khi kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái lại phản ánh hậu quả của văn minh. Những nhân vật này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các vấn đề sinh thái mà còn gợi mở những suy ngẫm về trách nhiệm của con người đối với môi trường. Phê bình sinh thái đã giúp định hình một chuẩn tắc đạo đức mới, nơi mà con người không còn là trung tâm mà là một phần trong hệ sinh thái lớn hơn. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong văn học mà còn trong thực tiễn, khi mà mỗi cá nhân cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc bảo vệ môi trường.

3.1. Kiểu nhân vật thức tỉnh ý niệm về sự hợp nhất

Kiểu nhân vật thức tỉnh trong tiểu thuyết Việt Nam thường mang trong mình ý niệm về sự hợp nhất giữa con người và thiên nhiên. Những nhân vật này không chỉ nhận thức được sự tàn phá của môi trường mà còn tìm cách hành động để bảo vệ nó. Họ trở thành những người dẫn dắt, truyền cảm hứng cho cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. Qua đó, phê bình sinh thái không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn khuyến khích hành động cụ thể từ phía độc giả. Những nhân vật này thể hiện rõ nét tinh thần trách nhiệm và sự kết nối giữa con người với thiên nhiên, từ đó tạo ra một thông điệp mạnh mẽ về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường sống.

IV. Phục hưng tinh thần sinh thái từ quyền lực văn hóa

Quyền lực văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc phục hưng tinh thần sinh thái trong văn học Việt Nam. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tạo ra những giá trị văn hóa mới, khuyến khích sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên. Phê bình sinh thái đã giúp khẳng định rằng văn học có thể là một công cụ mạnh mẽ trong việc nâng cao ý thức cộng đồng về môi trường. Những tác phẩm này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn có giá trị thực tiễn trong việc giáo dục và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Qua đó, văn học không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một phần không thể thiếu trong việc xây dựng một xã hội có trách nhiệm với môi trường.

4.1. Quyền lực của diễn ngôn những khai mở nhãn quan văn minh đương đại

Diễn ngôn văn hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đã mở ra những khai mở mới về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tạo ra những giá trị văn hóa mới, khuyến khích sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên. Phê bình sinh thái đã giúp khẳng định rằng văn học có thể là một công cụ mạnh mẽ trong việc nâng cao ý thức cộng đồng về môi trường. Những tác phẩm này không chỉ mang tính nghệ thuật mà còn có giá trị thực tiễn trong việc giáo dục và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Qua đó, văn học không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một phần không thể thiếu trong việc xây dựng một xã hội có trách nhiệm với môi trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho những chuyển hƣớng sau này của phê bình sinh thái từ góc nhìn trải nghiệm của nhà nghiên cứu. Năm 2011, giáo sƣ Susan Rowland ra mắt tác phẩm Tinh thần phê bình sinh thái: Văn học, sự phức tạp của tiến hóa và Jung (The Ecocritical Psyche: Literature, Evolutionary Complexity and Jung) đƣợc xem là “bƣớc đột phá” của phê bình sinh thái, bởi đây là lần đầu tiên, nghiên cứu phê bình sinh thái đã có sự kết hợp liên ngành với tâm lí học, cùng các ý tƣởng của Jung, huyền thoại và lí thuyết tiến hóa của Shakespeare và Jane Austen. Thông qua việc nghiên cứu sự sản sinh những biểu tƣợng, huyền thoại và tiến hóa trong các văn bản nhƣ Khu vườn bí mật (The Secret Garden), Giông tố (The Tempest), Đỉnh cao lộng gió và Sư tử (Wuthering Heights and The Lion), Phù thủy và tủ quần áo (The Witch and the Wardrobe), Susan đã chứng 12 minh văn học là nơi tƣởng tƣợng, xa rời với tự nhiên, mà khởi nguồn của nó là từ một thế giới phi-nhân-loại khác. Nhận thấy, “biểu tƣợng không chỉ là thuộc tính của một mình bản ngã hay tinh thần, nó còn là tiếng nói của tự nhiên xuyên qua chúng ta”, Susan đã phân tích những ý tƣởng của C.

Jung trong việc sáng tạo ra những hình ảnh tƣởng tƣợng đã kết nối nhân loại và tự nhiên nhƣ thế nào. Đến năm 2013, cuốn Sổ tay Oxford về Phê bình sinh thái (The Oxford handbook of Ecocriticism) do Greg Garrard biên tập đƣợc ghi nhận nhƣ công trình đánh dấu thời kì phát triển vƣợt trội của phong trào phê bình sinh thái, phát hành nhằm kỉ niệm hai mƣơi năm thành lập Hiệp hội nghiên cứu về Văn học và Môi trƣờng (ASLE). Tác phẩm đƣợc tổ chức hợp lí, rõ ràng, đi từ lịch sử vấn đề, đến phạm trù lí thuyết và sau cùng là đƣa ra những quan điểm về phê bình sinh thái tại một số nƣớc trên thế giới nhƣ Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Đức… Điểm nổi bật của Sổ tay Oxford về Phê bình sinh thái chính là đã tập hợp những bài nghiên cứu của các học giả chuyên sâu bàn luận về sự hình thành lí thuyết phê bình sinh thái diễn ra nhƣ thế nào, chịu ảnh hƣởng sâu sắc bởi các triết gia và nhà tƣ tƣởng ra sao, tiêu biểu nhƣ Gaston Bachelard, Roland Barthes, Jacques Derrida, Michel Foucault, Sigmund Freud, David Harvey, Martin Heidegger, Edmund Husserl, Wolfgang Iser, Fredric Jameson, Jacques Lacan, Ferdinand de Saussure, Raymond Williams. Những nguồn này giúp cho các nhà phê bình sinh thái tạo ra các lí thuyết kết nối giữa văn học và môi trƣờng, ví dụ: bản chất của ngôn ngữ, tính văn bản, nhận thức về không gian, xây dựng sự khác biệt, ranh giới các loài, tầng lớp xã hội, quyền lực, rủi ro, ý thức hệ, phân điểm, tâm lí con ngƣời, nhận thức luận, và bản thể học.

Khi biên tập, Garrard đã tạo ra sự cân bằng hợp lí giữa những bài khái quát trọng tâm và những đột phá thử nghiệm vào lãnh thổ mới. Độc giả sẽ đƣợc dẫn nhập những cách tiếp cận mới vào giai đoạn nghiên cứu khả thi phê bình sinh thái nhƣ chủ nghĩa lãng mạn và văn học thế kỉ XIX, cũng nhƣ mạo hiểm vào giai đoạn ít đƣợc nghiên cứu, nhƣ thời trung cổ và hậu hiện đại. Tác phẩm còn đi sâu vào lí thuyết mới, nhƣ phê bình sinh thái hậu thuộc địa, công bằng môi trƣờng, khoa học nữ quyền, và giới thiệu các bài viết đã táo bạo vào địa hạt mới nhƣ kí hiệu học sinh học (biosemiotics) và khoa học siêu nhiên (paraphysics). Bên cạnh đó còn có một số công trình đƣa ra lập luận mới về những thể loại định hƣớng tự nhiên, chẳng hạn: “Có phải là Cái chết của Lối viết Tự nhiên?” của Daniel J.

Philippon tìm hiểu tất cả thể loại đã từng có trƣớc đây nhƣng bị các nhà phê bình sinh thái bỏ qua, nhƣ truyện 13 hài, âm nhạc thời xƣa, văn học thiếu nhi, và phƣơng tiện truyền thông kĩ thuật số. Tác phẩm đã thu hút nhiều mối quan tâm của nhiều nhà phê bình trong những năm cuối thế kỉ XX về vấn đề sinh thái trong văn học, tạo ra một hiệu ứng phát triển của lĩnh vực này tới từng khu vực, quốc gia. Năm 2014, cuốn sách Sự mơ hồ sinh thái, Cộng đồng và Phát triển: Hướng tới một Phê bình sinh thái Chính trị (Ecoambiguity, Community, and Development: Toward a Politicized Ecocriticism) do Scott Sloviic, S. Sarveswaran biên tập lại là một công trình đƣợc đóng góp bởi rất nhiều nhà lí luận hàng đầu về văn hóa – môi trƣờng ở các nƣớc đang phát triển, từ Nam Á đến Mĩ Latin.

Mƣời hai chƣơng của cuốn sách đƣợc gắn kết với nhau thông qua sự nhất trí của các tác giả về sự phức tạp của “văn hóa tự nhiên”, làm sáng tỏ mối tƣơng quan của các vấn đề nhân quyền và suy thoái môi trƣờng. Một số tác giả giải quyết sự mơ hồ trong vai trò biểu hiện ngôn ngữ và văn học, nghiên cứu tƣơng phản ngôn ngữ của chính nó “để đƣa ra sự truyền đạt thế giới vật chất mà các nền văn hóa tìm kiếm để tồn tại”. Qua đó, công trình thiết lập nhận thức mới trong mối quan hệ giữa địa chính trị và bảo vệ môi trƣờng và xã hội. Tuyển tập này áp dụng một diễn thuyết của Nam Địa cầu nhƣ một cấu trúc chuẩn để điều hƣớng về cách thức suy biến sinh thái và áp bức văn hóa bị lây lan ở cộng đồng địa phƣơng lẫn toàn cầu.

Từ những công trình mà chúng tôi tiếp cận đƣợc trong nghiên cứu về phê bình sinh thái, có thể nhận thấy đây là vấn đề đang đƣợc nhiều chuyên gia văn hóa – văn học từ khắp nơi trên thế giới quan tâm; hơn nữa lí thuyết về phê bình sinh thái vẫn còn đang ở quá trình định hình, hoàn thiện hơn. Cho nên, tƣơng lai của phê bình sinh thái gắn với bối cảnh toàn cầu hóa. Nhìn vào những công trình ban đầu, các nhà phê bình sinh thái tập trung tìm hiểu những văn bản tại quốc gia họ sinh sống (gồm văn bản tiếng Anh, Đức, và những ngôn ngữ thuộc Tây phƣơng), sau đó, phê bình sinh thái dần dần rời khỏi địa hạt trung tâm, lƣu ý đến các văn bản ngoài Âu – Mĩ để khai mở những tiềm năng lí thuyết mới trong nội tại chính nó. Cũng trong quá trình nghiên cứu những văn bản ngoài Âu – Mĩ, cụ thể ở đây là những văn bản Đông Á, các nhà phê bình sinh thái còn phát hiện ra “sự mơ hồ” trong thái độ, tình cảm của ngƣời phƣơng Đông đối với thiên nhiên (trƣờng hợp của Karen Thornber).

Đồng thời, bắt nhịp về với phƣơng Đông, phê bình sinh thái đã kết nối với các tƣ tƣởng triết học sinh thái môi trƣờng hiện đại và nguồn mạch tƣ tƣởng văn hóa phƣơng Đông ngàn xƣa (Nho giáo, Đạo giáo, 14 Phật giáo) để đề xuất một cách ứng xử mới với tự nhiên, tái thiết môi sinh. Từ đó cho thấy sự cần thiết và cấp bách hiện nay trong việc dẫn nhập, áp dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học các nƣớc châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái ở Việt Nam Văn học Việt Nam từ sau Đổi mới đã rất cởi mở trong việc tiếp thu những lí thuyết phê bình khác của thế giới và có những chuyển biến đáng kể. Các vấn đề nhƣ thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, cấu trúc, nữ quyền luận, hậu hiện đại… đƣợc nhiều học giả, nhà nghiên cứu và nhà văn đón nhận sôi nổi, tạo nên dấu ấn riêng.

Nhƣng đối với trào lƣu phê bình sinh thái vẫn còn ở dạng “tiềm năng cần khai thác”. Tại sao lại trong trạng thái tiềm năng mà không phát triển sâu rộng nhƣ những lí thuyết vừa kể trên? Một phần vì ban đầu, lí thuyết phê bình sinh thái đƣợc những học giả sử dụng để nghiên cứu văn học viết về tự nhiên, nhằm nhấn mạnh văn học nên làm cho độc giả quay lại “tiếp xúc” với tự nhiên, hƣớng tới xây dựng một nền văn học sinh thái. Trong khi đó, thiên nhiên vốn dĩ là đề tài quen quá quen thuộc trong văn chƣơng phƣơng Đông. Nên ngƣời ta hồ nghi rằng, văn học sinh thái liệu có khác gì văn học viết về thiên nhiên đã có từ ngàn năm trƣớc, nhƣ những áng sử thi hùng tráng Ramayana, Mahabharata đã ca ngợi vẻ đẹp con ngƣời và tự nhiên, nhƣ những bài thơ Thiền đời Đƣờng, những bài thơ Haiku Nhật Bản? Hơn nữa, một câu hỏi đƣợc đặt ra: phê bình sinh thái khi nghiên cứu về tự nhiên sẽ mang lại điểm khác biệt gì so với những lí thuyết văn học trƣớc đây, chẳng hạn nhƣ thi pháp học cũng đã từng đề cập đến không gian, thời gian, mối quan hệ giữa con ngƣời với thiên nhiên? Một phần cũng bởi nhiều học giả cho rằng đây là một lí thuyết “gƣợng ép”, đánh đồng phê bình sinh thái nhƣ một ngành thuộc sinh thái học, một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trƣờng.

Những điều này cũng đã đƣợc Nguyễn Văn Dân đề cập trong bài viết “Các lí thuyết nghiên cứu văn học và tính khả dụng” (Văn nghệ, số 15/ 2014). Tác giả cho rằng, phê bình sinh thái trƣớc hết là một phong trào văn hóa – xã hội bảo vệ môi trƣờng, và “nếu cứ lấy một vấn đề xã hội bất kì để gắn một cách gƣợng ép với văn học và gọi nó là mỹ học thì chúng ta sẽ có vô vàn lí thuyết mỹ học nhƣng không áp dụng đƣợc” [11]. Chỉ khi làm rõ những định kiến và mập mờ trên, phê bình sinh thái mới đƣợc chấp thuận và xem nhƣ là một ngành nghiên cứu văn học mới có tính khả dụng, cấp bách. 15 Nhìn chung có thể thấy, phê bình sinh thái vận dụng quan điểm sinh thái học hiện đại khảo sát mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và tự nhiên, xã hội và trạng thái tinh thần con ngƣời; chất vấn quan hệ giữa ba yếu tố: con ngƣời, tự nhiên, nghệ thuật, qua đó thể hiện chủ nghĩa sinh thái nhân văn mới, tái cấu trúc các quan niệm cũ để có đƣợc các quan niệm mới.

Lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học làm trọng yếu, phê bình sinh thái muốn tác phẩm văn chƣơng phải chuyển tải những chiều hƣớng phức tạp của con ngƣời và tự nhiên, cũng nhƣ quan hệ tƣơng tác giữa chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận Án Về Phê Bình Sinh Thái Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Giai Đoạn 1986-2014" của các tác giả như Đỗ Phấn, Nguyễn Khắc Phê, và Trần Duy Phiên, tập trung vào việc phân tích và đánh giá các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2014 dưới góc độ phê bình sinh thái. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam mà còn chỉ ra mối liên hệ giữa văn học và môi trường, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách mà các tác phẩm này phản ánh và tương tác với các vấn đề sinh thái hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam, nơi khám phá các tư tưởng phê bình văn học có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận văn: Giá trị tập thơ Từ ấy của Tố Hữu cũng là một tài liệu thú vị, giúp bạn hiểu thêm về giá trị văn học trong bối cảnh xã hội. Cuối cùng, Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn Chiêu Hồn của Nguyễn Du sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa văn hóa và văn học, một khía cạnh quan trọng trong phê bình sinh thái.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.