Chương 1 Những tiền đề xã hội - văn hoá ảnh hưởng đến sự ra đời của tiêu thuyêt viêt băng chữ quôc ngữ Từ năm 1897, công cuộc bình định nước ta của thực dân Pháp về quân sự căn bản đã hoàn thành. Sự thất bại của Phan Đình Phùng (vào năm 1897 và được coi như đại diện cuối cùng của phong trào Cần Vương) đã làm cho không ít sĩ phu hiểu rằng công cuộc chống Pháp theo con đường Cần vương đã tuyệt vọng. Cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám làm thủ lĩnh lúc này chưa bị dập tắt song nó mang ý nghĩa khác. Và hệ quả của nó là không khí chống Pháp của nhân dân ta tạm thời lắng xuống.
Lợi dụng thời cơ này, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc khai thác xứ Đông Dương giàu có với một kế hoạch khá bởi bản. Tuy chính quyền thực dân có cho thành lập một số hội đồng dân biểu và cho xây dựng một số công trình công nghiệp, đô thị, giáo dục dé phục vụ cho chiêu bài Khai phá văn minh hay tự do, bình dang, bác di, song việc chính của chúng vẫn là bóc lột, vơ vét tài nguyên. Từ cuối thế kỷ XIX đến trước khủng khoảng kinh tế 1929-1933, người Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác Việt Nam với qui mô lớn: trước và sau đại chiến thé giới lần thứ nhất. Chính sách kinh tế thực dân dù được che đậy bang bat kì thủ đoạn mi dân nào cũng không nằm ngoài mục đích: bán hàng hoá (có thé là du thừa) của mẫu quốc, vo VÉT nguồn lực phục vụ cho các mục đích để phát triển (nước Mẹ), xây dựng một SỐ CƠ SỞ công nghiệp nhỏ lẻ cần cho các mục đích đã định và không được dé ảnh hưởng xấu đến nền công nghiệp của chính quốc.
Các lĩnh vực giáo dục, văn hoá khác được xây dựng cũng không nằm ngoài quỹ đạo này. Kết quả của những chính sách đó là nền kinh tế phong kiến, sản xuất nhỏ, trì trệ, đóng kín điển hình của nước ta bị ép buộc phát triển theo một hướng khác. Lưu thông hang hoá ngày càng được day mạnh, nước ta bị lôi kéo vào 25 quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhưng không được công nghiệp hoá mà lại biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu hàng xuất khẩu cho Pháp. Lợi ích của quá trình này nước Pháp được hưởng còn nhân dân ta bị bần cùng hoá, phần lớn trong số đó trở thành nguồn nhân công rẻ mạt cho các nhà máy, công xưởng, đồn điền của đủ các loại ông chủ Pháp đang mở ra ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam.
Quá trình này có tác động hai mặt tới sự chuyển đổi của đời sống văn hoá Việt Nam những năm đầu thé ky XX. Đời sống của nhân dân ta, đặc biệt là đời sống của người nông dân và dân nghèo thành thị rất khó khăn trước sự bóc lột ngày càng thậm tệ của thực dân Pháp. Lắng xuống một thời gian không dài, các phong trào yêu nước, chống Pháp theo các xu hướng tư tưởng khác nhau của nhân dân ta lại được nhen nhóm lại và duy trì khá đều đặn vào đầu thế kỷ XX. Lần lượt các tầng lớp sĩ phu, giai cấp tư sản dân tộc bước lên vũ đài chính trị với sử mệnh tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ phụ thuộc.
Nhưng rồi mọi tìm kiếm con đường cứu nước theo khuynh hướng Cần Vương, tư sản cải lương, bạo động. đều vô vọng: cuối cùng vai trò chèo lái con thuyền Việt Nam được chuyền cho giai cấp vô sản với sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1930). Lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1930 chủ yếu đều xoay quanh cuộc đấu tranh toàn diện, quyết liệt giữa hai lực lượng đối lập, một bên là các lực lượng yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam, còn một bên là lực lượng phản dân tộc và các thế lực thù địch; đi ngược lại lợi ich của cả dân tộc, gắn bó chặt chẽ với chính quyền thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh chống sưu thuế của nông dân Trung Ky, vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên (1917), các phong trào ái quốc dân chủ (1922-1926), sự xuất hiện của Việt Nam Quốc dân đảng với cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2/1930), sự ra đời các tô chức tiền thân của đảng cộng sản Đông Dương (1924-1930).
chứng tỏ sức sống mãnh liệt, 26 bên bỉ và sự lớn mạnh dân của các phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. Các chính sách khai thác thuộc địa của Pháp là hướng tới mục tiêu khác nhưng chúng vẫn ít nhiều gây tác động đáng kể tới sự phát triển nhiều mặt của nước ta. Hay nói một cách khác, trong quá trình thực dân hoá Việt Nam, người Pháp đã trở thành một thứ công cụ không tự giác của lịch sử, đặt tiền đề cho việc phá huỷ cơ cấu xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới. Đó cũng chính là nguồn động lực ban đầu cho quá trình hiện đại hoá diễn ra ở Việt Nam.
Tuy nhiên, vì tiến hành trong những điều kiện lịch sử bất bình thường, từ xuất phát điểm chưa phát triển đến mức tự phủ định cũng như chịu chi phối của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ mà người Pháp áp dụng ở Đông Dương, quá trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam không thê tránh khỏi những mặt dang dở, thiếu triệt dé, thiếu hoàn thiện. Nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc van đề đó đòi hỏi nhiều công sức không chỉ của một người. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến một số nhân tổ giữ vai trò như những tiền dé xã hội - văn hoá có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành của một thê loại văn học mới - tiêu thuyết viết băng chữ quốc ngữ. Sự phát triển của môi trường đô thị và đời sống đô thị Như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn học đã chứng minh, đô thị chính là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của văn học hiện đại.
Trong lịch sử Việt Nam, đô thị đã được hình thành từ thời trung đại trên cơ sở những trung tâm văn hoá - hành chính của nhà nước phong kiến: kinh đô và những phủ ly ở địa phương. Nhưng, xét theo những tiêu chí của một đô thị như ta vẫn nói hiện nay thì đô thị Việt Nam trước thế kỷ XX vẫn nằm ngoài danh sách ấy. Đến thé kỷ XVII-XVIII, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, dù ở mức độ hết sức sơ khai, sự phát triển của các đô thị được đây mạnh thêm một bước. Đô thị thời kỳ này là nơi tập trung những cơ quan hành chính văn hoá của triều đình phong kiến, những làng nghề, phường thợ thủ công và cơ sở thương mại.
27 Đồng thời đề phục vụ nhu cầu giải trí của một số tầng lớp cư dân đô thị, những tụ điểm giải trí đã hình thành với những hình thức sinh hoạt văn hoá ở ngoài khuôn khổ cung đình và cũng không hè tồn tại trong phạm vi làng xã. Nhân vật trung tâm của đô thị truyền thống là quý tộc và quan chức phong kiến, thương nhân, thợ thủ công, nho sinh. Tắt nhiên, do trình độ phát triển của một nền kinh tế lay nông nghiệp làm gốc cũng như nền tang văn hoá - xã hội nho giáo, các đô thị Việt Nam không thê phát triển đến mức trở thành các đô thị hiện đại như ở Nhật Bản, Trung Quốc hay ở các nước phương Tây. Đô thị Việt Nam truyền thống giờ đây trở thành môi trường phát triển của nền văn học phi truyền thống, văn học của nhà Nho tài tử như nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh, với nhiều yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của văn học quan phương và văn học dân gian.
Trên phương diện này, các yếu tố “phi truyền thống”, “phi quan phương” nói trên chính là những mâm mông của văn học hiện đại. Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt là từ sau đại chiến thế giới lần thứ I, cùng với quá trình thực dân hoá, đô thị Việt Nam phat triển rất mạnh. Đây là nơi tích tụ và phản ánh những chuyền biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá. ở các đô thị, xuất hiện những tầng lớp xã hội chưa từng có trong truyền thống như giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản- công chức.
Một mặt, các giai cấp ấy là sản phẩm trực tiếp của quá trình chuyên dịch cơ cau xã hội truyền thống dé thích nghi với điều kiện sống mới. Tại các đô thị này, tập trung một phức thé da dang dân cư thuộc những thành phần xã hội khác nhau: viên chức, quan chức, nhà thầu tư sản phục vụ chính phủ thực dân và Nam triều, tang lớp dân nghèo thành thị hình thành từ quá trình ban cùng hoá nông thôn, tầng lớp trung lưu hành nghề tự do và những nhà tư sản dân tộc. Một nền kinh tế mang màu sắc tư ban chủ nghĩa đã manh nha hình thành tại các đô thị và kèm theo đó là những lối sống, những trạng huống tâm lý xã hội mới mẻ. Đô thị vừa là cửa ngõ giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và thế giới, vừa là nơi ma các ảnh hưởng phương Tây thé hiện sâu sắc nhất.
Đây cũng là nơi bộc lộ những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam trên con đường chuyên từ một xã 28 hội lấy nông nghiệp làm trọng, sang một xã hội lay công nghệ và thương mại làm nòng cốt. Nhân đây, chúng tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố khác, có ảnh hưởng đáng kê đến việc làm thay đổi nhiều giá trị trong xã hội. Do là việc hình thành ở Đông Dương một hệ thống giáo dục kiểu mới theo tinh thần Âu hoá, đúng ra là theo hệ thống Pháp. Hệ thống giáo dục này, xét về bản chất, hiện đại hơn hệ thống giáo dục truyền thống.
Nó giàu tính thực tiễn và tính khoa học hơn. Giáo dục tiêu học và giáo dục đại học (trường đại học đầu tiên theo tinh thần này được thành lập năm 1906, tại Hà Nội, cho toàn cõi Đông Dương) đã hình thành ở mọi miền, thu hút đông đảo con cái của tầng lớp có của, quan chức, công chức, địa chủ và những người có tinh thần đổi mới. Sau khoảng một, hai thập niên, các trường nay đã dao tạo ra một lớp người khác han. Họ gần gũi với văn minh Phuong Tây, cũng như trước đây cha ông họ đã gần gũi với văn hoá Trung Hoa vậy.