Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kiều Anh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Quang Long. Luận án thuộc chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học (Mã số: 5.04.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình cách tân và hiện đại hoá văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XX, bên cạnh thành tựu sáng tác, hoạt động lý luận văn học đạt được những bước tiến rõ rệt, tập trung vào hai thể loại trung tâm là thơ và tiểu thuyết. Khác với loại hình tiểu thuyết trung cận đại chịu ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc trước đó, tiểu thuyết văn xuôi chữ quốc ngữ là thể loại mới xuất hiện đầu thế kỷ XX nhưng đã nhanh chóng khẳng định vị trí trong đời sống văn học và nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình đương thời.

Khảo sát tư liệu cho thấy, trong số 199 bài viết và đầu sách được sưu tầm trong bộ Tuyển tập nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam từ 1900-1945, có 47 bài viết trực tiếp bàn về thể loại tiểu thuyết. Mặc dù các tác giả như Phạm Quỳnh (với bài khảo cứu Bàn về tiểu thuyết, 1921), Thạch Lam (Theo giòng), Vũ Bằng (Khảo về tiểu thuyết, 1941) cùng nhiều cây bút khác (Ngô Đức Kế, Đặng Trần Phất, Bùi Xuân Học, Trọng Khiêm, D.C, Vũ Đình Long, Thiếu Sơn, Trúc Hà, Lệ Xuân, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Trương Chính, Trương Tửu) đã công bố nhiều luận điểm về thể loại, nhưng suốt nhiều thập kỷ sau đó chưa có công trình nào đi sâu khảo sát một cách toàn diện và hệ thống toàn bộ các vấn đề lý luận thể loại tiểu thuyết trong chặng đường 1900–1945.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu các điều kiện xã hội – văn hoá tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành, phát triển của tiểu thuyết chữ quốc ngữ và hoạt động nghiên cứu, phê bình thể loại này ở nửa đầu thế kỷ XX.
  2. Khảo sát và phân tích hệ thống các ý kiến bàn về tiểu thuyết: từ các quan niệm chung (khái niệm, phân loại, nhà văn và quá trình sáng tác) đến các phương diện thi pháp thể loại (hiện thực đời sống, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, bạn đọc và phê bình tiểu thuyết).
  3. Khẳng định và ghi nhận những đóng góp của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình nửa đầu thế kỷ XX đối với tiến trình hiện đại hoá tiểu thuyết dân tộc, đặt trong mối liên hệ với thực tiễn sáng tác và sự phát triển của chuyên ngành lý luận văn học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản (bài báo, tiểu luận, sách chuyên khảo, lời tựa, lời bạt) bàn về thể loại tiểu thuyết của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỷ XX (từ năm 1900 đến năm 1945).
  • Phạm vi tư liệu: Các ấn phẩm báo chí và tạp chí đầu thế kỷ XX như Nông cổ mín đàm, Đông Dương tạp chí, Đông Pháp thời báo, Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí, Phụ nữ Tân văn, Lục tỉnh tân văn, Thần Chung; các công trình chuyên khảo của Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan; các bộ tổng tập và tuyển tập tư liệu phê bình văn học giai đoạn 1900–1945.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan thành hai nhóm chính:

Nhóm công trình Tác giả & Năm công bố Tác phẩm tiêu biểu Đặc điểm và giới hạn
Công trình nghiên cứu, khảo luận (Trước 1980) Phạm Thế Ngũ (1963), Thanh Lãng (1967), Bùi Đức Tịnh (1972) Việt Nam văn học giản ước tân biên, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới Thiên về tư liệu văn học sử, phục dựng sự xuất hiện bước đầu của tiểu thuyết (như Thầy Lazaro Phiền năm 1887), chưa phân tích sâu hình thức thể loại.
Nhất Linh (1960), Nguyễn Văn Trung (1961), Nguyễn Đình Thi (1964), Doãn Quốc Sĩ (1972), Phan Cự Đệ (1975) Viết và đọc tiểu thuyết, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Công việc của người viết tiểu thuyết, Văn học và tiểu thuyết, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Bàn về kỹ thuật viết và lý luận tiểu thuyết từ kinh nghiệm cá nhân hoặc chuyên đề 70 năm tiểu thuyết, chưa khảo sát toàn diện tư liệu lý luận giai đoạn 1900–1945.
Công trình nghiên cứu, khảo luận (Sau 1986) Tôn Thất Dụng (1993), Trần Việt Trung (1994), Trần Mạnh Tiến (1996), Ngô Văn Giá (1996) Các luận án và chuyên luận về văn xuôi Nam Bộ, phê bình văn học 1900–1945, lý luận văn học 1900–1930 và 1930–1945 Bắt đầu khảo sát ý kiến về tiểu thuyết nhưng mang tính khái lược, chưa đặt lý luận thể loại tiểu thuyết thành đối tượng nghiên cứu độc lập xuyên suốt 1900–1945.
Nguyễn Ngọc Thiện (1996, 2004), Mã Giang Lân (1997), Bùi Việt Thắng (2001), Hà Minh Đức (2003), Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004), Trần Đình Sử (trong sách do Phan Cự Đệ chủ biên) Các khảo luận về tranh luận nghệ thuật 1935–1939, lịch sử phê bình, tổng tập văn học, so sánh thi pháp tiểu thuyết Khảo sát lát cắt các cuộc tranh luận hoặc diện mạo chung của phê bình văn học, chưa dừng lại phân tích chi tiết toàn bộ các bình diện lý luận thể loại.
Sách sưu tầm, biên soạn tư liệu Vương Trí Nhàn (1996), Viện Văn học (1997), Bùi Việt Thắng (2000), Nguyễn Ngọc Thiện (2003) Khảo về tiểu thuyết, Tuyển tập phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam (1900-1945) (5 tập), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 24A, 24B, 34), Bàn về tiểu thuyết, Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX (2 tập) Cung cấp nguồn văn bản gốc phong phú từ các nhóm tác giả Mác-xít và ngoài Mác-xít, đóng vai trò nền tảng tư liệu cho việc nghiên cứu hệ thống.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo hướng văn học sử, đánh giá trào lưu, khảo sát tác gia đơn lẻ hoặc tập hợp tư liệu bài báo. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: tập hợp, hệ thống hoá và giải mã toàn bộ tiến trình vận động của tư duy lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam suốt giai đoạn 1900–1945, dựng lại khung lý thuyết thể loại do các học giả đương thời xây dựng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Quan niệm về khái niệm "Tiểu thuyết" theo lịch sử: Đầu thế kỷ XX, khái niệm "tiểu thuyết" chưa có sự phân định ranh giới độ dài nghiêm ngặt như hiện nay. Các thuật ngữ "đoản thiên tiểu thuyết", "trung thiên tiểu thuyết", "trường thiên tiểu thuyết" được dùng để chỉ chung các tác phẩm tự sự văn xuôi. Một tác phẩm ngắn 32 trang như Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản hay truyện ngắn vài ba trang như Sống chết mặc bay (1919) của Phạm Duy Tốn khi đăng trên Nam Phong tạp chí vẫn được định danh là tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết tả chân. Luận án tôn trọng quan niệm lịch sử này của văn bản đương thời.
  • Lý thuyết thi pháp thể loại: Tiếp thu quan niệm về tiểu thuyết truyền thống một điểm nhìn (tiểu thuyết đơn thanh) theo khung phân tích của M. Bakhtin để đối chiếu, phân tích sự tiếp nhận thi pháp tiểu thuyết phương Tây tại Việt Nam.
  • Nguyên lý lý luận văn học Mác-xít: Sử dụng quan điểm lịch sử văn học và phản ánh luận để đánh giá sự vận động của tư duy nghệ thuật trong bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình lý thuyết – lịch sử văn học, sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp văn bản học:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập và lập danh mục có hệ thống các bài viết, chuyên luận, ý kiến bàn về tiểu thuyết trên báo chí và sách xuất bản giai đoạn 1900–1945.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Đặt các quan niệm lý luận vào đúng bối cảnh xã hội – văn hoá đương thời để giải mã, tránh việc suy diễn chủ quan hoặc hiện đại hoá tư duy học thuật của người xưa.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu giữa lý thuyết tiểu thuyết Trung Hoa (tiểu thuyết chương hồi) và tiểu thuyết phương Tây (cấu trúc tự sự, kỹ thuật trần thuật); so sánh giữa các quan niệm lý luận của các khuynh hướng phê bình khác nhau (Mác-xít và ngoài Mác-xít).
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Đi sâu phân tích từng ý kiến, từng phương diện thi pháp (nhân vật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ, bạn đọc) và tổng hợp thành hệ thống lý luận thể loại hoàn chỉnh.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn bản gốc trên báo chí, tạp chí đầu thế kỷ XX: Gia Định báo, Nông cổ mín đàm, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí, Phụ nữ Tân văn, Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Lục tỉnh tân văn.
  • Các chuyên luận, tiểu luận phê bình: Bàn về tiểu thuyết (Phạm Quỳnh, 1921), Theo giòng (Thạch Lam), Khảo về tiểu thuyết (Vũ Bằng, 1941), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan, 1942).
  • Các công trình sưu tập tư liệu: Tuyển tập phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam (1900-1945) (5 tập), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 24A, 24B, 34), Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX (2 tập).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những tiền đề xã hội - văn hoá ảnh hưởng đến sự ra đời của tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ

Chương 1 phân tích các nhân tố lịch sử, văn hoá, xã hội đóng vai trò tiền đề trực tiếp cho sự xuất hiện của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ:

  • Sự phát triển của môi trường và đời sống đô thị: Quá trình thực dân hoá và hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp (trước và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) dẫn đến sự hình thành các đô thị hiện đại. Đô thị làm xuất hiện các giai cấp và tầng lớp xã hội mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản – công chức, học sinh, sinh viên, thị dân. Hệ thống giáo dục mới theo mô hình Pháp (với trường đại học đầu tiên thành lập năm 1906 tại Hà Nội) tạo ra tầng lớp độc giả mới có nhu cầu thưởng thức văn hóa thoát ly giáo huấn đạo lý Nho giáo truyền thống, đòi hỏi phản ánh số phận cá nhân và đời sống thế tục thường nhật.
  • Chữ quốc ngữ và vai trò xã hội: Từ công cụ hành chính ban đầu của chính quyền thuộc địa, chữ quốc ngữ được các sĩ phu Duy Tân và giới trí thức tiếp nhận như phương tiện đấu tranh văn hoá và truyền bá tư tưởng. Nhà nghiên cứu Hoàng Tiến chỉ ra 4 tác động của chữ quốc ngữ: mở đầu ngành báo chí; mở đầu nghề in ấn xuất bản; khởi nguồn cho các thể loại văn học mới (thơ mới, kịch nói, truyện ngắn, tiểu thuyết); trở thành công cụ dân tộc vượt khỏi sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa. Chữ quốc ngữ giúp văn học Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng Hán học và không bị đồng hoá vào khối văn học Pháp ngữ (Francophone).
  • Sự ra đời và phát triển của báo chí: Bắt đầu từ Gia Định báo (15/4/1865), báo chí trở thành môi trường tồn tại chính của văn học mới. Báo chí giúp câu văn xuôi tiếng Việt dần thoát khỏi lối văn biền ngẫu, đăng đối, tiếp thu cú pháp lôgic, sáng rõ của tiếng Pháp. Báo chí là cầu nối trung gian đưa tiểu thuyết đến với công chúng dưới hình thức đăng nhiều kỳ (feuilleton) trước khi xuất bản thành sách.
  • Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa:
    • Tình hình dịch thuật truyện Tàu: Phát triển mạnh, đặc biệt ở Nam Bộ. Nhà biên khảo Bằng Giang thống kê: từ năm 1907 đến 1930 tại Nam Kỳ có tới 100 đầu sách truyện Tàu được dịch (dịch giả tiêu biểu: Trần Phong Sắc với gần 20 đầu sách, Nguyễn An Khương, Nguyễn Đỗ Mục...).
    • Dấu ấn thể loại: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn đầu (Hồ Biểu Chánh, Tân Dân Sử, Phạm Minh Kiên) chịu ảnh hưởng rõ nét từ kết cấu chương hồi, trần thuật đơn tuyến theo trục thời gian biên niên, mô típ nhân vật "tài tử – giai nhân" và hảo hán nghĩa hiệp.
  • Ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây:
    • Dịch thuật và phỏng tác: Đông Dương tạp chí giới thiệu khoảng 50 tác giả Pháp (Rousseau, Voltaire, Pascal...). Hồ Biểu Chánh thống kê trong 18 cuốn tiểu thuyết viết giai đoạn 1912–1932 có 8 cuốn phỏng tác từ tác phẩm phương Tây (Chúa Tàu kim quy phỏng theo Le Comte de Monte-Cristo; Cay đắng mùi đời phỏng theo Sans Famille; Ngọn cỏ gió đùa phỏng theo Les Misérables; Thầy thông ngôn phỏng theo Les Amours d'Esther; Kẻ làm người chịu phỏng theo Les Deux Gosses; Vì nghĩa vì tình phỏng theo Fanfan et Claudinet; Cha con nghĩa nặng phỏng theo Le Calvaire; Nặng gánh oan khiên và truyện thơ Vậy mới phải phỏng theo Le Cid). Nguyễn Thời Xuyên phỏng tác Người vợ hiền (1931) từ Une honnête femme của Henry Bordeaux.
    • Đặc trưng thể loại tiếp thu: Tiếp thu mô hình tiểu thuyết đơn thanh (M. Bakhtin), kết cấu cốt truyện 5 bước (mở đầu, thắt nút, phát triển, cao trào, cởi nút), loại bỏ yếu tố kỳ ảo của truyện Nôm, du nhập thể loại tiểu thuyết trinh thám (Kim thời dị sử năm 1917 của Biến Ngũ Nhi, các tác phẩm của Bửu Đình, Phú Đức).
  • Đội ngũ tác giả: Sự chuyển dịch thế hệ người cầm bút qua 4 nhóm: nhà nho chí sĩ, nhà nho tài tử, các nhà nho sáng tác văn chương ở buổi giao thời, và thế hệ nhà văn – trí thức tân học.

Chương 2: Quan niệm chung về tiểu thuyết trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2 tổng hợp các nhận thức lý luận nền tảng về thể loại tiểu thuyết:

  • Khái niệm về tiểu thuyết: Giới nghiên cứu xác định tiểu thuyết là thể loại tự sự phản ánh hiện thực xã hội và tâm lý con người qua hình thức văn xuôi, phân biệt với văn học chức năng giáo huấn đạo đức phong kiến thời trung đại.
  • Phân loại tiểu thuyết: Luận án trình bày và đối chiếu 4 hệ thống phân loại tiêu biểu:
    1. Phân loại theo Phạm Quỳnh (1921): Phân loại dựa trên nội dung và tính chất phản ánh xã hội, luân lý và tâm lý.
    2. Phân loại theo Thạch Lam (trong Theo giòng): Chú trọng tiểu thuyết tâm lý, cảm giác và chiều sâu nội tâm nhân vật.
    3. Phân loại theo Vũ Bằng (trong Khảo về tiểu thuyết, 1941): Phân loại theo kết cấu, đề tài và kỹ thuật tự sự.
    4. Phân loại theo Vũ Ngọc Phan (trong Nhà văn hiện đại, 1942): Phân loại theo các khuynh hướng nội dung và trào lưu (tiểu thuyết xã hội, phong tục, tâm lý, lãng mạn, trinh thám).
  • Quan niệm về nhà văn và nhà tiểu thuyết:
    • Tài năng và nhân cách: Khẳng định tính chân thực, thành thực là phẩm chất cốt lõi của người viết tiểu thuyết (như quan điểm của Thạch Lam, Nhất Linh).
    • Dấu ấn tác giả và quy trình sáng tác: Nhà văn được nhìn nhận như một nghệ sĩ độc lập, một nhân cách văn hoá mới với quy trình lao động nghệ thuật qua các khâu: tích luỹ vốn sống, thai nghén cảm hứng, xây dựng tính cách và hoàn thiện văn bản.

Chương 3: Vấn đề hiện thực và nghệ thuật viết tiểu thuyết

Chương 3 đi sâu vào mối quan hệ giữa văn học và đời sống cùng hệ thống kỹ thuật thi pháp tiểu thuyết:

  • Tiểu thuyết và hiện thực đời sống:
    • Khuynh hướng tả thực và tả thực xã hội: Quan niệm tiểu thuyết phải là tấm gương phản chiếu bức tranh đời sống, phê phán bất công xã hội (tiêu biểu qua quan điểm của Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Trương Tửu).
    • Khuynh hướng tả chân: Quan niệm miêu tả chân xác các chi tiết đời sống sinh hoạt, tâm lý thế tục thường ngày.
  • Nghệ thuật viết tiểu thuyết:
    • Xây dựng nhân vật: Chuyển dịch từ nhân vật hành động, nhân vật mang tính biểu trưng đạo đức sang nhân vật tâm lý, nhân vật có tính cách phức tạp, đa chiều và chịu sự quy định của hoàn cảnh sống.
    • Tổ chức cốt truyện: Giảm bớt sự lệ thuộc vào các biến cố ly kỳ, ngẫu nhiên; cốt truyện phát triển tự nhiên theo lôgic tâm lý nhân vật thay vì sắp đặt khiên cưỡng.
    • Kết cấu tiểu thuyết: Phá vỡ kết cấu chương hồi đơn tuyến và kết thúc có hậu ước lệ; xây dựng kết cấu mở, kết cấu tâm lý, kết cấu đa tuyến phù hợp với thực tế đời sống.
    • Ngôn ngữ tiểu thuyết: Hiện đại hoá ngôn ngữ văn xuôi, đưa khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hàng ngày vào tác phẩm, cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện.

Chương 4: Vấn đề bạn đọc tiểu thuyết và phê bình tiểu thuyết

Chương 4 khảo sát hoạt động tiếp nhận và môi trường đánh giá thể loại:

  • Bạn đọc tiểu thuyết:
    • Mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc: Độc giả không còn là đối tượng tiếp nhận thụ động các bài học luân lý mà là người đồng sáng tạo, người tiêu dùng thẩm mỹ định hướng thị trường sách.
    • Bạn đọc – chủ thể của hoạt động tiếp nhận: Nhận diện sự hình thành của công chúng thị dân với thị hiếu thẩm mỹ đa dạng, thúc đẩy các dòng tiểu thuyết khác nhau phát triển.
  • Phê bình tiểu thuyết:
    • Cơ sở phê bình: Chuyển từ lối bình điểm, phẩm bình cảm tính truyền thống sang phê bình học thuật dựa trên các tiêu chí lý thuyết thể loại, phân tích cấu trúc tác phẩm và thi pháp học.
    • Các khuynh hướng phê bình: Tồn tại song song giữa phê bình mác-xít (duy vật biện chứng, gắn văn học với đấu tranh xã hội) và phê bình ngoài mác-xít (phê bình ấn tượng, phê bình tâm lý, phê bình nghệ thuật vị nghệ thuật).
    • Đội ngũ nhà phê bình: Hình thành lớp nhà phê bình chuyên nghiệp (Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Trương Chính, Lê Thanh...).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên tập hợp, hệ thống hoá và đánh giá một cách toàn diện các vấn đề lý luận về thể loại tiểu thuyết trong mảng nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945.
  • Làm sáng tỏ rằng ngay trong những thập kỷ đầu xây dựng nền văn học quốc ngữ, các học giả và nhà văn Việt Nam đã bước đầu xây dựng được một hệ thống quan niệm lý thuyết thể loại tương đối hoàn chỉnh (về khái niệm, phân loại, mối quan hệ giữa hiện thực và hư cấu, kỹ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và tiếp nhận văn học).
  • Chứng minh hệ thống lý luận thể loại giai đoạn này đã tạo tiền đề học thuật trực tiếp cho sự phát triển và hiện đại hoá của tiểu thuyết Việt Nam ở các giai đoạn tiếp theo trong thế kỷ XX.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống, phục vụ công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy các bộ môn Lý luận văn học, Lịch sử văn học Việt Nam và Lịch sử phê bình văn học Việt Nam tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu báo chí đầu thế kỷ XX bị phân tán, thất lạc qua thời gian và chiến tranh, một số bài viết hoặc ý kiến phê bình trên các ấn phẩm địa phương chưa thể bao quát tuyệt đối trọn vẹn. Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào văn bản lý luận, chưa thể phân tích chi tiết toàn bộ các tác phẩm sáng tác thực tế tương ứng của từng tác gia.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình vận động lý luận tiểu thuyết Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Á (như Trung Quốc, Nhật Bản) trong cùng thời kỳ hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX; đi sâu khảo cứu các chuyên đề độc lập về thi pháp tiểu thuyết của từng nhóm tác giả hoặc khuynh hướng phê bình cụ thể.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng học thuật:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học: Tham khảo phương pháp tiếp cận văn bản học lịch sử, khung phân tích thể loại tự sự và cách xử lý nguồn tư liệu báo chí nửa đầu thế kỷ XX.
  • Giảng viên Đại học ngành Ngữ văn: Sử dụng nội dung Chương 1 và Chương 2 làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1900-1945), Tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc và Lịch sử phê bình văn học Việt Nam.
  • Các nhà nghiên cứu lý luận – phê bình văn học: Khai thác hệ thống tư liệu tổng hợp ở Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu sự chuyển biến của các khái niệm thi pháp (nhân vật, kết cấu, bạn đọc) từ văn học truyền thống sang văn học hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu bài viết về thể loại tiểu thuyết trong giai đoạn 1900–1945?

Theo số liệu thống kê từ bộ Tuyển tập nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam từ 1900-1945 do tác giả dẫn xuất, trong tổng số 199 bài viết và đầu sách được sưu tầm, có 47 bài viết trực tiếp bàn về thể loại tiểu thuyết.

2. Các công trình nghiên cứu quy mô đầu tiên về lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam gồm những tác phẩm nào?

Văn bản luận án nêu rõ công trình nghiên cứu quy mô và hệ thống đầu tiên về tiểu thuyết là loạt bài khảo luận Bàn về tiểu thuyết (1921) của học giả Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí, tiếp sau đó là tập tiểu luận Theo giòng của Thạch Lam và chuyên khảo Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ Bằng.

3. Tỷ lệ phỏng tác tiểu thuyết phương Tây của nhà văn Hồ Biểu Chánh được ghi nhận với số liệu cụ thể nào?

Theo bảng thống kê của chính nhà văn Hồ Biểu Chánh trong cuốn Đời của tôi về văn nghệ được luận án trích dẫn: trong số 18 cuốn tiểu thuyết ông viết từ năm 1912 đến năm 1932, có 8 cuốn được viết theo hình thức phỏng tác từ các tác phẩm văn học Pháp (tiêu biểu như phỏng tác từ Hector Malot, Alexandre Dumas, Victor Hugo, Pierre Corneille, Marcel Pagnol...).

4. Báo chí quốc ngữ đầu thế kỷ XX đã tác động như thế nào đến sự phát triển của ngôn ngữ tiểu thuyết?

Báo chí quốc ngữ (bắt đầu từ Gia Định báo năm 1865 và hệ thống báo chí những năm 1920 trở đi) đã giúp câu văn xuôi tiếng Việt thoát dần khỏi lối viết biền ngẫu, đăng đối, có vần của văn học truyền thống; đồng thời tiếp thu cú pháp lôgic, chuẩn xác của tiếng Pháp và đưa ngôn ngữ đời sống hàng ngày vào văn học, tạo nên công cụ biểu đạt linh hoạt cho thể loại tiểu thuyết.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kiều Anh đã tái hiện một cách hệ thống và khoa học diện mạo lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945. Thông qua việc phân tích các tiền đề đô thị, báo chí, chữ quốc ngữ cùng nguồn ảnh hưởng từ văn học Trung Hoa và phương Tây, công trình đã làm rõ quá trình xác lập các quan niệm thi pháp cốt lõi về nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ và hoạt động tiếp nhận tiểu thuyết. Kết quả nghiên cứu khẳng định những đóng góp nền tảng của giới học giả, nhà văn nửa đầu thế kỷ XX trong việc đặt nền móng lý thuyết cho sự đổi mới và hiện đại hoá nền tiểu thuyết dân tộc.