Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VE THE KÝ VÀ HANH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 1. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN 1. khái niệm về thể loại Ký là một thể loại văn học thuộc phương thức tự sự lây người thật, việc thật làm đối tượng miêu tả và phản ánh. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa viết ký là sao chép y nguyên cuộc sống.
Sức hấp dẫn của ký là đem lại niềm tin cho người đọc với sự thuyết phục của những trang văn vừa có vẻ đẹp văn chương, mỹ học, cảm xúc, vừa chân thực bám sát cuộc song. Nén, cũng như bat cứ tác phẩm nghệ thuật nào, cuộc sống hiện thực chỉ là cái cớ, là xuất phát điểm dé nhà văn trình bày quan điểm thâm mỹ của mình. Do đó, dé viết được những trang ký hay thì điều quyết định chính là tdi năng chứ không phải là sự tinh cờ. Viết ký khó và viết nhiều mà hay thì càng không đơn giản chút nào nên trong thực tế tồn tại nhiều quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về thé loại này.
Có hai hướng quan niệm trái ngược nhau trong việc đánh giá thê loại ký. Nhiều người, trong đó có cả các nhà văn, nhà phê bình văn học có cái nhìn “xem thường”, “hạ thấp”, "thiếu tín nhiệm" đối với ký, coi ky “là công việc cua tay trai, ky la thể loại dan em so với các thé loại văn học khác”, "là một loại thủ công nghiệp mang tinh chất gia công (.) là phương tiện để các nhà văn thoi đại “lay ngăn nuôi dai” (.) là một sản pham văn học thứ cap 11 Tran Thi Thu Nga Văn xuôi Hoàng Phu Ngọc Tường dưới góc nhìn thể loại (sous lif¿rafure)”. Day là "những thành kiến vô Ly", "bat công và sai lam"! Mặt khác, cũng có nhiều người đã khang định vi tri, vai trò của ký. Trong đó, có nhiều ý kiến đồng nhất khi khăng định tính chiến đấu của thé loại này như: B.Pôlêvôi, một tác giả viết ký quen thuộc xem ký là thé loại văn học chiến dau có hiệu lực cao; Lỗ Tan xuất phát xem tạp văn là thể loại “ngôn chí hữu vật”, góp phần tham gia vào đấu tranh xã hội; Giáo sư Hà Minh Đức khang định: “7rong văn học nhiễu nước, bút ký góp phan xứng đáng vào sự phát triển chung của văn học” [40, tr.213] và “các thé ký văn học góp phan làm cho nên văn học cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính chiến đấu” [40, tr.211]; hay néu Bui Hién xem ky là “vũ khí nhẹ, cơ động và hiệu lực, có thể xông xdo trên khắp các mặt trận của chiến trưởng” [40, tr.212] thì nhà văn Tô Hoài nhẫn mạnh: “Tir chỗ bắt dau như chỉ là những ghi chép có tinh chất tài liệu, ký đã trở thành một vũ khí lợi hại của các nên văn học tiến bộ và cách mạng trong cuộc dau tranh chong kẻ thù giai cấp và xây dựng xã hội” [40, 212];.
Tuy nhiên, để xác định khái niệm thể loại ký thì không đơn giản chút nào nên Tô Hoài cho rang: “Ký cững như truyện ngăn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó day, nhưng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng. Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn” [53. Do đó, tồn tại rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về ký. Có những ý kiến cho rằng ký nằm giữa ranh giới của các thê loại khác nhau như: “Ký là một biến thể của loại tự sự” (Gulaiép), là “thể loại nằm giữa nghiên cứu và thơ” (M.Gorki); là “thé loại nằm giữa truyện ngắn và tho" (Phạm Hồ); hay theo Từ điển thuật ngữ văn học thì ký là: “mét loại hình văn học trung gian, nam giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thé, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ky, hoi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật kỷ, tuỳ biit,.
Giáo su Hà Minh Đức, Phương Luu, Trần Đình Sử gặp nhau trong việc định nghĩa ký là thê văn xuôi tự sự với nhiêu dạng tường thuật, miêu tả, biêu hiện, bình luận 12 Trần Thị Thu Nga Văn xuôi Hoàng Phu Ngọc Tường dưới góc nhìn thể loại về những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, nên phải tôn trọng tính xác thực với mức độ hư cấu trong một giới hạn nhất định. Hoàng Ngọc Hiến thì định nghĩa: “Trong nghiên cứu văn học Việt nam đương đại ký là một thuật ngữ được dùng dé goi tén mot thé loai van hoc bao trim nhiéu “thể” hoặc “tiểu thể”: bút ký, hồi kỷ, du kỷ, ký chính luận, phóng sự, tuỳ but, tan văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe). Như vậy, trong các thê loại văn học, ký có một tọa độ khá đặc biệt và mong manh ranh giới giữa tự sự, trữ tình, báo chi. Ký có nghĩa gốc là ghi.
Đó là những ghi chép về đời sống thường nhật, về văn hoá, lịch sử, thiên nhiên,. Nhưng, sự ghi chép cũng có nhiều dạng thức nên ký không phải là thể loại thuần nhất mà bao gồm nhiều hình thức ghi chép và biểu hiện cuộc sống như ký sự, phóng sự, bút ký, hồi ký, nhật ký, du ký, tuỳ bút, tiêu phẩm văn học, bút ký chính luận,. Mỗi tiêu loại này đều xuất phát là ghi chép nhưng có những điểm riêng xác định. Chúng tôi điểm qua một số tiêu loại xuất hiện nhiều trong văn xuôi HPNT là: Tuỳ bút: Từ trong truyền thống phương Đông, tuỳ bút đã được xác định là một thê loại văn xuôi thực sự tự do, phóng túng, không bị ràng buộc bởi những khuôn khổ có tính quy phạm, cả về nội dung tư tưởng và cách thức thê hiện.
Hiểu theo cảm tính, tuỳ bút là những trang văn xuôi mà nhà văn tùy theo ngòi bút mà đưa đây như Nguyễn Tuân từng quan niệm: "Nguyên tắc quan trọng nhất của tùy bút là không có nguyên tắc gì cả". Trong Hán việt từ điển giản yếu thì tác giả Đào Duy Anh giải thích tuy but là "tuỳ thời mà biên chép", nghĩa là ngoài cảm xúc chủ quan của người viết, tùy bút còn chịu sự chỉ phối của hoàn cảnh khách quan. Có thể hiểu một cách chung nhất, tùy bút là sự ghi chép về những con người và sự kiện cụ thể có thực và qua đó, tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sông hiện tại. 13 Trần Thị Thu Nga Văn xuôi Hoàng Phu Ngọc Tường dưới góc nhìn thể loại Bút ký: là một bộ phận của ký văn học, bút ký được xếp vào thể loại trữ tình.
Những trang bút ký kết hợp việc ghi chép con người, sự kiện cùng với việc bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, tư tưởng tác giả. Đây là “một thể loại phóng khoáng, tự do mà cá tính nghệ sĩ thường trực tiếp tham gia vào đặc điểm thể loại” [40, tr. Bút ký không chỉ có những trang thi vị ngọt ngào đăm thắm mà còn có những trang chính luận phản ánh hiện thực đời sống ở cái thế trực tiếp, bay tỏ thái độ thăng than đấu tranh, phê phán, châm biém. Nhàn đàm: Theo Từ điện Tiếng Việt, nhàn đàm là “bàn về những van dé không quan trọng và không có trọng tâm” [57, tr.
Tuy nhiên, nhàn đàm nói ở đây không phải là một cách nói về những việc vô nghĩa, “không quan trọng” mà là một tiêu loại của ký. Hòa cùng đời sống báo chí sôi động thời kì đổi mới, báo Thanh Niên mở mục Nhàn đàm dé khuyên khích tiếng nói chân thực, dân chủ, cởi mở về những vấn đề xã hội. HPNT là một trong những nhà văn đã tham gia đắc lực chuyên mục này với những bài viết ngắn gọn, sắc sảo mang phong cách báo chí. Ở đây, nhà văn chủ yếu hướng ngòi bút của mình vào những van đề nhức nhối dang đặt ra trong cuộc sống, song đôi lúc, nhàn đàm cũng là nơi HPNT gửi gắm một triết lí sống, một quan niệm nhân sinh, có khi là một thú vui, một dòng xúc cảm chợt wa đến,.
và nhất là ông được tự do đàm theo lối riêng của mình. Đối với ông, nhàn đàm “là một thể loại bút ký cực ngắn và chỉ triển khai một vấn đề”. Tìm hiểu tản văn Việt Nam thời kì đổi mới, Lê Trà My cho răng: nhàn đàm của HPNT từ cuối thập kỉ 90 và những năm đầu thế kỉ XXI “như một sự tái sinh thể loại đã được Tản Đà khơi nguồn từ những năm đâu thế kỉ XX” [105]. Hoàng Sỹ Nguyên thì nhận xét: “nhàn đàm mà không nhàn chút nào cả”, đó là “những chữ màu huyết dụ của máu con chim yến nha ra xây to” [18, tr.
Truyện ký: là thê loại có tính chất trung gian giữa truyện và ký nên tác phẩm thường có cốt truyện hoàn chỉnh tập trung vào việc trần thuật một nhân vật, thường là những danh dân về khoa học, nghệ thuật; những anh hùng trên 14 Trần Thị Thu Nga Văn xuôi Hoàng Phu Ngọc Tường dưới góc nhìn thể loại mặt trận chiến đấu và sản xuất; những chính khách; những nhà hoạt động cach mạng:. Mỗi tiểu loại trên có những nét riêng nhưng về cơ bản đều mang đặc trưng chung của thé ký như là nền tảng của thé loại đã trầm chắc, lắng đọng trong suốt chặng đường hình thành và phát triển. Đọc ký của HPNT, có tác phẩm là truyện ký, có tác phẩm là nhàn đàm, có tác phẩm là bút ký, tùy bút, nhưng tất cả các tác phẩm của ông đều bám sát đặc trưng cơ bản “người thật việc thật” của ký. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ký HPNT không bị khuôn theo đặc trưng đó một cách cứng nhắc mà phan lớn các tác phẩm đều thấm đẫm chất trữ tình.
Vi thế, dù viết theo tiểu loại nào của ký, HPNT cũng khang định một phong cách đặc trưung của người sở trường với dòng ký trữ tình. Những đặc trưng thể loại “Về ky, thực tế là không thé nói đến cái gì xác định được đặc trưng thé loại cua nó” [53, tr. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là việc tim hiểu ký rơi vào con đường bế tắc và ký là cái gì đó chung chung, đại khái chi là một tên gọi chứ không có hồn cốt riêng. Vậy, đặc trưng riêng của thể loại nay là gi? Dé trả lời câu hỏi này, trước hết cần phân biệt ký báo chí và ký văn học: “Ký văn học và ký báo chí giống nhau ở chỗ déu tôn trọng tính xác thực và tính thời sự.
Nhưng ở ky bao chí tính xác thực phải được dam bao ở mức tuyệt đối, và tính thời sự cũng mang tính chất thật cấp bách, có khi hằng ngày hang giờ. Ký văn học không đòi hỏi như vậy, ngược lại nó dé ra yêu cau cao hơn về chất suy nghĩ về tình cảm của chủ thể” [53, tr.