Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Bài ca giữ nước" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Nga thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Lê Thị Hoài Phương. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, mã số đào tạo: 9210221.

Thông tin tổng quan Nội dung chi tiết trong luận án
Học viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nga
Cơ sở đào tạo Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu (Mã số: 9210221)
Cán bộ hướng dẫn GS. TS Lê Thị Hoài Phương
Năm bảo vệ 2018
Khối lượng văn bản Mở đầu (12 tr.), Chương 1 (47 tr.), Chương 2 (41 tr.), Chương 3 (30 tr.), Kết luận (4 tr.), Tài liệu tham khảo (8 tr.), Phụ lục (39 tr.)

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau năm 1975, nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam (đặc biệt là Tuồng và Chèo) rơi vào tình trạng khủng hoảng, mất phương hướng trước sự cạnh tranh của các loại hình giải trí hiện đại. Thập niên 1970 và 1980 xuất hiện nhiều thử nghiệm sáng tác "Chèo mới", "Chèo hiện đại", nhưng phần lớn các thể nghiệm này không nắm vững đặc trưng nghệ thuật truyền thống, dẫn đến hiện tượng bị gọi là "Kịch cắm ca" hoặc đánh mất bản sắc Chèo cổ. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của tác phẩm bộ ba Chèo Bài ca giữ nước của NSND Tào Mạt (sáng tác giai đoạn 1979–1985, bản dựng của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần) là một hiện tượng sân khấu đặc biệt, chứng minh khả năng sáng tác và dàn dựng tác phẩm Chèo mới phản ánh vấn đề lịch sử và hiện đại mà vẫn bảo tồn, phát huy trọn vẹn thi pháp Chèo truyền thống.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Sau gần 30 năm kể từ khi tác phẩm ra đời, dù có nhiều bài viết phê bình và hội thảo khoa học, sân khấu học Việt Nam vẫn thiếu một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện trên cả hai bình diện kịch bản văn học và vở diễn sân khấu; đồng thời chưa có công trình nào khai thác sâu phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" gắn liền với tư liệu hồi cố thực địa từ ê-kíp nghệ sĩ thế hệ đầu tiên trực tiếp làm việc với Tào Mạt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích tổng quát: Rút ra những bài học nghề nghiệp cho việc sáng tác, dàn dựng và biểu diễn Chèo trong đời sống hiện đại theo phương châm vừa bảo tồn các giá trị của Chèo cổ, vừa phát triển nghệ thuật Chèo để hòa nhập với xã hội đương đại.
  • Mục tiêu cụ thể: Khẳng định các thành công của Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống qua bộ ba Chèo Bài ca giữ nước trên bốn phương diện:
    1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và sắp trò.
    2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Hề.
    3. Sáng tác và sử dụng các làn điệu Chèo.
    4. Phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo truyền thống, về tác giả Tào Mạt và tác phẩm của ông; nêu bật các đặc trưng cơ bản của Chèo truyền thống cần kế thừa.
    2. Hệ thống hóa một số vấn đề lịch sử và lý luận cơ bản của nghệ thuật sân khấu Chèo Việt Nam.
    3. Phân tích, đánh giá những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của tác giả, đạo diễn Tào Mạt cùng Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần qua tác phẩm bộ ba Chèo Bài ca giữ nước.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu bao trùm: Tào Mạt đã kế thừa và phát triển những yếu tố gì của nghệ thuật Chèo truyền thống và đã vận dụng như thế nào vào sáng tác và dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1: Tào Mạt đã kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước trên bốn phương diện cụ thể: (1) Xây dựng cốt truyện và sắp trò; (2) Xây dựng nhân vật Hề Hoạn – Hề Già; (3) Sử dụng chất liệu ca dao, dân ca để sáng tác các làn điệu, lời ca mới; (4) Phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2: Phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" (văn - kịch bản, nhạc - hát, múa - diễn, họa) của Tào Mạt và các cộng sự là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên thành công của bộ ba Chèo Bài ca giữ nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những sáng tạo của tác giả, đạo diễn Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống thể hiện trong tác phẩm bộ ba Chèo Bài ca giữ nước.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 phương diện nghệ thuật: kịch bản (cốt truyện, sắp trò), nhân vật Hề, âm nhạc làn điệu, và phương pháp dàn dựng kết hợp nghệ thuật biểu diễn.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát:
    • Bình diện kịch bản văn học: Văn bản in trong sách Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Tào Mạt, Đỉnh cao phía trước, Bộ ba Chèo Bài ca giữ nước (gồm 3 vở: Lý Thánh Tông chọn người tài, Ỷ Lan coi việc nước, Lý Nhân Tông học làm vua), Nxb Sân khấu xuất bản năm 2003.
    • Bình diện vở diễn: Bản diễn đầu tiên của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội) do chính Tào Mạt chỉ đạo nghệ thuật và dàn dựng (giai đoạn 1979–1985); có tham khảo bản dựng phục hồi năm 2002 của đơn vị này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm luận

  1. Nhóm nghiên cứu về Chèo truyền thống:
    • Nghiên cứu tổng hợp lịch sử - lý luận: Công trình Bước đầu tìm hiểu sân khấu Chèo của Trần Việt Ngữ và Hoàng Kiều; Chèo – một hiện tượng sân khấu dân tộc (tái bản năm 1999 tên là Khái luận về Chèo) của GS. NSND Trần Bảng; Lịch sử nghệ thuật Chèo đến giữa thế kỷ XX của Hà Văn Cầu; Đường trường phải chiều, Con đường phát triển của Chèo, Nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo của TS. Trần Đình Ngôn; Sân khấu truyền thống - Từ chức năng giáo huấn đạo đức, Nghệ thuật Chèo - nhận thức từ một phía, Diện mạo sân khấu – nghệ sĩ và tác phẩm của PGS. Tất Thắng; Sân khấu và nghệ sĩ sáng tạo của TS. Trần Trí Trắc; Tổng luận nghệ thuật Chèo nửa sau thế kỷ 20 (tập hợp bài viết của Hà Văn Cầu, Vũ Khắc Khoan).
    • Nghiên cứu chuyên sâu kịch bản: Bước đầu viết Chèo của Tú Mỡ; Tìm hiểu phương pháp viết Chèo (1974) và Mấy vấn đề trong kịch bản Chèo (1977) của Hà Văn Cầu; Cách viết một vở Chèo (1984) của Trần Việt Ngữ; Kịch bản Chèo từ dân gian đến bác học và Nghệ thuật viết Chèo của Trần Đình Ngôn.
    • Nghiên cứu Hề Chèo: Bước đầu tìm hiểu tiếng cười trong Chèo cổ (Trần Việt Ngữ, Hoàng Kiều); Hề Chèo (chọn lọc) của Hà Văn Cầu; Tiếng cười trên sân khấu truyền thống của Trần Bảng; đề tài cấp Viện Sự kế thừa, phát triển nghệ thuật xây dựng nhân vật Hề từ chèo cổ đến chèo hiện đại (2006) của Phạm Việt Hà.
    • Nghiên cứu làn điệu, ca hát, múa và biểu diễn: Hoàng Kiều với Sử dụng làn điệu Chèo và Tìm hiểu các làn điệu Chèo cổ; Lê Ngọc Canh với Nghệ thuật múa Chèo; Trần Lan Hương với Nghệ thuật múa trong Chèo truyền thống; Hà Văn Cầu với Bình diện kỹ thuật trong diễn xuất Chèo; Trần Đình Ngôn với Nghệ thuật biểu diễn Chèo truyền thống; Lương Thị Hoàng Thi với Về nghệ thuật biểu diễn Hề chèo truyền thống.
  2. Nhóm nghiên cứu về sự kế thừa và cách tân:
    • Các công trình đánh giá phong trào "Chèo Văn minh" và "Chèo Cải lương" của Nguyễn Đình Nghị: cuốn Nguyễn Đình Nghị và Chèo Cải lương (1994) của Trần Việt Ngữ; Kỷ yếu hội thảo Nguyễn Đình Nghị với sự phát triển nghệ thuật Chèo (Hải Hưng, 1995); Kỷ yếu hội thảo Thực trạng Chèo hôm nay (1995); công trình Nghệ thuật Chèo hiện đại – kế thừa và biến đổi của Đinh Quang Trung.
  3. Nhóm nghiên cứu về Tào Mạt và tác phẩm:
    • Công trình chuyên sâu Tào Mạt và Chèo (2003) của TS. Trần Đình Ngôn; tập bài viết Tào Mạt – những lời tâm huyết (1992); Kỷ yếu Hội thảo Tào Mạt và Bài ca giữ nước (2003); các bài báo của Đỗ Tính (nghệ thuật sử dụng hát), Mai Văn Lạng (ca từ), Nguyễn Thị Thanh Phương (làn hát cho Hề già); các luận văn của Mai Tú Lệ (Đại học) và Nguyễn Thị Thanh Nga (Thạc sĩ, 2014: Từ vai Hề Chèo truyền thống đến nhân vật Hề trong Bài ca giữ nước của Tào Mạt).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ rõ: Các công trình của thế hệ đi trước (như cuốn Tào Mạt và Chèo của Trần Đình Ngôn) chủ yếu tập trung phân tích văn bản kịch bản hoặc phê bình học thuật về mặt nghệ thuật kịch bản, ít đi sâu vào chi tiết quá trình dàn dựng thực tế và phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" tại Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần, đồng thời ít đặt tác phẩm trong mối quan hệ so sánh đối chiếu với các khuynh hướng Chèo cùng thời. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra điền dã, phỏng vấn sâu các nghệ sĩ thế hệ đầu trực tiếp tham gia vở diễn để phân tích toàn diện cả kịch bản, âm nhạc, nghệ thuật đạo diễn và diễn xuất sân khấu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm và cơ sở lý luận

Luận án vận dụng các khái niệm và nguyên tắc thẩm mỹ của sân khấu học truyền thống:

  • Chèo cổ và Chèo truyền thống: Tiếp thu quan điểm học thuật của TS. Trần Đình Ngôn, luận án phân biệt: di sản Chèo cổ để lại chỉ tồn tại dưới dạng kịch bản văn học (7 kịch bản cổ trong Tuyển tập Chèo cổ, 1999). Các vở diễn theo tích cổ hiện nay trên sân khấu là vở diễn "phục chế", được quy chuẩn định danh là "Chèo truyền thống" (kế thừa và phát triển trên nguyên tắc bảo tồn các phương pháp nghệ thuật Chèo cổ qua truyền nghề và chỉnh lý nâng cao).
  • Tính tự sự (sân khấu kể chuyện): Sân khấu kịch hát truyền thống Tuồng, Chèo thuộc dòng sân khấu tự sự. Tự sự trong Chèo là hình thức "diễn để kể, kể bằng diễn", kết hợp hữu cơ giữa tự sự, trữ tình và kịch tính; trong đó yếu tố tự sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối toàn bộ kết cấu tích trò, không gian, thời gian và hành động kịch theo tuyến tính thời gian nhằm phục vụ chức năng giáo huấn đạo đức (khuyến thiện trừng ác).
  • Ước lệ nghệ thuật: Phương thức thẩm mỹ mang tính quy ước biểu trưng cao (sân khấu tả ý), không đồng nhất hình tượng nghệ thuật với thực tại đời sống khách quan. Ước lệ chi phối mỹ thuật, đạo cụ, không gian, thời gian và động tác diễn xuất của diễn viên.
  • Trò và Trò nhời: Phân định hai thành tố: "Trò diễn" (diễn hành động, vũ đạo, hát là chính) và "Trò nhời" (lời thoại, lời kể trần thuật, đài từ là chính, động tác minh họa là phụ).
  • Phương pháp hiện thực tả ý và bút pháp tả thần: Phương pháp phản ánh cốt lõi bản chất hiện thực thông qua các chi tiết nghệ thuật hư cấu ước lệ ("dùng cái giả để nói lên điều thực"), tập trung lột tả cái "thần" bên trong của nhân vật và hiện thực thay vì sao chép tự nhiên chủ nghĩa kiểu "tả chân".
  • Hệ thống nguyên tắc mô hình hóa và chuyển hóa mô hình:
    • 5 mô hình nhân vật cơ bản: Thư sinh (Kép chính, Kép ngang), Đào (Đào chín, Đào lệch, Đào pha, Đào thương, Đào lẳng), Lão (Lão say, Lão mốc, Lão bộc, Lão chài), Mụ (Mụ thiện, Mụ ác, Mụ quán, Mụ mối), Hề (Hề áo ngắn/Hề gậy/Hề mồi/Đốp, Hề áo chùng/Hề quan).
    • Mô hình làn điệu: Hệ thống hóa 8 hệ gồm 87 làn điệu cơ bản (như hệ Hát Sắp, hệ Vãn, hệ Sử...) và 77 mô hình làn điệu chuyên dùng hoặc chưa định hình thành hệ (theo nghiên cứu của Hoàng Kiều).
    • Mô hình động tác cách điệu và múa: Mô hình múa minh họa lao động ("dệt cửi", "té bèo", "chèo đò"), múa tính cách ("ghẹo tiểu"), múa tâm trạng ("phất cành lá", "vò xé", "hất tóc").
Dạng mô hình trong Chèo Các phân nhánh / Biến thể chuyển hóa mô hình Chức năng nghệ thuật
Mô hình nhân vật • Kép (Kép chính, Kép ngang)
• Đào (Đào chín, Đào lệch, Đào pha)
• Lão (Lão say, Lão mốc, Lão bộc, Lão chài)
• Mụ (Mụ thiện, Mụ ác, Mụ quán, Mụ mối)
• Hề (Hề áo ngắn, Hề áo chùng)
Khái quát hóa các tầng lớp, tính cách, đạo đức con người theo quan niệm thiện - ác phân minh.
Mô hình làn điệu 8 hệ cơ bản (87 làn điệu: Sắp, Vãn, Sử, Đường trường...) và 77 mô hình làn điệu chuyên biệt. Biểu đạt các trạng thái cảm xúc, tâm lý hỉ - nộ - ái - ố - dục của nhân vật kịch hát.
Mô hình múa & cách điệu • Múa minh họa (xe chỉ, dệt cửi, té bèo, chèo đò)
• Múa tính cách (ghẹo tiểu)
• Múa tâm trạng (phất cành lá, vò xé, hất tóc)
Ước lệ hóa hành động đời sống và nội tâm nhân vật trên không gian chiếu Chèo.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành định tính, gồm 5 phương pháp cụ thể:

  1. Phương pháp sân khấu học: Là phương pháp trung tâm, vận dụng lý luận sân khấu học để phân tích kết cấu kịch bản, nghệ thuật sắp trò, làn điệu âm nhạc, vũ đạo và kỹ thuật diễn xuất của diễn viên.
  2. Phương pháp lý luận văn học: Nghiên cứu thân thế, tư tưởng nghệ thuật, phong cách tác giả Tào Mạt; giải mã văn bản kịch bản văn học trong mối tương quan với hoàn cảnh lịch sử xã hội.
  3. Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian: Phân tích cội nguồn văn hóa lúa nước Bắc Bộ, phương thức truyền khẩu, tính tập thể và các yếu tố thi pháp dân gian của Chèo sân đình.
  4. Phương pháp lịch sử - hồi cố: Đặt tác giả Tào Mạt và tác phẩm trong bối cảnh lịch sử đất nước giai đoạn 1979–1985; tái hiện quá trình sáng tạo trong điều kiện lịch sử cụ thể.
  5. Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các nghệ sĩ thế hệ đầu của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (những người trực tiếp làm việc với Tào Mạt khi tập luyện và công diễn ba vở Chèo) để thu thập tài liệu nguyên gốc về phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu".

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài luận án

Chương 1 (47 trang) tập trung giải quyết 3 nội dung nền tảng:

  • Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về Chèo truyền thống, các cuộc cách tân Chèo trong lịch sử (từ phong trào Chèo Văn minh 1907–1922 đến Chèo Cải lương của Nguyễn Đình Nghị từ 1924, và giai đoạn phục hồi vốn cổ sau 1954, 1960), đồng thời điểm luận các bài viết về Tào Mạt.
  • Xác lập khung lý thuyết sân khấu học: làm rõ bản chất tự sự - trữ tình - kịch của sân khấu Chèo; nguyên tắc ước lệ trong xử lý không gian, thời gian sân khấu; cơ chế mô hình hóa và chuyển hóa mô hình đối với 5 loại nhân vật, hệ thống làn điệu và khuôn múa Chèo cổ.
  • Khảo sát bối cảnh thực tiễn của sân khấu Chèo sau năm 1975: phân tích hiện tượng khủng hoảng kịch mục, tình trạng "kịch cắm ca", từ đó khẳng định sự xuất hiện của bộ ba Chèo Bài ca giữ nước là giải pháp thực tiễn thành công trong việc kế thừa các nguyên tắc thi pháp Chèo cổ để giải quyết các vấn đề tư tưởng thời đại.

Chương 2: Tào Mạt sáng tác và dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước trên cơ sở kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống

Chương 2 (41 trang) là chương trọng tâm khảo sát, phân tích chi tiết tác phẩm trên 4 bình diện sáng tạo:

  1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và sắp trò trong kịch bản Chèo:
    • Kế thừa: Tuân thủ nguyên tắc tự sự, trần thuật câu chuyện theo trình tự thời gian tuyến tính; bố cục các lớp diễn thành từng "mảnh trò", "tích trò" độc lập tương đối gắn với mục đích giáo huấn đạo đức chính trị.
    • Phát triển: Cốt truyện lịch sử thời Lý (qua 3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan) được xử lý theo phương pháp hiện thực tả ý, đan cài yếu tố lịch sử với hư cấu nghệ thuật để làm nổi bật chủ đề giữ nước, an dân và tuyển chọn hiền tài.
  2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Hề:
    • Kế thừa: Vận dụng thủ pháp gây cười tổng hợp ("trò diễn và trò nhời", "giễu hình và trò nhại"), tính trào lộng châm biếm sâu sắc của Hề Chèo cổ.
    • Phát triển: Sáng tạo cặp nhân vật Hề Hoạn – Hề Già (do nghệ sĩ Ngọc Viễn thể hiện). Tác giả đã chuyển hóa Hề từ dạng nhân vật "ngoài cốt truyện" (phi cốt truyện trong Chèo cổ) trở thành nhân vật trung tâm xuyên suốt cả ba vở kịch, tham gia trực tiếp vào xung đột cốt truyện, đóng vai trò là "lương tâm của thời đại", người dám nói lên tiếng nói phản biện của nhân dân trước ngai vàng. Tác phẩm đã thanh lọc các yếu tố tự nhiên chủ nghĩa, thô tục của hề dân gian để nâng tầm Hề Chèo thành tiếng cười trí tuệ và triết lý.
  3. Sáng tác và sử dụng các làn điệu Chèo:
    • Kế thừa: Sử dụng hệ thống làn điệu Chèo cổ phong phú, chuẩn xác về mặt tính cách và hoàn cảnh kịch (các điệu Sử, Sắp, Vãn, Đường trường...).
    • Phát triển: Nghệ thuật "bẻ làn nắn điệu", phổ thơ, lồng điệu sáng tạo; kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất liệu ca dao, dân ca đồng bằng Bắc Bộ với các thể thơ dân tộc, tạo ra các lời ca mới giàu chất trữ tình, tính kịch và triết lý sâu sắc, tiêu biểu là các làn hát dành riêng cho nhân vật Hề Già và Ỷ Lan.
  4. Phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn:
    • Phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu": Quá trình sáng tạo không tách rời giữa biên kịch tại bàn và đạo diễn sàn tập, mà kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa 4 thành tố: văn (kịch bản), nhạc (hát, làn điệu), múa/diễn (vũ đạo, hành động diễn xuất của diễn viên) và họa (mỹ thuật sân khấu).
    • Nghệ thuật biểu diễn: Tác giả - đạo diễn Tào Mạt đã trực tiếp rèn dạy diễn viên kết hợp giữa kỹ thuật diễn xuất ước lệ truyền thống với chiều sâu tâm lý nhân vật kịch hiện đại.
PHƯƠNG THỨC SÁNG TÁC ĐỒNG THỜI BỐN KHÂU CỦA TÀO MẠT

Chương 3: Những đóng góp của Tào Mạt và bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

Chương 3 (30 trang) tổng kết các giá trị của tác phẩm:

  • Đóng góp về mặt chính trị - xã hội: Tác phẩm là tiếng nói chính trị tiến bộ, đề cao tinh thần yêu nước, bài học trị quốc an dân, trọng dụng nhân tài, phê phán tệ quan liêu, thoái hóa của quan lại; tác phẩm tạo nên diễn đàn học thuật và chính trị sôi nổi trong đời sống xã hội giai đoạn 1979–1985.
  • Đóng góp về mặt nghệ thuật cho sân khấu kịch hát Việt Nam: Khẳng định mô hình thành công trong việc kế thừa và hiện đại hóa nghệ thuật truyền thống; cung cấp bài học về xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn nguyên tắc thi pháp Chèo cổ và phản ánh hiện thực đương đại; xác lập giá trị kinh điển của kịch bản và nghệ thuật dàn dựng kịch hát dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ chế kế thừa, phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong điều kiện sân khấu hiện đại; nâng những tìm tòi thực tiễn của Tào Mạt thành các luận điểm khoa học có tính quy luật của nghệ thuật sân khấu kịch hát dân tộc.
  • Phân tích sâu sắc sự chuyển hóa của nguyên tắc tự sự, nguyên tắc ước lệ và nguyên tắc mô hình hóa nhân vật Chèo (đặc biệt là mô hình nhân vật Hề) từ hình thức dân gian sang tác phẩm kịch bản có tác giả hoàn chỉnh.
  • Lý giải có căn cứ khoa học về hiệu quả của phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" như một phương pháp sáng tạo đặc thù, bảo đảm tính tổng hợp hữu cơ của nghệ thuật Chèo.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp tư liệu điền dã, hồi cố xác thực và sinh động từ thế hệ nghệ sĩ đầu tiên của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần – những tư liệu chưa từng được công bố đầy đủ trong các công trình nghiên cứu trước đó.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm nghề nghiệp cụ thể cho đội ngũ tác giả kịch bản, đạo diễn, nhạc sĩ, biên đạo múa và diễn viên sân khấu Chèo trong việc sáng tác và dàn dựng các tác phẩm về đề tài lịch sử cũng như đề tài hiện đại.
  • Tạo nguồn tư liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo chuyên ngành biên kịch, đạo diễn, diễn viên kịch hát dân tộc tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật.

Kiến nghị và bài học kinh nghiệm rút ra

  • Khẳng định con đường phát triển đúng đắn của Chèo hiện đại là phải nắm vững và tuân thủ các nguyên tắc nghệ thuật cơ bản của Chèo truyền thống (tự sự, ước lệ, mô hình hóa, trào lộng), tránh khuynh hướng dung tục hóa hoặc biến Chèo thành "kịch cắm ca".
  • Đề xuất áp dụng bài học phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các khâu sáng tác kịch bản, âm nhạc, dàn dựng và biểu diễn để bảo đảm tính thống nhất thẩm mỹ cho vở diễn Chèo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chuyên sâu vào một tác giả cụ thể (NSND Tào Mạt) và một tác phẩm cụ thể (bộ ba Chèo Bài ca giữ nước do Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần dàn dựng), chưa mở rộng dung lượng so sánh toàn diện với toàn bộ các tác giả Chèo hiện đại cùng thời kỳ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng so sánh thi pháp sáng tác và dàn dựng của Tào Mạt với các soạn giả, đạo diễn Chèo tiêu biểu khác ở nửa cuối thế kỷ XX (như Trần Đình Ngôn, Doãn Hoàng Giang...).
    • Nghiên cứu ứng dụng phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" và kỹ thuật xây dựng vai Hề triết lý vào công tác đào tạo diễn viên trẻ tại các trường nghệ thuật sân khấu hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Sân khấu kịch hát dân tộc, Văn hóa học, Nghệ thuật học tham khảo khung lý thuyết về thi pháp Chèo truyền thống, phương pháp nghiên cứu liên ngành sân khấu học và kỹ thuật khảo sát điền dã hồi cố.
  • Giảng viên các trường nghệ thuật: Sử dụng làm giáo trình tham khảo giảng dạy các bộ môn Lịch sử sân khấu Việt Nam, Nghệ thuật biên kịch Chèo, Nghệ thuật đạo diễn Chèo và Kỹ thuật biểu diễn Chèo truyền thống.
  • Biên kịch, đạo diễn, nghệ sĩ biểu diễn: Tham khảo trực tiếp phương pháp "sắp trò", nghệ thuật "bẻ làn nắn điệu", phương thức xây dựng nhân vật Hề và bài học phối hợp "bốn khâu đồng thời" khi sáng tác, dàn dựng vở diễn mới.
  • Nhà quản lý văn hóa: Tham khảo bài học thực tiễn trong công tác bảo tồn, kế thừa và phát triển vốn cổ nghệ thuật dân tộc trong đời sống đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Tên gọi chính thức của ba vở trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước được tác giả Tào Mạt đặt và in trong sách Giải thưởng Hồ Chí Minh là gì? Tên gọi chính thức ban đầu của ba vở do Tào Mạt đặt gồm:

  1. Lý Thánh Tông chọn người tài (tên khác khi đi hội diễn: Lý Thánh Tông tuyển hiền).
  2. Ỷ Lan coi việc nước (tên khác khi đi hội diễn: Nhiếp chính Ỷ Lan).
  3. Lý Nhân Tông học làm vua (tên khác khi đi hội diễn: Lý Nhân Tông kế nghiệp).

2. Điểm khác biệt căn bản giữa "Chèo cổ" và "Chèo truyền thống" theo định nghĩa học thuật được luận án sử dụng là gì? Theo luận án (dựa trên quan điểm của TS. Trần Đình Ngôn), di sản của tiền nhân để lại không có vở diễn Chèo cổ nguyên vẹn mà chỉ có 7 kịch bản Chèo cổ (Tuyển tập Chèo cổ, 1999). Các vở diễn theo tích cổ ngày nay đều là sản phẩm "phục chế", được quy ước gọi là "Chèo truyền thống" (tức Chèo cổ được tiếp nhận qua truyền nghề và được chỉnh lý nâng cao bởi các nghệ sĩ đương đại nhưng vẫn bảo tồn các nguyên tắc nghệ thuật cơ bản của Chèo cổ).

3. Phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" của Tào Mạt bao gồm những thành tố nào? Phương thức này là quá trình sáng tạo đồng bộ, tiến hành song song trên sàn tập giữa bốn thành tố: Văn (kịch bản văn học), Nhạc (hát, phổ thơ, lồng làn điệu), Múa/Diễn (vũ đạo, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên) và Họa (mỹ thuật trang trí sân khấu, phục trang, đạo cụ).

4. Nhân vật Hề Hoạn – Hề Già trong bộ ba Bài ca giữ nước có sự kế thừa và phát triển như thế nào so với Hề Chèo cổ? Tác phẩm kế thừa thủ pháp gây cười tổng hợp ("trò diễn và trò nhời") và tính trào lộng châm biếm sâu sắc của Hề cổ; đồng thời phát triển bằng cách đưa Hề từ nhân vật phụ, "ngoài cốt truyện" (phi cốt truyện) trở thành nhân vật trung tâm xuyên suốt cả ba vở, tham gia trực tiếp vào xung đột kịch, mang tiếng cười trí tuệ - triết lý và đại diện cho tiếng nói phê phán, phản biện chính trị của nhân dân.

5. Những nguyên tắc nghệ thuật cơ bản nào của Chèo truyền thống được xác định làm khung lý thuyết trong luận án? Luận án xác định ba nhóm nguyên tắc cơ bản: (1) Nguyên tắc tự sự (sân khấu kể chuyện, cấu trúc theo trình tự thời gian, tự sự kết hợp trữ tình và kịch); (2) Nguyên tắc ước lệ (ước lệ trong không gian, thời gian, mỹ thuật và diễn xuất); (3) Nguyên tắc xây dựng và chuyển hóa mô hình (mô hình nhân vật, mô hình làn điệu và mô hình khuôn múa).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và lịch sử sân khấu, làm sáng tỏ toàn diện những thành công của NSND Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống qua bộ ba Chèo Bài ca giữ nước. Bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp khảo sát văn bản và điền dã hồi cố từ các nghệ sĩ biểu diễn thực tế, công trình đã chứng minh giá trị của phương thức "sáng tác đồng thời bốn khâu" và sự chuyển hóa sáng tạo của các nguyên tắc tự sự, ước lệ, mô hình nhân vật Hề trong Chèo hiện đại. Luận án cung cấp hệ thống cứ liệu khoa học và bài học nghề nghiệp thực tiễn có giá trị tham khảo cao đối với công tác đào tạo, nghiên cứu và dàn dựng sân khấu kịch hát dân tộc Việt Nam.