Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đông Triều tập trung khảo sát toàn diện thể loại văn tế trong tiến trình phát triển của nền văn học trung đại Việt Nam. Trong hệ thống thể loại văn học truyền thống, văn tế vốn xuất phát là thể văn chức năng gắn liền với các nghi thức cúng tế thần linh và vong linh. Tuy nhiên, trong thực tiễn tiếp nhận và nghiên cứu văn học sử, thể loại này thường bị thu hẹp vào dạng văn tế ai điếu hoặc chỉ được điểm xuyết như phần phụ lục khi phân tích một tác gia cụ thể (như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Nguyễn Du, Phạm Thái). Luận án xác định khoảng trống học thuật lớn: chưa có một công trình nào khảo sát một cách hệ thống, đầy đủ và chuyên sâu về nguồn gốc, diện mạo, đặc trưng thể loại, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của văn tế trung đại Việt Nam dựa trên nguồn văn bản Hán Nôm phong phú.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ qua các nhiệm vụ:

  1. Tổng thuật nguồn gốc, vai trò của lễ tế và các dạng văn tế từ Trung Quốc, từ đó xác lập diện mạo, sự tiếp biến, phân loại và các đặc trưng thể loại cốt lõi của văn tế trong văn học trung đại Việt Nam.
  2. Khảo sát, phân tích và hệ thống hóa các bình diện nội dung tư tưởng chủ yếu của văn tế: khẳng định chuẩn mực đạo đức, luân lý; ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân và tinh thần vì nhân dân; thể hiện tinh thần nhân đạo; biểu đạt ý nghĩa trào phúng (trào tiếu).
  3. Khám phá các đặc trưng hình thức nghệ thuật: hệ thống văn thể (đặc biệt là phú Đường luật), ngôn ngữ, điển cố, thi liệu dân gian, hệ thống giọng điệu và cách thức miêu tả tâm trạng qua không gian, thời gian nghệ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam, tập trung vào hai bộ phận có giá trị văn học tiêu biểu là văn tế vong linh (văn tế ai điếu) và văn tế trào phúng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các tác phẩm ra đời từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (giới hạn thời gian của văn học trung đại), đồng thời mở rộng nghiên cứu một số tác phẩm đầu thế kỷ XX (tiêu biểu như văn tế của Phan Bội Châu) do tính chất tiếp nối trực tiếp về tư tưởng và thi pháp nghệ thuật.
  • Phạm vi văn bản: Luận án lập danh mục 257 bài văn tế Hán Nôm, sưu tập được 243 bài và tiến hành khảo sát chuyên sâu 151/257 bài tiêu biểu từ nguồn thư tịch Hán Nôm lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và nguồn tư liệu điền dã thực địa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu văn tế qua ba hướng tiếp cận chính:

  1. Hướng nghiên cứu thể loại:
  • Giai đoạn đầu thế kỷ XX: Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo (1918, Mặc Lâm tái bản 1970) trình bày khái lược nội dung, mục đích và thể văn của văn tế; Dương Quảng Hàm trong Văn học Việt Nam (1939) phân tích quy cách làm văn tế theo lối Đường phú (gieo vần, đặt câu, bằng trắc, bố cục bốn phần).
  • Giai đoạn từ thập niên 1970 đến nay: Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại (1971); Lê Trí Viễn cùng nhóm soạn giả trong Cơ sở ngữ văn Hán Nôm (tập 3, 1983) và Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam (1999); Trần Đình Sử trong Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999); Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm trong Các thể văn chữ Hán Việt Nam (2010). Các công trình này chủ yếu dừng lại ở mức giới thiệu nguồn gốc, chia thể văn thành luật phú hoặc tự do, nhìn nhận nội dung văn tế còn mang tính sơ lược.
  • Các bài viết chuyên luận trên tạp chí chuyên ngành: Ngô Gia Võ với bài báo "Đặc trưng thể loại của văn tế" (Tạp chí Hán Nôm, số 1/1998) chỉ ra đặc trưng quan trọng về ý thức sáng tác hướng đến hai đối tượng (người sống và người chết); Phạm Tuấn Vũ với "Một số suy nghĩ về văn tế Việt Nam thời trung đại" (Tạp chí Hán Nôm, số 5/2007) khẳng định ưu thế của văn tế Quốc âm nửa cuối thế kỷ XIX; Nguyễn Văn Thế với "Đặc trưng hệ thống thể loại của văn chương yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam" (Nghiên cứu Văn học, số 1/2008) phân tích sự phát triển của văn tế gắn với biến cố lịch sử và phong trào kháng Pháp.
  1. Hướng nghiên cứu tác gia, tác phẩm:
  • Các bộ văn học sử và chuyên khảo tiêu biểu: Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2-1961, tập 3-1965); nhóm tác giả Lịch sử văn học Việt Nam (tập 4A, 1963); Nguyễn Lộc (Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, 1971 và Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, 1976); Nguyễn Văn Sâm (Văn học Nam Hà, 1972); Nguyễn Văn Hầu (Văn học Miền Nam Lục Tỉnh, tập 3, 1974); Xuân Diệu (Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, 1987); Lê Đình Kỵ (Phê bình nghiên cứu văn học, 2000); Nguyễn Phạm Hùng (Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, 2001).
  • Các bài báo nghiên cứu chuyên biệt về tác phẩm cụ thể: Hoàng Xuân Hãn (1977) khảo cứu lễ Vu Lan và văn tế cô hồn; Nguyễn Huy Mỹ (1990) khảo sát văn tế sống của Nguyễn Du; Thích Nguyên Hiền (2004) và Phạm Tuấn (2006) nghiên cứu Văn tế thập loại chúng sinh; Trần Thị Băng Thanh (2005) nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Bá Xuyến.
  1. Hướng sưu tập, giới thiệu văn bản tác phẩm:
  • Từ các ấn phẩm sớm như Dọn bốn lễ đầu của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1904), Việt âm văn uyển (1919), Văn đàn bảo giám (1925-1930) đến các tổng tập văn học và công trình toàn tập của các tác giả (Phan Bội Châu, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Dương Bá Trạc...).

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tổng hợp, dịch thuật và nghiên cứu văn tế trung đại Việt Nam như một thể loại độc lập hoàn chỉnh; kết hợp phương pháp văn bản học Hán Nôm với thi pháp học để giải quyết đồng bộ cả phương diện lịch sử thể loại, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý thuyết thể loại học văn học, thi pháp học văn học trung đại và lý thuyết văn hóa - nghi lễ tôn giáo (sự dung hợp Tam giáo Nho - Phật - Đạo) để phân tích văn bản.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm:

  • Phương pháp văn bản học: Thu thập, phân loại văn bản Hán Nôm; khảo dị, đối chiếu nguyên tác chữ Hán và chữ Nôm; phiên dịch, phiên âm và chú giải học thuật các bài văn tế chưa từng được công bố hoặc các bản dịch trước đây chưa chuẩn xác.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Khảo sát văn tế gắn liền với bối cảnh xã hội, biến cố chính trị, phong trào đấu tranh chống ngoại xâm và đời sống tâm linh, tập quán nghi lễ của từng giai đoạn lịch sử.
  • Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Thống kê, phân loại, phân tích, so sánh loại hình học (đối chiếu văn tế Việt Nam và Trung Quốc), hệ thống hóa và nghiên cứu liên ngành (kết hợp văn học với sử học, Hán Nôm học, tôn giáo học và phong tục học).

Nguồn ngữ liệu văn bản của luận án được khai thác từ hai hệ thống tư liệu:

  1. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VHN): Khai thác 14 văn tập, tuyển tập Hán Nôm chép tay tiêu biểu.
  2. Nguồn điền dã thực địa: Sưu tầm các bản chép tay Hán Nôm trong dân gian tại các tỉnh Nam Bộ.

Bảng tổng hợp các nguồn tư liệu Hán Nôm tiêu biểu dùng trong luận án:

STT Tên văn bản / Nguồn tư liệu Ký hiệu / Xuất xứ Quy mô / Đặc điểm văn bản Nội dung văn tế tiêu biểu
1 Bách Liêu thi văn tập (百僚詩文集) A.2403 (VHN) Bản chép tay, 382 trang Văn tế thời Lê và thời Nguyễn
2 Bình Vọng Lê Tiến sĩ thi văn tập (平望黎進士詩文集) A.2188 (VHN) Lê Tông Quang soạn, Hà Tông Quyền duyệt, 380 trang Văn tế thần, tế tổ tiên, tế Nguyễn Bỉnh Khiêm
3 Danh bút tùng thư (名筆叢書) A.1594 (VHN) Phạm Quý Thích soạn, 103 trang Văn tế, văn bia, minh chuông
4 Danh công biểu tuyển (名公表選) A.1311 (VHN) Bản chép tay, 306 trang (116 bài) Văn tế của các danh sĩ triều Nguyễn
5 Dụ tế huân thần (諭祭勲臣) A.1378 (VHN) Bản chép tay, 194 trang Lê Quý Đôn, Phạm Quý Thích soạn tế quan chức
6 Kỳ Xuyên công độc văn sao (淇川公牘文鈔) VHv.131 (VHN) Nguyễn Thông soạn (1872), 170 trang Văn tế miếu Khổng Tử, truyện danh thần kháng Pháp
7 Lịch triều tế văn (歷朝祭文) A.1802 (VHN) Danh nho triều Nguyễn soạn Văn tế, ký, minh, thơ cảm hoài
8 Liễu Đường văn (柳堂文) VHv.135 (VHN) Hà Tông Quyền soạn, 70 trang Bài văn tế Trạng Trình của Đinh Thời Trung
9 Ngô Văn Lộc nghiêm đường thi tập (吳文祿嚴堂詩集) VHv.156 (VHN) Chữ Hán và chữ Nôm Tế Trạng Trình, tế cha mẹ, tế thầy thuốc, tế Trùm giáp
10 Ngũ tuần đại khánh chúc hỗ đối liên (五旬大慶祝詁對聯) A.1953 (VHN) Bản chép tay, 122 trang Tế thầy học, tế người chết chìm tàu Pháp tặng
11 Quốc âm tế văn ca phú (國音祭文歌賦) VNv.150 (VHN) Văn tế Nôm, ca, phú Tế tướng sĩ Tây Sơn, Ngọc Hân tế Quang Trung
12 Mão Hiên văn tập (卯軒文集) KH.835 (VHN) Bản chép tay, 96 trang 30 bài văn tế (tế cầu an, tế di tích, tế hổ, tế đuổi chuột)
13 Tế văn tập (祭文集) A.1706 (VHN) Cử nhân Hoàng biên tập (1821), 105 trang 64 bài văn tế hoàng phi, tướng sĩ chết trận, thân tộc
14 Ước Phu tiên sinh thi tập (約夫先生詩集) A.1729 (VHN) Phan Thanh Giản soạn, 50 trang Văn tế, lỗi văn, sớ, biểu
15 Tuyển tập thơ văn tại Cái Bè, Tiền Giang Gia đình cụ đồ Nguyễn Tòng Mậu 208 trang giấy dó, 291 tác phẩm 14 bài văn tế Nôm Nam Bộ
16 Quyển Gia lễ tập thành Sưu tầm tại miền Tây Nam Bộ Bản chép tay Hán Nôm 52 bài văn tế Hán Nôm
17 Sách văn tế Nôm tại Châu Thành, Đồng Tháp Sưu tầm điền dã Bản chép tay Gần 20 bài văn tế Nôm

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm 211 trang chính văn và 100 trang phụ lục, phần nội dung chính được triển khai thành 3 chương (tổng cộng 185 trang).

Chương 1: Tổng quan về văn tế và thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (34 trang)

Chương 1 làm rõ nguồn gốc lịch sử của nghi lễ tế tự và thể loại văn tế từ Trung Quốc cổ đại, sau đó khảo sát quá trình tiếp biến và xác lập diện mạo thể loại tại Việt Nam.

  • Nguồn gốc và vai trò của tế lễ - văn tế: Tế tự nảy sinh từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh thời nguyên thủy, khi con người thực hiện nghi lễ tế trời đất (thần Lục tôn, thần Tam vọng, thần Ngũ tự) để cầu mùa màng no ấm. Lúc đầu văn tế mang tên gọi "chúc văn" (lời khấn cầu thần linh). Đến thời Tây Chu, nghi lễ tế tự được giai cấp thống trị thể chế hóa thành công cụ trị quốc, quy định thứ bậc đẳng cấp (ghi nhận trong Lễ ký - Vương chế với 10 luân lý tế tự). Về sau, tế tự mở rộng sang hệ thống nhân thần, tổ tiên và người đã khuất, kết hợp chức năng cầu cúng với việc ca ngợi công đức, trở thành thể loại văn học có tính thẩm mỹ.

  • Các dạng văn tế chủ yếu của Trung Quốc: Luận án phân tích 3 dạng cơ bản: Chúc văn (chúc từ - dùng tế cáo thần linh cầu phúc, tiêu tai); Tế văn (dạng phổ biến nhất, dùng tế cáo và ca ngợi đức hạnh người chết, điển hình là tác phẩm của Lưu Lệnh Nhàn, Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Âu Dương Tu); Cáo văn (nghi thức tấu báo việc trọng đại với trời đất hoặc tiền nhân).

  • Diện mạo, phân loại và đặc trưng thể loại tại Việt Nam:

  • Phân loại theo chức năng nghi lễ: (1) Dạng dùng tế nhiều đối tượng (Tế, Cáo, Chúc); (2) Dạng chỉ dùng tế thần (Kỳ, Đảo, Cầu, Tạ, Nhương); (3) Dạng chỉ dùng tế người chết (Điện, Tiến, Quyến — trong đó dạng Tiến và Quyến là các nét đặc thù được tác giả phát hiện qua văn bản Hán Nôm Việt Nam); (4) Dạng không mang tên thể loại trong tiêu đề (như Hạ điền văn, Thiên triều văn).
  • Phân loại theo nội dung: Văn tế thần thánh; văn tế người thân và các bậc nhân nhân chí sĩ; văn tế trào phúng.
  • Phân loại theo văn thể: Phú (luật phú, cổ phú), văn xuôi, thơ (lục bát, song thất lục bát), thể tán.
  • 9 đặc trưng thể loại cơ bản: Chức năng tế lễ và phản biện xã hội; phương thức phản ánh trữ tình kết hợp tự sự - biểu cảm; văn tự Hán - Nôm (khẳng định văn tế Nôm chiếm ưu thắng tuyệt đối về số lượng và chất lượng nghệ thuật); văn thể đa dạng (phú Đường luật độc vận giữ vai trò chủ đạo); bố cục 4 phần chuẩn mực (Lung khởi, Thích thực, Ai vãn, Kết); nội dung phong phú mang tính nhân văn; giọng điệu đa dạng; ý thức và mục đích sáng tác đồng thời hướng tới hai đối tượng (linh hồn người chết ở cõi âm và người đang sống ở cõi dương); tính chất tâm linh và đặc điểm đội ngũ tác giả (tính chất khuyết danh, sáng tác hộ).

Chương 2: Nội dung chủ yếu của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (76 trang)

Chương 2 phân tích 4 cụm nội dung tư tưởng lớn của văn tế trung đại Việt Nam:

  1. Khẳng định các giá trị đạo đức, luân lý chuẩn mực:
  • Đạo đức chuẩn mực: Ca ngợi lòng trung nghĩa, tiết tháo, chữ hiếu, tình nghĩa vợ chồng, đạo thầy trò, sự thủy chung trong tình bạn.
  • Luân lý chuẩn mực: Đề cao các chuẩn mực luân thường Nho giáo (tam cương ngũ thường), trật tự gia tộc và xã hội.
  • Tính chính danh của tác giả: Người đứng tế tự xác lập tư thế đạo đức chuẩn mực để thẩm định nhân cách, ngôn hành của người đã khuất.
  1. Ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần tôn quân và tinh thần vì nhân dân:
  • Tinh thần yêu nước và tôn quân thời kỳ chống ngoại xâm: Thể hiện khí thế đánh giặc, ý chí quật cường, tinh thần hy sinh xả thân vì nền độc lập dân tộc (tiêu biểu ở các bài văn tế thời Tây Sơn và phong trào chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu).
  • Tinh thần tôn quân thời kỳ sau nội chiến và sau cuộc chống nội loạn: Khắc họa lòng trung thành với vương triều, khát vọng thống nhất giang sơn và trật tự chính trị.
  • Tinh thần vì nhân dân: Đề cao sự hy sinh của các tầng lớp bình dân, người nông dân - nghĩa sĩ, khẳng định vị thế của nhân dân trong lịch sử giữ nước.
  1. Thể hiện tinh thần nhân đạo:
  • Tinh thần nhân đạo dành cho tướng sĩ hy sinh: Sự tiếc thương không chỉ dành cho quan quân triều đình mà mở rộng đến binh sĩ tử trận của cả hai chiến tuyến (kể cả hàng binh đối phương).
  • Tinh thần nhân đạo dành cho nạn dân: Cảm thương số phận những người dân vô tội chết vì thiên tai, dịch bệnh, loạn lạc đói kém.
  • Tinh thần nhân đạo dành cho cô hồn u uất: Khát vọng chiêu tuyết, giải oan và cứu độ mọi kiếp người đau khổ trong cõi nhân sinh (Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, các bài văn tế cô hồn của Ngô Thì Nhậm, Thoại Ngọc Hầu).
  1. Thể hiện ý nghĩa trào tiếu (trào phúng):
  • Tiếng cười hài hước, tự trào về những tật xấu, cảnh ngộ của bản thân.
  • Tiếng cười phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội, sự suy đồi của đạo đức phong kiến, thói hủ nho.
  • Tiếng cười đả kích kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai bán nước (sử dụng ngôn ngữ Nôm trào lộng, mỉa mai sắc bén).

Chương 3: Hình thức nghệ thuật của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (70 trang)

Chương 3 khảo sát có hệ thống các bình diện thi pháp hình thức:

  1. Hệ thống văn thể:
  • Phân tích chi tiết quy cách của thể phú Đường luật trong văn tế: cách gieo độc vận (vần chân), cấu trúc từng liên (câu gồm hai vế đối nhau), các mô hình kết cấu câu chuyên biệt (tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc).
  • Khảo sát sự kết hợp linh hoạt với các thể thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát) và lối văn xuôi cổ, tản văn.
  1. Ngôn ngữ văn tế:
  • Nghệ thuật dùng từ và đặt câu biền ngẫu đăng đối, tạo nhịp điệu trầm bổng, hô ứng nhịp nhàng.
  • Điển cố và cách thức vận dụng điển cố: Bên cạnh việc dùng điển tích kinh điển Trung Hoa, tác giả văn tế Việt Nam đã linh hoạt sử dụng điển cố từ lịch sử dân tộc và văn học cổ điển (đặc biệt là thủ pháp tập Kiều, lẩy Kiều từ Truyện Kiều của Nguyễn Du).
  • Vay mượn văn liệu, thành ngữ, tục ngữ và quan niệm dân gian, tạo nên chất giọng mộc mạc, gần gũi với đời sống tâm lý người Việt.
  1. Hệ thống giọng điệu: Chỉ ra 6 sắc thái giọng điệu tiêu biểu:
  • Giọng trang nghiêm, thành kính trong các nghi lễ tế thần, tế thánh.
  • Giọng tâm tình, thân thiết, xót xa khi khóc người thân, vợ chồng, bạn bè.
  • Giọng tự hào ngợi ca công đức tiền nhân.
  • Giọng bi ai, oán thán trước nỗi đau mất mát, sinh ly tử biệt.
  • Giọng hào hùng, bi tráng khi ngợi ca nghĩa sĩ hy sinh vì đại nghĩa dân tộc.
  • Giọng trào tiếu, châm biếm, đả kích trong các bài văn tế thế sự.
  1. Không gian và thời gian nghệ thuật:
  • Miêu tả tâm trạng qua không gian tâm linh hai cõi âm - dương, kết hợp không gian vũ trụ và không gian đời thường.
  • Nghệ thuật đồng hiện thời gian ba chiều: thời gian quá khứ (công đức, hành trạng người chết), thời gian hiện tại (nỗi đau đớn, nghi thức tế lễ) và thời gian vị lai (bài học luân lý, sự tiếp nối của hậu thế).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu 5 đóng góp học thuật mới:

  1. Về nguồn gốc và loại hình thể loại: Tổng thuật nguồn gốc lễ tế và văn tế Trung Quốc từ thư tịch cổ (Thư kinh, Lễ ký, Văn tâm điêu long); chỉ ra sự tiếp biến và các nét dị biệt của văn tế Việt Nam (như sự xuất hiện của các dạng thức Tiến, Quyến và sự chuyển hóa từ văn chức năng nghi lễ sang văn học nghệ thuật).

  2. Về tư liệu văn bản học: Xây dựng danh mục 257 tác phẩm văn tế Hán Nôm, tập hợp 243 bài và khảo sát chuyên sâu 151 bài. Bổ sung nhiều tư liệu văn bản Hán Nôm giá trị từ Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các bản chép tay điền dã sưu tầm tại Nam Bộ (Cái Bè - Tiền Giang, Châu Thành - Đồng Tháp).

  3. Về dịch thuật và chú giải: Tiến hành phiên dịch, phiên âm toàn bài và chú giải học thuật cho 22 tác phẩm văn tế Hán Nôm tiêu biểu chưa từng được dịch hoặc dịch chưa chính xác, cùng việc trích dịch nhiều đoạn tư liệu mới, làm cơ sở khoa học cho các nhận định lý luận.

  4. Về nội dung tư tưởng: Hệ thống hóa toàn diện các tầng bậc nội dung của văn tế: từ phạm vi cá nhân - gia tộc (đạo đức, luân lý) đến phạm vi cộng đồng - quốc gia (yêu nước, tôn quân, vì dân) và nhân loại (chủ nghĩa nhân đạo, cứu độ chúng sinh), cùng ý nghĩa phê phán của mảng văn tế trào phúng.

  5. Về hình thức nghệ thuật: Giải mã cấu trúc thi pháp của văn tế viết theo lối phú Đường luật độc vận; chứng minh ưu thế của văn tế Nôm; phát hiện các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như vận dụng thi liệu Truyện Kiều, thành ngữ dân gian, các kiểu điệp, câu đối lập và sự đa dạng của 6 giọng điệu nghệ thuật. Đồng thời, luận án bước đầu đính chính tác giả và bối cảnh lịch sử của một số văn bản văn tế cụ thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do giới hạn về dung lượng và nguồn lực, luận án chỉ mới khảo sát chuyên sâu được 151/257 bài trong danh mục đã lập.
  • Luận án chủ yếu tập trung vào mảng văn tế vong linh và văn tế trào phúng, chưa thể khảo sát toàn diện hệ thống văn tế thần thánh (vốn mang tính công thức nghi lễ hành chính).
  • Chưa thể khai thác toàn bộ 621 bài văn tế chữ Hán và chữ Nôm hiện còn tồn tại dưới dạng văn bản chép tay được ghi nhận trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục sưu tầm, khảo dị, phiên dịch và chú giải khối lượng văn bản văn tế Hán Nôm còn lưu lạc trong gia phả dòng họ, đình, chùa, miếu mạo tại các địa phương trên cả nước.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn tế Việt Nam với văn tế của các nước trong khu vực đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) trên bình diện loại hình học thi pháp và nhân học văn hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và tư liệu cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm học và Văn học trung đại: Tham khảo khung lý thuyết thể loại, thi pháp thể phú Đường luật và hệ thống dẫn liệu văn bản học chuẩn xác.
  • Các nhà nghiên cứu Văn hóa học, Lịch sử tư tưởng và Tôn giáo học: Khai thác tư liệu về tập quán tang tế, tín ngưỡng cúng tế nhân thần - nhiên thần và sự chuyển biến ý thức xã hội thời trung đại.
  • Các bộ môn Ngữ văn bậc đại học và phổ thông: Sử dụng phần phân tích thi pháp, ngôn ngữ, giọng điệu và bản dịch 22 bài văn tế Hán Nôm phục vụ giảng dạy các tác phẩm văn tế kinh điển (như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế thập loại chúng sinh, Văn tế Trương Quỳnh Như).

Câu hỏi thường gặp

  1. Theo kết quả nghiên cứu của luận án, văn tế Việt Nam được phân loại theo chức năng nghi lễ như thế nào? Trả lời: Luận án phân thành 4 nhóm: (1) Dạng tế nhiều đối tượng gồm Tế, Cáo, Chúc; (2) Dạng chỉ tế thần gồm Kỳ, Đảo, Cầu, Tạ, Nhương; (3) Dạng chỉ tế người chết gồm Điện, Tiến, Quyến; (4) Dạng không mang tên thể loại trong tiêu đề (như Hạ điền văn, Thiên triều văn).

  2. Vì sao luận án khẳng định văn tế Nôm chiếm ưu thế vượt trội so với văn tế chữ Hán? Trả lời: Mặc dù chữ Hán được sử dụng phổ biến trong văn bản hành chính và thi cử, nhưng chữ Nôm là chữ viết ghi âm tiếng nói dân tộc, thích hợp nhất để bộc lộ chiều sâu cảm xúc, tâm tư, sự bi ai và ngôn ngữ đời thường của người Việt. Do đó, hầu hết các kiệt tác văn tế đỉnh cao về nội dung yêu nước, thế sự và tình cảm cá nhân đều được sáng tác bằng chữ Nôm.

  3. Bố cục quy chuẩn của một bài văn tế viết theo lối phú Đường luật gồm những phần nào? Trả lời: Gồm 4 phần:

  • Lung khởi: Mở đầu, luận về lẽ sống chết và tâm trạng người đứng tế (thường bắt đầu bằng chữ Duy, Than ôi, Thương ôi).
  • Thích thực: Kể về thân thế, hành trạng, đức hạnh, sự nghiệp của người đã mất (bắt đầu bằng Xót nhớ ông/bà thay).
  • Ai vãn: Bày tỏ nỗi tiếc thương, đau đớn tột cùng trước cảnh biệt ly (thường mở đầu bằng Hỡi ôi, Ôi).
  • Kết: Lời cầu nguyện, kính dâng lễ vật, mời linh hồn chứng giám (bắt đầu bằng Con/chúng tôi nay và kết bằng Thượng hưởng hoặc Phục duy thượng hưởng).
  1. Điểm đặc thù về ý thức và đối tượng tiếp nhận của thể loại văn tế được luận án chỉ ra là gì? Trả lời: Khác với các thể loại văn học khác chỉ hướng tới người sống, văn tế có hai đối tượng tiếp nhận đồng thời: (1) Linh hồn người chết ở cõi âm (tạo nên không gian nghệ thuật tâm linh, huyền ảo, linh thiêng); (2) Người đang sống dự lễ tế hoặc người đọc (tiếp nhận bài học luân lý, đạo đức và tấm gương hành trạng của tiền nhân).

  2. Nguồn tư liệu văn bản thực địa tại Nam Bộ được tác giả bổ sung cho luận án gồm những gì? Trả lời: Tác giả bổ sung 3 tư liệu chép tay điền dã: tập thơ văn tại Cái Bè (Tiền Giang) chứa 14 bài văn tế Nôm; tập Gia lễ tập thành chứa 52 bài văn tế Hán Nôm; và tập văn tế Nôm tại Châu Thành (Đồng Tháp) chứa gần 20 bài văn tế Nôm.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Đông Triều là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam. Dựa trên việc khảo sát 151/257 bài văn tế Hán Nôm từ thư tịch cổ và nguồn điền dã thực tế, tác giả đã làm rõ diện mạo thể loại, xác lập các tiêu chí phân loại và giải mã đặc trưng thi pháp của lối phú Đường luật trong văn tế. Công trình chứng minh văn tế không đơn thuần là thể văn chức năng nghi lễ mà là một bộ phận hữu cơ của văn học dân tộc, kết tinh sâu sắc các giá trị đạo đức, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân đạo và nghệ thuật ngôn từ truyền thống.