Mở đầu (13 trang), Kết luận (5 trang), Danh mục bài báo (1 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang, 180 đề mục), nội dung chính chia thành 3 chƣơng (185 trang): 13 Chƣơng 1. Tổng quan về văn tế và thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (34 trang). Trình bày các vấn đề: nguồn gốc, vai trò của lễ tế và văn tế của Trung Quốc; các dạng văn tế chủ yếu của Trung Quốc; diện mạo của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam. Nội dung chủ yếu của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (76 trang).
Trình bày những nội dung chính của văn tế: khẳng định các giá trị đạo đức, luân lý chuẩn mực; ca ngợi tinh thần yêu nƣớc, tinh thần tôn quân, tinh thần vì nhân dân; thể hiện tinh thần nhân đạo; thể hiện ý nghĩa trào phúng. Đặc điểm hình thức nghệ thuật của thể loại văn tế trong văn học trung đại Việt Nam (70 trang). Trình bày những đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của văn tế: đa dạng về thể văn; đặc sắc về ngôn ngữ, giọng điệu; vận dụng điển cố vừa theo kiểu truyền thống vừa linh hoạt, có vận dụng điển cố từ lịch sử và văn học cổ điển Việt Nam; vận dụng một số thủ pháp nhằm làm tăng khả năng biểu đạt. 14 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN TẾ VÀ THỂ LOẠI VĂN TẾ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.
NGUỒN GỐC, VAI TRÒ CỦA LỄ TẾ VÀ VĂN TẾ CỦA TRUNG QUỐC Cũng nhƣ nhiều thể loại khác, văn tế có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ đại. Hiện nay, ngƣời ta thƣờng hiểu văn tế theo nghĩa hẹp là loại văn đƣợc viết ra để đọc trong lễ tế ngƣời đã khuất. Thực tế, khái niệm chung của văn tế có phạm vi ý nghĩa và đối tƣợng rộng hơn nhiều, văn tế có thể dùng để tế trời đất, thần linh, ngƣời chết, ngƣời sống, nhân vật lịch sử, sự vật, loài vật. Thời cổ đại, chức năng đầu tiên của văn tế không phải cúng tế ngƣời chết, mà cúng tế trời đất, thần linh, lúc đó đƣợc gọi là chúc văn 祝文.
Theo thời gian, đối tƣợng của văn tế dần đƣợc mở rộng với nội dung, mục đích, chủ thể, đối tƣợng đều có sự khu biệt tƣơng đối. Cuộc sống của con ngƣời cổ đại vừa gắn liền với thiên nhiên, vừa phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Chính từ đặc điểm đó, cộng với quan niệm chất phác về thiên nhiên, đã sản sinh các nhân vật siêu nhiên trong tâm thức ngƣời cổ đại gồm Trời và hệ thống thần linh (nhiên thần), trong đó Trời là đấng tối cao. Ngƣời cổ đại quan niệm, các nhân vật siêu nhiên này có quyền năng chi phối toàn bộ sự vật hiện tƣợng và hoạt động của con ngƣời, có thể khuyến thiện trừng ác, ban phƣớc giáng hoạ.
Quan niệm này có vai trò tích cực là khiến con ngƣời sống tốt hơn, biết làm lành tránh dữ, nhƣng mặt khác, cũng khiến con ngƣời có tâm lý e sợ, từ đó phát sinh tâm lý phụ thuộc, mong cầu. Trƣớc quyền năng của các đấng siêu nhiên, để có một cuộc sống an lành hạnh phúc trƣớc vô số tai hoạ rình rập, con ngƣời phải nghĩ cách “lấy lòng” họ bằng cách tế tự. Đó là cội nguồn của tế tự. Văn tâm điêu long - “Chúc minh” chép về nguồn gốc của tế tự: “Khi đất trời định vị, thần linh đƣợc tế tự khắp nơi.
Đã tế đủ Lục tôn, lại tế sang Tam vọng. Mƣa hoà gió thuận, ngô tốt lúa tƣơi, dân chúng đƣợc trông nhờ, nên hết lòng tế lễ.” [56; 133] Cuộc sống của con ngƣời, nền kinh tế và cả sự tồn vong của quốc gia thời xƣa chủ yếu dựa vào nông nghiệp. 15 Thời tiết là yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến quốc kế dân sinh. Để cầu mong đƣợc tiết trời thuận lợi, mùa màng bội thu, giai cấp thống trị thời xƣa đã thực hiện các nghi lễ tế trời (các thần Lục tôn), tế đất (các thần Tam vọng)(1).
Thượng thư - “Nghiêu điển” cũng nói “lễ tế Trời phải tế Lục tôn” (Theo [56; 140]). Khi cuộc sống đƣợc ấm no, đƣợc nhƣ sở nguyện, các lễ tế lại đƣợc tiến hành để cảm tạ ơn thần. Có thể thấy, về phƣơng diện quốc gia, tế tự là việc trọng đại liên quan đến quốc kế dân sinh. Từ đó mở đƣờng cho vô số nghi thức tế lễ sau này, cho nên việc tế tự đời đời không dứt.
Đầu tiên tế tự do giai cấp thống trị thực hiện trên danh nghĩa vì lợi ích quốc gia dân tộc. Theo quan niệm xƣa, tế tự chính là phƣơng pháp, phƣơng tiện giúp con ngƣời, chủ yếu là giai cấp thống trị, với lòng thành kính của mình có thể tƣơng thông với thần linh, khẩn cầu thần linh phò hộ cho nhân dân, đất nƣớc. Việc tế tự có thể diễn ra tại nhiều thời điểm, nhiều dịp trong năm nhƣ tế trời đất vào ngày đông chí, tế bốn mùa, tế bốn phƣơng, tế ngũ tự(2)… Các vua thời cổ đại khi đi tuần thú cũng có tiến hành lễ tế nơi mình đến. Việc tuần thú của Thiên tử “5 năm đi tuần thú một lần, vào tháng hai trong năm đi tuần thú về phía đông, đến núi Đại Tông, đốt củi làm lễ tế mà xem xét núi sông” chép trong Lễ ký [88; 99] cũng không ngoài mục đích ấy.
Nhƣ vậy, đối tƣợng đầu tiên của tế tự là hệ thống nhiên thần hộ quốc, gồm trời, đất, tứ thời, nhật nguyệt, tinh tú, thuỷ hạn, tứ phƣơng, sơn lâm, khâu hác, phong vũ…, tức là tất cả sự vật hiện tƣợng có liên quan, chi phối cuộc sống hàng ngày của con ngƣời. Mỗi đối tƣợng đều có lễ tế riêng, trong đó có nghi thức chung là đọc chúc văn (hay chúc từ, tức văn khấn) để cầu xin thần linh chở che, ban phƣớc, tiêu trừ tai hoạ. Đọc chúc văn là nghi thức bắt buộc trong các lễ tế thần. Văn tâm điêu long - “Chúc minh” cũng nói về việc này: “Quan Chƣởng tế cầu khấn chân thành, ắt phải có văn từ phù hợp.” [56; 137] Văn từ chính là chúc từ.
Tất cả các loại lễ tế trong năm đều có chúc văn tƣơng ứng. Từ sau thời Xuân Thu, “việc tế lễ cầu đảo thần linh ngày càng nhiều, nơi nào cũng phải có đồ tế và lời văn cầu khấn” [56; 138]. Điều này cho thấy tín ngƣỡng thần linh ngày càng ăn sâu vào suy nghĩ và chi phối rất lớn đến mọi mặt trong cuộc sống con ngƣời. 1 Thần Lục tôn: Sáu vị thần trời, gồm thần coi bốn mùa, thần coi sự nóng lạnh, mặt trời, mặt trăng, sao, thần coi về sông nƣớc và hạn hán; Thần Tam vọng: Ba vị thần đất, gồm thần núi Thái Sơn, thần sông, thần biển.
2 Ngũ tự: Năm vị thần đƣợc tế tự. Theo Lễ ký - “Khúc lễ hạ” gồm Thần Cửa, Thần Ngõ, Thần Giếng, Thần Bếp, Thần Đất. 16 Việc tế tự thời cổ đại ngoài thể hiện quan niệm, niềm tin chất phác của con ngƣời về tự nhiên còn thể hiện ý nghĩa nhân văn hết sức cao đẹp của các vị vua thời ấy. Đọc Thư kinh, chúng ta thấy các vị thánh quân cổ đại tế tự chủ yếu để tỏ lòng thành kính với thần linh, tu sửa đức mình và cầu mong cho đất nƣớc bình yên, nhân dân no ấm.
Tất cả là vì nƣớc vì dân, hoàn toàn không tự tƣ tự lợi. Luận ngữ - “Nghiêu viết” thuật lại câu chuyện đời vua Thành Thang trời hạn 5 năm, dân tình khốn khổ, vua xót thƣơng làm lễ khấn với Trời nhận tội rằng: “Nếu trẫm có tội, xin phạt một mình trẫm. Nếu bá tánh có tội, cũng xin phạt một mình trẫm.” [25; 310] Lòng vua thƣơng dân, muốn làm lợi cho dân thể hiện rõ ràng qua lời cầu khẩn, sẵn sàng nhận hết sự trừng phạt của trời. Nhƣng về sau, việc tế lễ không còn giữ nguyên mục đích, ý nghĩa nhƣ thế.
Muộn nhất đến thời Tây Chu, sự thay đổi đã diễn ra, việc tế tự đã đƣợc giai cấp thống trị thể chế hoá thành một công cụ trị nƣớc và đảm bảo sự vững chắc địa vị của giai cấp mình. Thần linh và việc tế thần có vai trò quan trọng trong việc uốn nắn con ngƣời vào vòng đạo lý, nên nhà cầm quyền cổ đại và các thời đại về sau đều coi trọng tế lễ. Việc tế tự từ thời Tây Chu về sau thể hiện rõ nghĩa vụ, cấp bậc của từng ngƣời, từng tầng lớp xã hội. Lễ ký - “Vƣơng chế” chép rõ: “Việc tế tự có mƣời luân lý: thực hiện đạo thờ quỷ thần, thực hiện nghĩa vua tôi, thực hiện luân thƣờng cha con, thực hiện thứ lớp quý tiện, thực hiện bỏ bớt thân sơ, thực hiện ban bố tƣớc thƣởng, thực hiện phân biệt vợ chồng, thực hiện quân bình chính trị, thực hiện thứ tự lớn nhỏ, thực hiện phân chia trên dƣới.” [88; 204] Trong mƣời luân lý này, hai luân lý đứng đầu là “thực hiện đạo thờ quỷ thần” và “thực hiện nghĩa vua tôi” nhấn mạnh thiên mệnh, thần quyền và vƣơng quyền đã đƣa vị trí của ngƣời trị nƣớc lên tầm cao tột đỉnh.
Theo phân tích và đúc kết của Vƣơng Biệt Huyền, việc tế tự ở Trung Quốc thời Tây Chu thể hiện ba quan điểm của giai cấp thống trị. Thứ nhất, tế tự có vai trò nêu cao chữ hiếu, an ủi vỗ về ngƣời dân, an định trăm họ. Thông qua tế tự có thể duy trì sự hài hoà trong dòng họ, củng cố trật tự xã hội cùng quyền lực, địa vị của nhà cầm quyền; Thứ hai, đẳng cấp xã hội đƣợc phản ánh rõ ràng qua nghi thức, chủ thể và đối tƣợng tế tự đã đƣợc qui định, đồng thời thông qua tế tự khẳng định sự khu biệt về đẳng cấp xã hội. Điều này cũng nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, quyền lực, địa vị của giai cấp thống trị; Thứ ba, thiên tử và chƣ hầu thƣờng nhân dịp tế tự ban bố chính lệnh.
Quốc ngữ - “Lỗ 17 ngữ, thƣợng” chép: “Thiên tử tế Thƣợng đế, chƣ hầu tụ hợp mà nghe mệnh lệnh. Chƣ hầu tế tiên vƣơng tiên công, các Khanh Đại phu đến giúp mà nghe theo việc dạy.” (Theo [169; 32]) Đây là những lúc đẳng cấp nhà cầm quyền đƣợc thể hiện rõ nhất, có sự chứng giám của thần linh, nên mệnh lệnh của họ cũng sẽ đƣợc cấp dƣới thuận theo và chấp hành tuyệt đối. Qua đó có thể thấy rõ động cơ chính trị của giai cấp thống trị khi ban hành nghi thức tế tự và thúc đẩy việc tế tự. Trong xã hội Trung Quốc thời Tây Chu, gia tộc cũng là một đoàn thể chính trị.
Cùng với gia tộc, việc thờ cúng tổ tiên đƣợc hình thành.