Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện đại hoá văn học, văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX" do nghiên cứu sinh Tạ Anh Thư thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Giang. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập văn hóa, việc nghiên cứu các giai đoạn chuyển biến lịch sử đầu thế kỷ XX – thời điểm văn hóa và văn học Việt Nam bước đầu tiếp xúc với phương Tây – giữ vai trò quan trọng trong việc đúc kết kinh nghiệm học thuật. Trong giai đoạn này, Đông Dương tạp chí cùng với Nam Phong tạp chí là hai ấn phẩm báo chí tạo ra nhiều cuộc tranh luận trong giới nghiên cứu. Đông Dương tạp chí là một trong những cơ quan ngôn luận bằng chữ quốc ngữ đầu tiên mang diện mạo của một tạp chí nghiên cứu khoa học, được xem như nguồn tri thức bách khoa ở thời điểm bấy giờ. Tuy nhiên, trước đây vị trí và vai trò của tờ báo này thường bị đánh giá phiến diện do các định kiến chính trị hoặc chỉ được nghiên cứu ở từng khía cạnh hẹp, thiếu một công trình khảo sát toàn diện và có hệ thống trên cả hai bình diện văn học và văn hóa.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

  1. Mục tiêu nghiên cứu:
    • Khảo sát, làm rõ bối cảnh ra đời, chủ trương hoạt động và thành phần ban biên tập của Đông Dương tạp chí.
    • Đánh giá có hệ thống những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với sự phát triển của chữ quốc ngữ, công tác dịch thuật và sự hình thành các thể loại văn học mới trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
    • Phân tích các tác động của Đông Dương tạp chí trong công cuộc hiện đại hóa văn hóa dân tộc thông qua các lĩnh vực: học thuật, tiếp thu tư tưởng cộng hòa, canh tân giáo dục, đổi mới phong tục tập quán và cổ vũ nữ quyền.
  2. Câu hỏi nghiên cứu:
    • Điều kiện lịch sử và nỗ lực cá nhân nào đã hình thành nên đội ngũ trí thức Hán học và Tây học cùng tham gia hoạt động trên Đông Dương tạp chí?
    • Đông Dương tạp chí đã tác động như thế nào đến sự chuyển dịch ngôn ngữ văn học từ chữ Hán, chữ Nôm sang chữ quốc ngữ và quá trình tiếp nhận văn học thế giới?
    • Hoạt động của một cơ quan báo chí chịu sự bảo trợ của chính quyền thực dân đã tạo ra những tác động thực tế nào đối với tiến trình chuyển biến văn hóa, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những đóng góp của Đông Dương tạp chí vào quá trình hiện đại hóa của văn hóa và văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tập trung vào giai đoạn chuyển tiếp từ phạm trù văn học cổ điển sang phạm trù văn học hiện đại.
  • Phạm vi tài liệu và thời gian: Toàn bộ nội dung của Đông Dương tạp chí từ khi phát hành số đầu tiên ngày 15/05/1913 đến khi đình bản năm 1919, bao gồm:
    • Giai đoạn 1913–1914: Từ số 01 (15/05/1913) đến 31/12/1914 (khảo sát qua Microfilm mã số MF 11845 của dự án SEAM tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh).
    • Năm 1915: Từ số 01 (10/01/1915) đến số 50 (26/12/1915) (nguồn lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, số hiệu Q8142).
    • Năm 1916: Từ số 104 đến số 120 (Viện Thông tin Khoa học xã hội, số hiệu Q8142).
    • Năm 1917: Từ số 103 đến 125, và từ số 135 đến số 154 (Viện Thông tin Khoa học xã hội, số hiệu Q8142).
    • Năm 1918: Các số báo lưu trữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh (khuyết từ số 168 tháng 4 đến số 185 tháng 8).
    • Năm 1919: Số 212.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu về Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh được luận án tổng thuật qua các giai đoạn:

Giai đoạn / Khu vực Tác giả & Công trình tiêu biểu Nhận định và xu hướng đánh giá chính
Trước năm 1945 - Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại)
- Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu)
- Thiếu Sơn (bài viết trên báo chí)
Ghi nhận Đông Dương tạp chí là cơ quan văn học đầu tiên của nền quốc văn mới; đánh giá cao các bản dịch văn học Pháp và vai trò đặt nền móng cho văn xuôi quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh.
Miền Bắc (1954–1975) - Nhóm tác giả Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 4B, ĐH Sư phạm)
- Nguyễn Anh (Tạp san Nghiên cứu lịch sử, số 116, 1968)
- Phan Cự Đệ (Phong trào thơ mới 1932–1945, 1966)
Phê phán gay gắt tờ báo là công cụ nô dịch văn hóa của thực dân; Nguyễn Anh phủ nhận giá trị dịch thuật. Riêng Phan Cự Đệ có cái nhìn dung hòa hơn khi ghi nhận gián tiếp vai trò dịch thuật văn học phương Tây trong việc chuẩn bị cho Thơ mới.
Miền Nam (1954–1975) - Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 1967)
- Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1965)
- Trần Việt Sơn, Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong (sách Luận đề)
- Tân Phong Hiệp, Lưu Trung Khảo, Kiêm Đạt, Châu Hải Kỳ
- Nguyễn Văn Trung (Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc)
- Lê Văn Siêu (Văn học sử thời kháng Pháp 1858–1945)
Nhìn nhận khách quan và đề cao công lao xây dựng nền quốc văn, truyền bá chữ quốc ngữ và kỹ thuật làm báo hiện đại. Một số tác giả phê phán lập trường chính trị thỏa hiệp (Nguyễn Văn Trung) hoặc chỉ ra tính tùy hứng, thiếu kế hoạch dài hạn trong dịch thuật và nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh (Lê Văn Siêu).
Sau năm 1975 và thời kỳ Đổi mới - Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900–1930 (1988)
- Đỗ Quang Hưng (chủ biên, Lịch sử báo chí Việt Nam 1865–1945)
- Nguyễn Huệ Chi (Từ điển văn học bộ mới, 2004)
- Tạ Anh Thư (Luận văn ThS, 2009)
- Nguyễn Thị Thanh Loan (Đề tài NCKH SV, 2010)
- Hoàng Thị Cương (Luận văn ThS, 2012)
Đánh giá lại nhân vật lịch sử và các hiện tượng báo chí trong bối cảnh cụ thể; thừa nhận Đông Dương tạp chí là cơ quan báo chí quan trọng truyền bá văn minh phương Tây, phê phán phong kiến; luận văn của Hoàng Thị Cương bước đầu hệ thống hóa mảng văn học nhưng chưa đi sâu vào mảng văn hóa.
Nghiên cứu ở nước ngoài - Emmanuelle Affidi (Luận án Tiến sĩ, Đại học Paris, 2007, 820 trang) Phân tích Đông Dương tạp chí dưới góc độ giao thoa văn hóa, truyền bá tư tưởng khoa học phương Tây tại Bắc Kỳ và quan hệ giữa tri thức và quyền lực thuộc địa (1906–1936).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù đã có các công trình trong và ngoài nước đề cập đến Đông Dương tạp chí, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ lịch sử chính trị hoặc chỉ dừng lại ở các nhận định bước đầu về văn học. Luận án của Tạ Anh Thư là công trình chuyên biệt khảo sát trực tiếp hệ thống văn bản gốc của Đông Dương tạp chí qua các giai đoạn phát hành, từ đó phục dựng bức tranh toàn diện về vai trò của tờ báo trong cả hai tiến trình: hiện đại hóa văn học (ngôn ngữ, dịch thuật, thể loại) và hiện đại hóa văn hóa (học thuật, giáo dục, phong tục, nữ quyền).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khung lý thuyết về hiện đại hóa văn học và văn hóa: Xem xét tiến trình hiện đại hóa như một quá trình chuyển dịch mô hình từ phạm trù văn hóa, văn học trung đại chịu ảnh hưởng của Hán học sang phạm trù hiện đại chịu ảnh hưởng của phương Tây.
  • Mối quan hệ giữa báo chí, tầng lớp trí thức và văn hóa: Báo chí được xác định là môi trường truyền tải tri thức, định hình dư luận và tạo lập ngôn ngữ văn học mới; tầng lớp trí thức Tây học và cựu học duy tân đóng vai trò chủ thể vận hành quá trình tiếp biến văn hóa.
  • Khái niệm và phạm trù nghiên cứu: Văn học chữ quốc ngữ, dịch thuật học thuật - văn học, lối văn nghị luận báo chí, thể loại văn học phương Tây (truyện ngắn, kịch, thơ tự do), các giá trị cộng hòa, canh tân giáo dục, đổi mới phong tục và phong trào nữ quyền.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Đặt Đông Dương tạp chí vào bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến đầu thế kỷ XX, gắn với các chính sách cai trị của thực dân Pháp và sự vận động của báo chí quốc ngữ từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ để giải thích hoàn cảnh ra đời, diễn biến nội dung qua từng thời kỳ.
  • Phương pháp hệ thống và phương pháp loại hình: Phân loại, lập danh mục và hệ thống hóa toàn bộ các bài viết, chuyên mục, tác phẩm dịch thuật, sáng tác và khảo cứu trên báo theo các trục nội dung văn học và văn hóa.
  • Phương pháp so sánh: Đối sánh Đông Dương tạp chí với các tờ báo đương thời và kế tiếp như Đăng Cổ tùng báo, Nam Phong tạp chí để làm rõ nét đặc thù về tôn chỉ, phong cách văn chương và đội ngũ cộng tác viên.
  • Phương pháp phân tích văn bản và thao tác tổng hợp: Phân tích cấu trúc câu, từ vựng, thể loại và thủ pháp thể hiện trong các tác phẩm dịch và sáng tác để rút ra kết luận về sự định hình lối văn xuôi quốc ngữ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Hệ thống văn bản gốc của Đông Dương tạp chí từ số 1 (1913) đến số 212 (1919) lưu trữ dưới dạng bản giấy và vi phim (Microfilm) tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh và Viện Thông tin Khoa học xã hội Hà Nội.
  • Các ấn phẩm báo chí và văn phẩm cùng thời kỳ: Gia Định báo, Thông loại khóa trình, Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Đại Nam Đăng Cổ tùng báo, Nam Phong tạp chí.
  • Danh mục 248 tài liệu tham khảo gồm các công trình lịch sử, văn học sử, báo chí học và các luận án nghiên cứu chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự ra đời và hoạt động của Đông Dương tạp chí (53 trang)

Chương 1 tái hiện bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam sau khi Pháp hoàn thành bình định quân sự và tiến hành hai đợt khai thác thuộc địa (1897–1914 và 1919–1939). Xã hội chứng kiến sự suy tàn của nền Hán học (các kỳ thi Hương, Hội, Đình bị bãi bỏ tại Bắc Kỳ năm 1915, tại Trung Kỳ năm 1918; trường dạy chữ Nho chấm dứt năm 1919) và sự ra đời của tầng lớp trí thức Tây học.

Chương này phân tích bốn hướng lựa chọn của giới trí thức đầu thế kỷ XX:

  1. Con đường đấu tranh bạo động đánh đuổi thực dân Pháp (phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học).
  2. Con đường cải cách xã hội, nâng cao dân trí theo mô hình dân chủ phương Tây (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đông Kinh nghĩa thục).
  3. Con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị và thành lập chính đảng kiểu mới (dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930).
  4. Con đường hoạt động văn hóa, học thuật và báo chí (Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ở thế kỷ XIX; Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh ở đầu thế kỷ XX). Trong hướng đi này, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương "thuyết trực trị" (dựa vào Pháp để xóa bỏ chế độ phong kiến hủ bại), đối lập với "thuyết quân chủ lập hiến" của Phạm Quỳnh.

Đông Dương tạp chí ra đời ngày 15/05/1913 do F.H. Schneider sáng lập và bảo trợ bởi Toàn quyền Albert Sarraut, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Về tôn chỉ, ban đầu tờ báo đóng vai trò công cụ tuyên truyền của chính quyền bảo hộ, trấn an dư luận và công kích các phong trào bạo động. Tuy nhiên, nội dung báo có sự chuyển biến rõ nét: từ năm 1915, báo giảm thiểu các bài xã thuyết chính trị và chuyển hẳn sang nghiên cứu học thuật, văn chương và sư phạm.

Tờ báo quy tụ đội ngũ cộng tác viên thuộc cả hai thế hệ:

  • Phái tân học: Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút), Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn.
  • Phái cựu học duy tân: Phan Kế Bính, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Đỗ Mục, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Trác, Thân Trọng Huề.

Chương 2: Những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (67 trang)

Chương 2 tập trung phân tích ba đóng góp cốt lõi của tờ báo đối với văn học:

  1. Phát triển chữ quốc ngữ thành ngôn ngữ văn học dân tộc: Tờ báo thúc đẩy việc sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm trong sáng tác và nghiên cứu; mở các chuyên mục hướng dẫn ngữ pháp, chính tả và cách hành văn rõ ràng, chuẩn xác; giúp công chúng làm quen với việc tiếp nhận tri thức qua văn bản in ấn.
  2. Tiếp thu tinh hoa văn học thế giới qua dịch thuật:
    • Văn học phương Tây: Dịch và giới thiệu có chọn lọc các tác giả kinh điển của Pháp như thơ ngụ ngôn của La Fontaine, kịch của Molière (Trưởng giả học làm sang, Người biển lận), tiểu thuyết của Abbé Prévost (Mai Nương Lệ Cốt - Manon Lescaut), Lesage (Chàng Gil Blas xứ Santillane), các tác phẩm của Fénelon, Montesquieu, Rousseau, Hugo, Chateaubriand...
    • Văn học ngoài phương Tây: Dịch thuật có hệ thống các tác phẩm văn học cổ điển Trung Quốc từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ (Tam quốc chí diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Tiền Hán thư do Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục thực hiện); đồng thời dịch tác phẩm kinh điển Việt Nam sang tiếng Pháp (như Truyện Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch).
    • Ngôn ngữ dịch thuật: Xây dựng phương pháp dịch thoát ý, sử dụng khẩu ngữ tự nhiên, làm giàu vốn từ vựng tiếng Việt, thoát khỏi tính quy phạm ước lệ của văn biền ngẫu.
  3. Hình thành các thể loại văn học mới:
    • Đặt nền tảng cho sự phát triển của văn xuôi tự sự và tiểu thuyết hiện đại ở miền Bắc.
    • Thể nghiệm thể loại truyện ngắn hiện đại (đặt dấu mốc với tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn).
    • Giới thiệu cấu trúc kịch nói phương Tây và mở đường cho các thể nghiệm Thơ mới phôi thai thông qua việc diễn dịch thơ ngụ ngôn và thơ tự do của Pháp.

Chương 3: Những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện đại hoá văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX (53 trang)

Chương 3 phân tích những cải biến văn hóa - tư tưởng mà Đông Dương tạp chí đề xướng:

  1. Chủ trương hiện đại hóa văn hóa dân tộc: Gắn kết chặt chẽ văn học với văn hóa; xác định đổi mới học thuật là nền tảng chấn hưng đất nước; phổ biến các giá trị cộng hòa của phương Tây (quyền tự do tư tưởng, tinh thần thượng tôn pháp luật, lối sống duy lý) nhằm thay đổi nếp nghĩ phong kiến phụ quyền.
  2. Canh tân giáo dục:
    • Phê phán tính chất trừu tượng, hư văn, xa rời thực tế của nền giáo dục khoa cử Nho học truyền thống.
    • Giới thiệu các phương pháp sư phạm hiện đại của phương Tây, đề cao giáo dục thực nghiệm, thực nghiệp (nông nghiệp, công nghệ, thương nghiệp), vệ sinh học đường và đưa chữ quốc ngữ vào làm phương tiện giáo dục căn bản cho trẻ em.
  3. Đổi mới phong tục, tập quán:
    • Chuyên mục "Xét tật mình": Do Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách, chỉ ra và phê phán trực diện các thói hư tật xấu trong xã hội bản địa như tính lười biếng, thói a dua, mê tín dị đoan, chi tiêu hoang phí trong ma chay, cưới hỏi, tệ nạn cờ bạc và nạn sâu mọt ở chốn làng xã.
    • Chuyên mục "Việt Nam phong tục": Do Phan Kế Bính biên khảo công phu, phân tích phong tục Việt Nam theo ba phạm trù (trong gia tộc, trong làng xã, ngoài xã hội); đánh giá phân minh giữa thuần phong mỹ tục cần duy trì và hủ tục lạc hậu cần xóa bỏ.
  4. Cổ vũ phong trào nữ quyền: Kế thừa mục Nhời đàn bà từ tờ Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí đấu tranh chống lại các quan niệm phong kiến bất bình đẳng nam nữ; phê phán nạn đa thê, hôn nhân ép buộc; cổ vũ mở trường dạy học cho nữ giới, khẳng định vai trò xã hội và quyền tự chủ của phụ nữ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  • Làm sáng tỏ tiến trình hiện đại hóa văn học, văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX thông qua khảo sát nội dung và hoạt động thực tế của một cơ quan báo chí cụ thể.
  • Cung cấp cái nhìn khoa học, khách quan, toàn diện và có tính lịch sử cụ thể về Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh; phân biệt rõ giữa những hạn chế chính trị thuộc địa với những đóng góp thực tế trong lĩnh vực học thuật, văn hóa và ngôn ngữ.
  • Làm rõ phản ứng thích nghi và quá trình tiếp biến văn hóa của tầng lớp trí thức bản địa khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây qua con đường báo chí.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xác minh và cung cấp hệ thống dữ liệu thư mục chuẩn xác về Đông Dương tạp chí: thời điểm phát hành, thời điểm đình bản, các giai đoạn chuyển biến nội dung và danh mục các số báo lưu trữ tại các thư viện lớn.
  • Bổ sung nguồn tư liệu, nhận định và cứ liệu văn bản phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam cận hiện đại và lịch sử báo chí Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Do điều kiện lưu trữ lịch sử, một số số báo của Đông Dương tạp chí bị thất lạc hoặc khuyết trang (như giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1918 bị thiếu mục văn học trên các bản giấy và vi phim; năm 1919 chỉ tiếp cận được số 212).
  • Luận án chưa tiếp cận được toàn văn 820 trang luận án tiếng Pháp của tác giả Emmanuelle Affidi (năm 2007) mà chỉ dừng lại ở việc tham khảo bản tóm tắt luận án.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục tìm kiếm và phục chế các số báo còn thiếu của Đông Dương tạp chí tại các trung tâm lưu trữ ở Pháp và nước ngoài.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu đa chiều, chuyên sâu giữa Đông Dương tạp chí với các tờ báo thuộc địa tại các nước Đông Nam Á có cùng hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học, Văn hóa học, Lịch sử: Công trình là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận văn bản báo chí cổ và cách xử lý mối quan hệ giữa lịch sử chính trị và lịch sử văn học.
  • Đối với giảng viên đại học, nhà nghiên cứu văn học sử và báo chí học: Cung cấp nguồn cứ liệu xác thực để giảng dạy các chuyên đề về văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900–1930, lịch sử báo chí quốc ngữ và lịch sử dịch thuật.
  • Đối với các nhà nghiên cứu chính sách văn hóa và giáo dục: Đem lại những bài học kinh nghiệm lịch sử về việc đổi mới học thuật, chuẩn hóa ngôn ngữ dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Sự chuyển biến về nội dung của Đông Dương tạp chí qua các thời kỳ phát triển diễn ra như thế nào?

Khi mới ra mắt vào tháng 5/1913, tờ báo mang nặng tính chất tuyên truyền chính trị cho chính quyền bảo hộ Pháp nhằm ổn định trật tự xã hội sau các biến động chính trị. Tuy nhiên, số lượng bài viết tuyên truyền giảm dần theo thời gian. Từ năm 1915 trở đi, tờ báo chuyển hẳn sang khuynh hướng học thuật, chuyên chú vào nghiên cứu văn chương, dịch thuật và sư phạm.

2. Đông Dương tạp chí có những đóng góp cụ thể nào đối với thể loại dịch thuật?

Tờ báo đã xây dựng một khối lượng tác phẩm dịch phong phú từ hai nguồn: văn học cổ điển Pháp (Molière, La Fontaine, Lesage, Abbé Prévost...) và văn học cổ điển Trung Quốc sang chữ quốc ngữ (Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký do Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục dịch). Ngôn ngữ dịch thuật trên báo đạt đến sự trong sáng, thoát khỏi khuôn mẫu biền ngẫu, giúp hình thành câu văn xuôi tiếng Việt hiện đại.

3. Sự khác biệt giữa chủ trương của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh được luận án phân tích như thế nào?

Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương "thuyết trực trị", phản đối sự tồn tại của bộ máy quan trường phong kiến nhà Nguyễn đã lỗi thời, kêu gọi chính quyền Pháp cai trị trực tiếp kết hợp sự bình đẳng quyền lợi giữa công chức Pháp và Việt. Ngược lại, Phạm Quỳnh chủ trương "thuyết quân chủ lập hiến", tìm cách duy trì ngôi vua và triều đình Huế kết hợp xây dựng hiến pháp theo mô hình phương Tây. Cả hai xu hướng đều bộc lộ những ảo tưởng chính trị trong bối cảnh chế độ thuộc địa.

4. Hai chuyên mục nào trên Đông Dương tạp chí thể hiện rõ nhất nỗ lực đổi mới phong tục tập quán?

Đó là chuyên mục Xét tật mình do Nguyễn Văn Vĩnh viết (phê phán trực diện các thói hư tật xấu, hủ tục, mê tín dị đoan trong xã hội An Nam) và chuyên mục Việt Nam phong tục do Phan Kế Bính biên khảo (khảo cứu có hệ thống các phong tục gia đình, làng xã, xã hội để phân biệt thuần phong mỹ tục và hủ tục cần bài trừ).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Tạ Anh Thư là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với tiến trình hiện đại hóa văn học và văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu báo chí gốc phong phú kết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử, hệ thống và so sánh, tác giả đã làm rõ vai trò của tờ báo trong việc phát triển chữ quốc ngữ, thúc đẩy dịch thuật, hình thành các thể loại văn học mới và cổ vũ canh tân xã hội. Công trình góp phần đánh giá khách quan, khoa học một hiện tượng học thuật - báo chí từng gây nhiều tranh luận, đồng thời cung cấp nguồn tài liệu xác thực có giá trị cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học, văn hóa Việt Nam.