Luận án tiến sĩ ngữ văn những đóng góp của đông dương tạp chí trong quá trình hiện đại hóa văn học văn hóa việt nam đầu thế kỷ xx

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ngữ văn những đóng góp của đông dương tạp chí trong quá trình hiện đại hóa văn học văn hóa việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

2016

286
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Sự ra đời và hoạt động của Đông Dương Tạp Chí

Đông Dương Tạp Chí xuất hiện trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi đất nước đang trải qua những biến động lớn về văn hóa và chính trị. Tạp chí này được thành lập với mục đích thúc đẩy hiện đại hóa văn họcvăn hóa Việt Nam, đặc biệt là thông qua việc phổ biến chữ quốc ngữ. Phan Kế BínhNguyễn Văn Vĩnh là những nhân vật chủ chốt, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và phát triển tạp chí. Đông Dương Tạp Chí không chỉ là một tờ báo mà còn là một diễn đàn văn hóa, nơi các trí thức trao đổi ý tưởng và thúc đẩy sự đổi mới.

1.1 Bối cảnh xã hội và tầng lớp trí thức

Đầu thế kỷ XX, Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa phương Tây, đặc biệt là Pháp. Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, nhà in, và báo chí đã mở ra cánh cửa hội nhập với thế giới. Tầng lớp trí thức Việt Nam, vốn được đào tạo từ nền giáo dục truyền thống, bắt đầu tiếp thu những tư tưởng mới. Đông Dương Tạp Chí ra đời trong bối cảnh này, trở thành cầu nối giữa văn hóa truyền thống và hiện đại.

1.2 Chủ trương và định hướng phát triển

Chủ trương của Đông Dương Tạp Chí là thúc đẩy sự phát triển của chữ quốc ngữ và giới thiệu tinh hoa văn hóa phương Tây. Tạp chí tập trung vào việc dịch thuật các tác phẩm văn học nước ngoài, đồng thời khuyến khích sáng tác văn học bằng tiếng Việt. Đây là bước đi quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn họcvăn hóa Việt Nam.

II. Đóng góp của Đông Dương Tạp Chí trong hiện đại hóa văn học

Đông Dương Tạp Chí đã có những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tạp chí không chỉ là nơi giới thiệu các tác phẩm văn học phương Tây mà còn khuyến khích sáng tác bằng tiếng Việt. Điều này đã góp phần hình thành nền văn học quốc ngữ hiện đại. Nguyễn Văn Vĩnh và các cộng sự đã nỗ lực đưa chữ quốc ngữ đến với đông đảo công chúng, tạo tiền đề cho sự phát triển của văn học sau này.

2.1 Phát triển chữ quốc ngữ

Một trong những đóng góp lớn nhất của Đông Dương Tạp Chí là thúc đẩy sự phổ biến của chữ quốc ngữ. Tạp chí đã xuất bản nhiều bài viết, tác phẩm văn học bằng tiếng Việt, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng chữ quốc ngữ. Đây là bước đi quan trọng trong việc xây dựng nền văn học quốc ngữ hiện đại.

2.2 Tiếp thu tinh hoa văn học thế giới

Đông Dương Tạp Chí đã giới thiệu nhiều tác phẩm văn học phương Tây đến độc giả Việt Nam. Thông qua việc dịch thuật, tạp chí đã mang đến những tư tưởng mới, góp phần làm phong phú thêm nền văn học nước nhà. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học.

III. Đóng góp của Đông Dương Tạp Chí trong hiện đại hóa văn hóa

Bên cạnh việc thúc đẩy hiện đại hóa văn học, Đông Dương Tạp Chí còn có những đóng góp quan trọng trong việc đổi mới văn hóa Việt Nam. Tạp chí đã đề cao các giá trị cộng hòa, khuyến khích sự đổi mới trong giáo dục và phong tục tập quán. Nguyễn Văn Vĩnh và các cộng sự đã nỗ lực xây dựng một nền văn hóa hiện đại, phù hợp với xu thế thời đại.

3.1 Đổi mới giáo dục và phong tục

Đông Dương Tạp Chí đã đưa ra nhiều đề xuất đổi mới trong giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phù hợp với nhu cầu xã hội. Tạp chí cũng khuyến khích sự thay đổi trong phong tục tập quán, hướng đến một xã hội hiện đại và văn minh hơn.

3.2 Thúc đẩy nữ quyền và giá trị cộng hòa

Tạp chí đã đề cao các giá trị cộng hòa và khuyến khích sự bình đẳng giới. Đông Dương Tạp Chí đã đăng nhiều bài viết về nữ quyền, góp phần thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ. Đây là một trong những đóng góp quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn hóa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngữ văn những đóng góp của đông dương tạp chí trong quá trình hiện đại hóa văn học văn hóa việt nam đầu thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ 1. Bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX 1.1 Bối cảnh xã hội Khi các chiến hạm của Pháp nổ những phát súng đầu tiên ở cửa biển Đà Nẵng năm 1858, xã hội Việt Nam như choàng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Trong khi thế giới đang chuyển biến với cuộc cách mạng công nghệ dẫn đến nhu cầu đi tìm thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, thì giai cấp phong kiến Việt Nam đã để đất nước chìm sâu trong sự lạc hậu và trì trệ. Trong quá khứ đã từng xuất hiện những tiếng nói cảnh báo của những người trí thức ưu thời mẫn thế như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, nhưng triều đình nhà Nguyễn và các quan lại vừa thiển cận, vừa tự mãn, đã bỏ ngoài tai những lời khuyến nghị, ngày càng đưa đất nước đến nguy cơ khủng hoảng.

Từ hoà ước Nhâm Tuất 1862 giao ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây cho thực dân Pháp cho đến hoà ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenôtres, Pháp đã hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự. Một đất nước chia thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau: thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thuộc sự cai trị của Triều Nguyễn song do khâm sứ Pháp điều khiển. Nếu ở Nam kỳ dân chúng có ít nhiều quyền tự do, dân chủ, thì ở Bắc và Trung Kỳ, ách kìm kẹp của Pháp ngày càng siết chặt. Những cuộc nổi dậy và phản kháng của nhân dân liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, cuộc binh biến ở Thái Nguyên, cuộc dân biến ở Trung Kỳ, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh…; nhưng tất cả đều bị dìm trong biển máu.

Từ năm 1897 đến năm 1914 Pháp thực hiện đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến năm 1919, chúng bắt đầu đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1939). Những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. 20 Khi chiếm trọn được sáu tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã mưu toan thay đổi toàn bộ nền giáo dục Việt Nam. Một số trường công lập thuộc thẩm quyền thị chính được khai sinh ngay tại Sài Gòn.

Để thay đổi nền giáo dục cổ truyền vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, thực dân Pháp bắt đầu đưa chữ quốc ngữ vào dạy trong trường học. Ban đầu là những biện pháp khuyến khích, chẳng hạn như cho phép “mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy quốc ngữ” hay “những làng nhỏ có một trường dạy quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng góp cho trường hàng tổng” theo Nghị định 14. Nhiều làng phải thuê người đi học cho đủ số lượng. [86] Về sau, các biện pháp mạnh hơn được áp dụng để cưỡng chế học sinh đi học.1879 về việc tổ chức nền học chánh mới ở Nam Kỳ đã ban hành chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Nam Bộ.

Theo đó, chương trình Tiểu học (ba năm) có dạy quốc ngữ, chương trình cấp 2 (ba năm) học cả chữ Nho và quốc ngữ), chương trình cấp 3 (4 năm) dạy các văn thư, khế ước thông dụng, sử địa An Nam mỗi tuần. [86] Các kì thi theo kiểu cổ truyền cũng bị xoá bỏ. Trường hậu bổ được thành lập để đào tạo những người làm quan cho Pháp. Nhiều học sinh, đặc biệt là các học sinh công giáo được cử đi du học ở Pháp và các nước thuộc địa của Pháp.

Số lượng học sinh được học chương trình của Pháp tăng lên ngày càng đông khi hệ thống trường Pháp -Việt được mở rộng tại Sài Gòn và một số thành phố, tỉnh lỵ lớn khác. Sự thay đổi hình thức và nội dung giáo dục đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới cho xã hội – tầng lớp trí thức Tây học. Chính tầng lớp này đã hình thành nên một đội ngũ sáng tác, một tầng lớp công chúng mới ở thành thị, tác động trực tiếp tới sự hình hành và phát triển nền văn học chữ quốc ngữ ở Nam Bộ - cái nôi của báo chí quốc ngữ cả nước. Bên cạnh đó, việc bắt buộc sử dụng chữ quốc ngữ trong tất cả các văn bản hành chính và các lĩnh vực khác cũng góp phần đẩy mạnh sự chuyển biến mạnh mẽ về văn hoá xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Đây là một trong những biểu hiện 21 rõ rệt nhất của việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở Việt Nam. Chữ quốc ngữ là loại chữ mà các giáo sĩ phương Tây hình thành bằng cách sử dụng bộ chữ cái la-tinh quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ (mà một số ngôn ngữ phương Tây như chữ Bồ Đào Nha đã từng làm) để ghi âm tiếng Việt. Khi nói đến sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam, nhiều người cho rằng linh mục Alexandre de Rhodes, đôi khi được gọi theo tên đã Việt hoá là Đắc Lộ, là người đầu tiên đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Năm 1651, linh mục Alexandre de Rhodes đã biên soạn và cho in ở nhà in của Giáo hội La Mã tại Roma (Ý) cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum).

Cũng trong năm này, ông cho in cuốn sách giảng đạo nhan đề là Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức chúa Trời, cuốn sách đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ. [5] Tuy nhiên, sự thật thì các giáo sĩ phương Tây đã tới Việt Nam và bước đầu đặt nền móng cho việc hình thành chữ quốc ngữ từ trước đó. Tháng 10-1629, một linh mục người Bồ Đào Nha là Gaspar d’Amaral lần đầu tiên tới Đàng Ngoài cùng với một người Nhật Bản là thầy Paulus Saito. Trong thời gian ở Việt Nam, linh mục Gaspar d’Amaral đã đi sâu nghiên cứu và học rất nhanh chữ quốc ngữ, khi ấy mới ở dạng phôi thai, còn hết sức sơ khai.

Ông đã để lại hai tài liệu viết tay vào các năm 1632 và 1637, trong đó ghi lại hàng loạt chữ quốc ngữ. Sau đó, ông bắt tay vào soạn cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latinum) nhưng tiếc thay cuốn từ điển chưa kịp ấn hành thì ông đã qua đời trên đường từ Ma Cao quay trở lại Đàng Ngoài để tiếp tục truyền giáo (23-12-1645) do tàu chở ông bị đắm. Cuốn từ điển mà linh mục Gaspar d’Amaral đang soạn dở dang đã bị thất lạc. [8] Một linh mục Dòng Tên thứ hai người Bồ Đào Nha cũng có những đóng góp ở bước sơ khởi trong việc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam là linh mục Antonio Barbosa.

Ông đã soạn thảo một cuốn Từ điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita), từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt, có lẽ trong thời gian 6 năm ở Đàng Ngoài. Nhưng cũng giống như số phận cuốn từ điển soạn dở của linh 22 mục Gaspar d’Amaral, cuốn tự điển của linh mục Antonio Barbosa cũng bị “mất tích” và không ai biết được là nó đã bị huỷ hoại hay thất lạc đâu đó. [8, 67] Chính dựa trên những cuốn từ điển (sau bị thất lạc) này mà linh mục Alexandre de Rhodes đã soạn ra cuốn Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 và được coi như là người có công sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Công lao lớn của Alexandre de Rhodes là ở chỗ ông đã dựa trên thành quả của những người đi trước để trở thành người soạn thảo và cho in thành sách những công trình đầu tiên về chữ quốc ngữ ở Việt Nam.

Ngoài ra, trong sự hình thành chữ quốc ngữ, bên cạnh những nỗ lực cá nhân của Alexandre de Rhodes, còn có sự đóng góp của nhiều người khác nữa, trong đó không loại trừ có cả những người Việt Nam. Mặc dù đã có những công trình như thế nhưng chữ quốc ngữ vẫn không được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, đặc biệt là trong quảng đại dân chúng. Trong suốt hơn 200 năm sau đó, chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng ở một phạm vi hẹp trong khuôn khổ nhà thờ Thiên Chúa giáo để phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sỹ như dịch Kinh thánh, soạn các sách truyền đạo. Trong suốt thời gian đó, một số giáo sĩ phương Tây đã nỗ lực nhằm hoàn thiện dạng thức chữ quốc ngữ sơ khai mà Alexandre de Rhodes đã tạo ra.

Điển hình trong số đó là những sửa đổi của Đức Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux de Béhaine, thường được biết đến ở Việt Nam dưới tên gọi Bá Đa Lộc. Giám mục Bá Đa Lộc là người đã khởi soạn Từ điển An nam-Latinh (1772-1773). Công trình đang còn dở dang thì được cố đạo Tabert tiếp nối. Tới năm 1838, cha Tabert đã cho in tại Serampur, Ấn Độ, cuốn Từ điển Việt-Latinh (Dictionarium annamitico- latinum) có ghi thêm chữ Nôm bên cạnh chữ quốc ngữ (cuốn từ điển này thường được biết tới dưới tên gọi là Từ điển Tabert).

Trừ một số trường hợp cá biệt, chữ quốc ngữ trong Từ điển Tabert về cơ bản đã có dạng thức như ngày nay. Sau khi Pháp đã hoàn thành việc chiếm đóng và trực tiếp cai trị Nam Kỳ từ năm 1867, chính quyền cai trị đã đẩy mạnh việc dạy học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Một số học giả, nhà bác học thời bấy giờ, chủ yếu ở Nam Kỳ, như Trương 23 Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cũng đã có nhiều công trình nhằm phổ biến và truyền bá chữ quốc ngữ trong dân chúng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Người đi tiên phong trong việc xây dựng và truyền bá chữ quốc ngữ, đặc biệt ở Nam Kỳ, là Trương Vĩnh Ký.

Trương Vĩnh Ký vốn họ tên là Trương Chánh Ký, tên thánh là Pétrus Jean Baptiste, sau đổi là Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký. Trong lĩnh vực phát triển chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký là tác gia đầu tiên và lớn nhất của văn học chữ quốc ngữ Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông là người Việt Nam đầu tiên cho in sách bằng chữ quốc ngữ (1866), viết du ký bằng chữ quốc ngữ, phiên âm ra chữ quốc ngữ các tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán; là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam và ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng Pháp; là soạn giả Việt Nam đầu tiên làm từ điển đối dịch Pháp-Việt, Hán-Việt-Pháp; là nhà báo người Việt đầu tiên làm chủ bút một tờ báo (tờ Gia Định báo, từ 1869, sau E.Potteaux, trước Huỳnh Tịnh Của) và ra nguyệt san (tờ Thông loại khoá trình, 1888-1889, với tư cách tư nhân).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đóng góp của Đông Dương Tạp Chí trong hiện đại hóa văn học và văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX" khám phá vai trò quan trọng của tạp chí này trong việc thúc đẩy sự hiện đại hóa văn học và văn hóa Việt Nam. Nó phân tích cách Đông Dương Tạp Chí đã giới thiệu các tư tưởng mới, phong cách viết hiện đại, và góp phần hình thành nền văn học quốc ngữ. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này.

Để mở rộng kiến thức về các tác phẩm và nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại việt nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, nghiên cứu về diễn ngôn thể loại trong văn học hiện đại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn học việt nam hiện đại đặc điểm hồi kí của các nhà thơ lưu trọng lư huy cận xuân diệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về hồi ký của các nhà thơ nổi tiếng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học ngôn ngữ biểu thị các cung bậc tình cảm và ảo mộng tình yêu trong mê hồn ca và đường vào tình sử của đinh hùng sẽ giúp bạn khám phá thêm về ngôn ngữ và cảm xúc trong thơ ca hiện đại.