CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ 1. Bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX 1.1 Bối cảnh xã hội Khi các chiến hạm của Pháp nổ những phát súng đầu tiên ở cửa biển Đà Nẵng năm 1858, xã hội Việt Nam như choàng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Trong khi thế giới đang chuyển biến với cuộc cách mạng công nghệ dẫn đến nhu cầu đi tìm thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, thì giai cấp phong kiến Việt Nam đã để đất nước chìm sâu trong sự lạc hậu và trì trệ. Trong quá khứ đã từng xuất hiện những tiếng nói cảnh báo của những người trí thức ưu thời mẫn thế như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, nhưng triều đình nhà Nguyễn và các quan lại vừa thiển cận, vừa tự mãn, đã bỏ ngoài tai những lời khuyến nghị, ngày càng đưa đất nước đến nguy cơ khủng hoảng.
Từ hoà ước Nhâm Tuất 1862 giao ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây cho thực dân Pháp cho đến hoà ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenôtres, Pháp đã hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự. Một đất nước chia thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau: thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thuộc sự cai trị của Triều Nguyễn song do khâm sứ Pháp điều khiển. Nếu ở Nam kỳ dân chúng có ít nhiều quyền tự do, dân chủ, thì ở Bắc và Trung Kỳ, ách kìm kẹp của Pháp ngày càng siết chặt. Những cuộc nổi dậy và phản kháng của nhân dân liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, cuộc binh biến ở Thái Nguyên, cuộc dân biến ở Trung Kỳ, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh…; nhưng tất cả đều bị dìm trong biển máu.
Từ năm 1897 đến năm 1914 Pháp thực hiện đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến năm 1919, chúng bắt đầu đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1939). Những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. 20 Khi chiếm trọn được sáu tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã mưu toan thay đổi toàn bộ nền giáo dục Việt Nam. Một số trường công lập thuộc thẩm quyền thị chính được khai sinh ngay tại Sài Gòn.
Để thay đổi nền giáo dục cổ truyền vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, thực dân Pháp bắt đầu đưa chữ quốc ngữ vào dạy trong trường học. Ban đầu là những biện pháp khuyến khích, chẳng hạn như cho phép “mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy quốc ngữ” hay “những làng nhỏ có một trường dạy quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng góp cho trường hàng tổng” theo Nghị định 14. Nhiều làng phải thuê người đi học cho đủ số lượng. [86] Về sau, các biện pháp mạnh hơn được áp dụng để cưỡng chế học sinh đi học.1879 về việc tổ chức nền học chánh mới ở Nam Kỳ đã ban hành chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Nam Bộ.
Theo đó, chương trình Tiểu học (ba năm) có dạy quốc ngữ, chương trình cấp 2 (ba năm) học cả chữ Nho và quốc ngữ), chương trình cấp 3 (4 năm) dạy các văn thư, khế ước thông dụng, sử địa An Nam mỗi tuần. [86] Các kì thi theo kiểu cổ truyền cũng bị xoá bỏ. Trường hậu bổ được thành lập để đào tạo những người làm quan cho Pháp. Nhiều học sinh, đặc biệt là các học sinh công giáo được cử đi du học ở Pháp và các nước thuộc địa của Pháp.
Số lượng học sinh được học chương trình của Pháp tăng lên ngày càng đông khi hệ thống trường Pháp -Việt được mở rộng tại Sài Gòn và một số thành phố, tỉnh lỵ lớn khác. Sự thay đổi hình thức và nội dung giáo dục đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới cho xã hội – tầng lớp trí thức Tây học. Chính tầng lớp này đã hình thành nên một đội ngũ sáng tác, một tầng lớp công chúng mới ở thành thị, tác động trực tiếp tới sự hình hành và phát triển nền văn học chữ quốc ngữ ở Nam Bộ - cái nôi của báo chí quốc ngữ cả nước. Bên cạnh đó, việc bắt buộc sử dụng chữ quốc ngữ trong tất cả các văn bản hành chính và các lĩnh vực khác cũng góp phần đẩy mạnh sự chuyển biến mạnh mẽ về văn hoá xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Đây là một trong những biểu hiện 21 rõ rệt nhất của việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở Việt Nam. Chữ quốc ngữ là loại chữ mà các giáo sĩ phương Tây hình thành bằng cách sử dụng bộ chữ cái la-tinh quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ (mà một số ngôn ngữ phương Tây như chữ Bồ Đào Nha đã từng làm) để ghi âm tiếng Việt. Khi nói đến sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam, nhiều người cho rằng linh mục Alexandre de Rhodes, đôi khi được gọi theo tên đã Việt hoá là Đắc Lộ, là người đầu tiên đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Năm 1651, linh mục Alexandre de Rhodes đã biên soạn và cho in ở nhà in của Giáo hội La Mã tại Roma (Ý) cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum).
Cũng trong năm này, ông cho in cuốn sách giảng đạo nhan đề là Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức chúa Trời, cuốn sách đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ. [5] Tuy nhiên, sự thật thì các giáo sĩ phương Tây đã tới Việt Nam và bước đầu đặt nền móng cho việc hình thành chữ quốc ngữ từ trước đó. Tháng 10-1629, một linh mục người Bồ Đào Nha là Gaspar d’Amaral lần đầu tiên tới Đàng Ngoài cùng với một người Nhật Bản là thầy Paulus Saito. Trong thời gian ở Việt Nam, linh mục Gaspar d’Amaral đã đi sâu nghiên cứu và học rất nhanh chữ quốc ngữ, khi ấy mới ở dạng phôi thai, còn hết sức sơ khai.
Ông đã để lại hai tài liệu viết tay vào các năm 1632 và 1637, trong đó ghi lại hàng loạt chữ quốc ngữ. Sau đó, ông bắt tay vào soạn cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latinum) nhưng tiếc thay cuốn từ điển chưa kịp ấn hành thì ông đã qua đời trên đường từ Ma Cao quay trở lại Đàng Ngoài để tiếp tục truyền giáo (23-12-1645) do tàu chở ông bị đắm. Cuốn từ điển mà linh mục Gaspar d’Amaral đang soạn dở dang đã bị thất lạc. [8] Một linh mục Dòng Tên thứ hai người Bồ Đào Nha cũng có những đóng góp ở bước sơ khởi trong việc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam là linh mục Antonio Barbosa.
Ông đã soạn thảo một cuốn Từ điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita), từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt, có lẽ trong thời gian 6 năm ở Đàng Ngoài. Nhưng cũng giống như số phận cuốn từ điển soạn dở của linh 22 mục Gaspar d’Amaral, cuốn tự điển của linh mục Antonio Barbosa cũng bị “mất tích” và không ai biết được là nó đã bị huỷ hoại hay thất lạc đâu đó. [8, 67] Chính dựa trên những cuốn từ điển (sau bị thất lạc) này mà linh mục Alexandre de Rhodes đã soạn ra cuốn Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 và được coi như là người có công sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Công lao lớn của Alexandre de Rhodes là ở chỗ ông đã dựa trên thành quả của những người đi trước để trở thành người soạn thảo và cho in thành sách những công trình đầu tiên về chữ quốc ngữ ở Việt Nam.
Ngoài ra, trong sự hình thành chữ quốc ngữ, bên cạnh những nỗ lực cá nhân của Alexandre de Rhodes, còn có sự đóng góp của nhiều người khác nữa, trong đó không loại trừ có cả những người Việt Nam. Mặc dù đã có những công trình như thế nhưng chữ quốc ngữ vẫn không được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, đặc biệt là trong quảng đại dân chúng. Trong suốt hơn 200 năm sau đó, chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng ở một phạm vi hẹp trong khuôn khổ nhà thờ Thiên Chúa giáo để phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sỹ như dịch Kinh thánh, soạn các sách truyền đạo. Trong suốt thời gian đó, một số giáo sĩ phương Tây đã nỗ lực nhằm hoàn thiện dạng thức chữ quốc ngữ sơ khai mà Alexandre de Rhodes đã tạo ra.
Điển hình trong số đó là những sửa đổi của Đức Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux de Béhaine, thường được biết đến ở Việt Nam dưới tên gọi Bá Đa Lộc. Giám mục Bá Đa Lộc là người đã khởi soạn Từ điển An nam-Latinh (1772-1773). Công trình đang còn dở dang thì được cố đạo Tabert tiếp nối. Tới năm 1838, cha Tabert đã cho in tại Serampur, Ấn Độ, cuốn Từ điển Việt-Latinh (Dictionarium annamitico- latinum) có ghi thêm chữ Nôm bên cạnh chữ quốc ngữ (cuốn từ điển này thường được biết tới dưới tên gọi là Từ điển Tabert).
Trừ một số trường hợp cá biệt, chữ quốc ngữ trong Từ điển Tabert về cơ bản đã có dạng thức như ngày nay. Sau khi Pháp đã hoàn thành việc chiếm đóng và trực tiếp cai trị Nam Kỳ từ năm 1867, chính quyền cai trị đã đẩy mạnh việc dạy học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Một số học giả, nhà bác học thời bấy giờ, chủ yếu ở Nam Kỳ, như Trương 23 Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cũng đã có nhiều công trình nhằm phổ biến và truyền bá chữ quốc ngữ trong dân chúng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Người đi tiên phong trong việc xây dựng và truyền bá chữ quốc ngữ, đặc biệt ở Nam Kỳ, là Trương Vĩnh Ký.
Trương Vĩnh Ký vốn họ tên là Trương Chánh Ký, tên thánh là Pétrus Jean Baptiste, sau đổi là Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký. Trong lĩnh vực phát triển chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký là tác gia đầu tiên và lớn nhất của văn học chữ quốc ngữ Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông là người Việt Nam đầu tiên cho in sách bằng chữ quốc ngữ (1866), viết du ký bằng chữ quốc ngữ, phiên âm ra chữ quốc ngữ các tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán; là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam và ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng Pháp; là soạn giả Việt Nam đầu tiên làm từ điển đối dịch Pháp-Việt, Hán-Việt-Pháp; là nhà báo người Việt đầu tiên làm chủ bút một tờ báo (tờ Gia Định báo, từ 1869, sau E.Potteaux, trước Huỳnh Tịnh Của) và ra nguyệt san (tờ Thông loại khoá trình, 1888-1889, với tư cách tư nhân).