Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" do nghiên cứu sinh Phạm Ngọc Hiền thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ứng Duy Thịnh. Công trình được bảo vệ năm 2020 tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, mã số đào tạo 9210221.

THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử sân khấu truyền thống Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, vai trò dàn dựng vở diễn chủ yếu do "thầy tuồng" hoặc "người sắp trò" đảm nhiệm với các chức năng phân vai, sắp xếp lớp diễn và nhắc nhở diễn viên. Sau Cách mạng tháng Tám, nghệ thuật đạo diễn sân khấu mới chính thức du nhập vào Việt Nam và được xác lập vị trí tác giả của vở diễn. Bước sang thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng, nghề đạo diễn đã mở rộng phạm vi sang lĩnh vực ca múa nhạc. Đạo diễn chương trình ca múa nhạc giữ vai trò tổng chỉ huy, quyết định chất lượng và sự hoàn thiện của tổng thể chương trình.

Thực tế tại TP.HCM – trung tâm có thị trường biểu diễn phát triển sôi động – hoạt động đạo diễn chương trình ca múa nhạc vẫn diễn ra chủ yếu theo phương thức tự phát. Phần lớn người làm nghề hoạt động dựa trên cảm tính, năng khiếu và kinh nghiệm cá nhân, hoặc chuyển dịch chuyên môn từ các ngành đạo diễn sân khấu kịch nói, kịch hát, đạo diễn điện ảnh, biên đạo múa sang, chưa qua hệ thống đào tạo chính quy, chuyên sâu về dàn dựng ca múa nhạc. Chưa có cơ sở giáo dục đại học nào mở mã ngành đào tạo chuyên biệt về đạo diễn chương trình ca múa nhạc. Dù nghề đã hình thành và phát triển hơn ba thập kỷ, lĩnh vực này vẫn chưa được đúc kết thành hệ thống cơ sở lý luận khoa học hoàn chỉnh. Nghiên cứu thực tiễn nhằm xây dựng hệ thống lý luận về nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM là một yêu cầu cấp thiết của ngành nghệ thuật biểu diễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát thực tiễn nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM hiện nay, tổng hợp thành cơ sở lý thuyết nhằm xác định các nội dung cơ bản liên quan đến nghiệp vụ đạo diễn ca múa nhạc; từ đó xác lập căn cứ khoa học định hướng phát triển chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM đạt hiệu quả trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa có chọn lọc một số khái niệm và lý thuyết/lý luận làm cơ sở tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
  2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, có hệ thống.
  3. Phân tích các phương diện sáng tạo của đạo diễn trong quá trình dàn dựng chương trình ca múa nhạc.
  4. Xác định và phân tích hoạt động thực hành của đạo diễn thông qua phương thức làm việc với các thành phần sáng tạo khác, các yếu tố kỹ thuật và công tác dàn cảnh.
  5. Tìm hiểu, phân tích kinh nghiệm đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM, chỉ rõ các thành công cùng những mặt hạn chế, tồn tại.
  6. Xác định các xu hướng phát triển của nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong thực tiễn.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM đã được hình thành và phát triển như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Công việc đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM bao gồm những nội dung gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Những xu hướng phát triển của nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM hiện nay diễn ra như thế nào?

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, tác giả đưa ra 3 giả thuyết khoa học:

  • Giả thuyết khoa học 1: Từ sau năm 1986, nghề đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM bắt đầu xuất hiện; giai đoạn 1996 - 2000 phát triển nhanh gắn với sự ra đời của các chương trình âm nhạc thị trường; và giai đoạn 2000 - 2020 phát triển gắn với các chương trình ca múa nhạc công phu chào mừng các ngày lễ lớn của TP.HCM và đất nước.
  • Giả thuyết khoa học 2: Công việc đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM được thể hiện cụ thể thông qua cung cách làm việc của đạo diễn đối với ca sĩ, biên đạo múa, nhạc sĩ, cùng các thành phần nghệ thuật và yếu tố kỹ thuật khác trong quá trình dàn dựng.
  • Giả thuyết khoa học 3: Các nhóm xu hướng phát triển nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM hiện nay bao gồm nhóm xu hướng dựa trên các giá trị cơ bản của nghệ thuật và nhóm xu hướng sáng tạo nghệ thuật mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM hiện nay từ góc độ lý luận và thực tiễn.
  • Phạm vi đối tượng: Tập trung nghiên cứu nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập được Nhà nước quản lý và đầu tư kinh phí; đồng thời khảo sát, so sánh với các chương trình do các đơn vị tư nhân dàn dựng, tổ chức sản xuất.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn TP.HCM; có mở rộng đối chiếu với một số chương trình ca múa nhạc tiêu biểu được tổ chức ngoài phạm vi TP.HCM nhằm bảo đảm tính khách quan.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2020, thời kỳ các chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM phát triển sôi động với sự xuất hiện của nhiều live show và sự kiện nghệ thuật quy mô lớn.
  • Phạm vi nội dung: Phân tích những thành công, hạn chế, tồn tại thực tế và các xu hướng phát triển của nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM để đề xuất giải pháp phát triển.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các nhóm tài liệu chuyên môn trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc:

1. Nhóm tài liệu về nghệ thuật đạo diễn sân khấu và lý luận sân khấu

  • Tài liệu trong nước: Công trình Đại cương nghệ thuật sân khấu của Trần Trí Trắc tập trung vào hành động sân khấu, xung đột sân khấu, thể tài và hình tượng sân khấu truyền thống; Cơ sở lý luận và kỹ thuật đạo diễn của Trần Minh Ngọc phân tích lịch sử ra đời của người dàn cảnh, mối tương quan giữa đạo diễn với các thành phần sáng tạo và tính hiện đại của nghệ thuật sân khấu trước sự cạnh tranh của phương tiện nghe nhìn; Sân khấu đại cương của Đức Kôn nghiên cứu bản chất, chức năng giáo dục - giải trí và các trơng phái sân khấu; Đạo diễn chèo và Kỹ thuật biểu diễn chèo của Trần Bảng khảo sát mối quan hệ giữa ca, múa, nhạc trong nghệ thuật truyền thống; Phương pháp đạo diễn chương trình nghệ thuật tổng hợp của Lê Ngọc Canh phân tích nghệ thuật không gian, thời gian, hành động và cấu trúc kịch bản phân cảnh; Cơ sở lý luận sân khấu học và Lý luận sân khấu hóa của Phạm Duy Khuê bàn luận về xuất xứ nghệ thuật đạo diễn, ý đồ đạo diễn và đạo diễn chương trình ca múa nhạc (chương 17); Tính ước lệ của nghệ thuật sân khấu và Tính hấp dẫn của nghệ thuật sân khấu của Hồ Ngọc; cuốn Kiến thức sân khấu phổ thông của nhóm tác giả; luận án Những nguyên tắc cơ bản của sân khấu cổ truyền Việt Nam của Nguyễn Đình Nghi; cùng các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phương (Đạo diễn với kịch hát dân tộc) và Đình Quang.
  • Tài liệu nước ngoài: Giáo trình Nghệ thuật đạo diễn của O. Remez (trường GITIS - Liên Xô, do Hoàng Sự dịch); cuốn Think Like a Director của Michael Bloom bàn về các bước chuẩn bị và tư duy thực hành đạo diễn; The Theater Experience của Edwin Wilson đề cập đến không gian sân khấu, thiết kế mỹ thuật và tổ chức lịch trình; Play production today của Jonniepat Mobley phân tích cách thức xử lý của đạo diễn trong các vở nhạc kịch tại châu Mỹ; cùng hệ thống lý thuyết sân khấu của Aristotle, Stanislavski (sân khấu hiện thực tâm lý), Bertolt Brecht (sân khấu tự sự/gián cách), V. Meyerhold, E. Vakhtangov, V. Nemirovich-Danchenko và André Antoine.

2. Nhóm tài liệu về nghệ thuật đạo diễn điện ảnh

  • Tài liệu trong nước: Cuốn Đạo diễn điện ảnh thế giới do Trần Luân Kim chủ biên tổng kết sự nghiệp của các đạo diễn tiêu biểu; cuốn Viết kịch bản Điện ảnh và Truyền hình của Sâm Thương cung cấp phương pháp xây dựng kịch bản và xử lý hình ảnh thị giác.
  • Tài liệu nước ngoài: Các công trình A Director Prepares của Anne Bogart, A Sense of Direction của William Ball, và The Basics of Film Direction của L. Kuleshov phân tích quy trình tổ chức khuôn hình, xử lý góc máy, thiết kế ánh sáng và chỉ đạo diễn xuất, làm cơ sở đối chiếu với thủ pháp dàn dựng sân khấu ca múa nhạc hiện đại có sử dụng màn hình LED và công nghệ video.

3. Nhóm tài liệu về các thành phần cấu thành chương trình ca múa nhạc

  • Lĩnh vực Ca và Âm nhạc: Công trình Thế kỷ âm nhạc Việt Nam của Nguyễn Thụy Kha, Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu của Phạm Duy, 9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam của Lê Thiên Minh Khoa, Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa của Dương Viết Á, Lược sử âm nhạc Việt Nam của Nguyễn Thụy Loan, Âm nhạc Việt Nam những điều cần biết của Nguyễn Văn Huân, 152 nhạc khí và 24 dàn nhạc dân tộc Việt Nam của Minh Hiến, bản dịch Các thể loại âm nhạc của Lan Hương và Giáo trình Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể của nhóm tác giả.
  • Lĩnh vực Múa: Các công trình của Lê Ngọc Canh gồm 100 Điệu múa truyền thống Việt Nam, Đại cương nghệ thuật Múa, Phương pháp kết cấu kịch bản múa, Nghệ thuật múa thế giới; Phương pháp sáng tác múa của Đặng Hùng; Nghệ thuật biên đạo múa của Nguyễn Thị Hiển; luận án và bài viết Múa dân gian trong tác phẩm múa chuyên nghiệp Việt Nam của Ứng Duy Thịnh; cuốn Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam của Ngân Quý.
  • Lĩnh vực Kỹ thuật và Mỹ thuật sân khấu: Cuốn Đạo diễn âm thanh – ánh sáng của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Khánh, Lê Văn Cường; bản dịch Concert Lighting của James L. Moody và Paul Dexter (Lê Tuyên Phúc dịch); Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam của Phùng Huy Bính; Không gian và thời gian sân khấu của Hà Quang Sơn; Không gian sân khấu và nghệ sĩ của Nguyễn Thị Hợp; Thiết kế mỹ thuật chèo và Mỹ thuật sân khấu và đào tạo họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu của Nguyễn Dân Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Phần lớn các công trình đã công bố chỉ đi sâu vào từng bộ phận chuyên biệt (sân khấu kịch, điện ảnh, âm nhạc, múa, kỹ thuật chiếu sáng, mỹ thuật trang trí) hoặc chỉ nhắc đến đạo diễn ca múa nhạc một cách khái quát, chưa có tính hệ thống. Chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu toàn diện nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc từ góc độ lý luận chuyên ngành và thực tiễn hoạt động tại TP.HCM. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng kết thực tiễn để định hình hệ thống lý luận chuyên biệt cho nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án xây dựng trên hai cơ sở lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết Sân khấu học: Kế thừa hệ thống nguyên lý đạo diễn sân khấu kịch thế giới (các trường phái Stanislavski, Brecht, Antoine) và sân khấu truyền thống Việt Nam; vận dụng các quy luật về hành động sân khấu, xung đột, dàn cảnh (mise en scène), cấu trúc kịch bản và mối quan hệ giữa đạo diễn - người biểu diễn - khán giả vào tính đặc thù của thể loại ca múa nhạc.
  • Lý thuyết Không gian văn hóa vùng (Địa văn hóa): Phân tích các đặc trưng địa văn hóa của TP.HCM và vùng đất Nam Bộ với vị thế "bán đảo của bán đảo", tính chất mở, sự giao lưu tiếp biến văn hóa Đông - Tây, tính hỗn dung tôn giáo/tín ngưỡng, và tính chất của một trung tâm kinh tế - văn hóa có thị trường biểu diễn phát triển sớm và mạnh nhất cả nước.
HỆ THỐNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN ĐƯỢC XÁC LẬP TRONG LUẬN ÁN

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và tiếp cận liên ngành:

  • Cách tiếp cận liên ngành Văn hóa học – Nghệ thuật học: Phân tích hoạt động nghệ thuật gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh văn hóa xã hội và đặc điểm địa văn hóa Nam Bộ từ khi các hình thức nghệ thuật phương Tây du nhập đến nay.
  • Phương pháp xã hội học: Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với các đạo diễn chương trình ca múa nhạc tiêu biểu đã và đang hành nghề tại TP.HCM trong giai đoạn 2000 - 2020 để thu thập dữ liệu thực tế về phương thức làm việc và kinh nghiệm dàn dựng.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các tài liệu văn bản, kịch bản dàn dựng, các bài tham luận, báo cáo khoa học và tài liệu ghi hình liên quan đến nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa, kỹ thuật âm thanh, ánh sáng; tổng hợp thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa nghệ thuật đạo diễn sân khấu và đạo diễn ca múa nhạc; so sánh phương thức thực hiện giữa các đơn vị nghệ thuật công lập và tư nhân; so sánh các chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM với các địa bàn khác.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục tổng thể của luận án gồm phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (4 trang), Danh mục công trình khoa học của tác giả (trang 150), Tài liệu tham khảo (trang 158), Phụ lục (37 trang) và 3 chương nội dung chính:

BẢNG CƠ CẤU CÁC CHƯƠNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN ÁN

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nghệ thuật đạo diễn

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, xác lập hệ thống khái niệm, lý thuyết nền tảng, đồng thời phác thảo tiến trình lịch sử của nghệ thuật đạo diễn và xác định điểm tương đồng giữa đạo diễn sân khấu với đạo diễn ca múa nhạc.

  1. Lịch sử hình thành nghệ thuật đạo diễn thế giới và du nhập vào Việt Nam:

    • Trên thế giới: Manh nha từ sân khấu Hy Lạp cổ đại (thế kỷ VI TCN tại Athens với các "thầy tuồng" Aeschylus, Euripides, Sophocles, Thespis); qua sân khấu La Mã, thời kỳ Trung Cổ, thời kỳ Phục Hưng (W. Shakespeare), kịch cổ điển Pháp (Molière tự chỉ đạo diễn xuất), đến cuối thế kỷ XIX với André Antoine (người khởi sinh mise en scène hiện đại và khái niệm "bức tường thứ tư") và thế kỷ XX với các bậc thầy đạo diễn Xô Viết (Stanislavski, Nemirovich-Danchenko, Meyerhold, Vakhtangov) và Bertolt Brecht tại Đức.
    • Tại Việt Nam: Trước năm 1954 mang tính tự phát, truyền nghề (gọi là thầy tuồng, người soạn trò/sắp trò, nhà dàn cảnh); sau năm 1954 bước vào giai đoạn chuyên nghiệp hóa khi các thế hệ nghệ sĩ đầu tiên được cử đi đào tạo chính quy tại Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu (Đình Quang, Trần Hoạt, Ngô Y Linh, Nguyễn Đình Nghi, Dương Ngọc Đức, Ngọc Phương, Hà Nhân, Tường Trân, Thành Trí, Đoàn Bá, Ca Lê Hồng...); sau năm 1975 phát triển trên nhiều loại hình, trong đó có ca múa nhạc.
  2. Tiến trình phát triển chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM qua các mốc thời gian:

    • 1930 - 1945: Tân nhạc phương Tây du nhập, manh nha các hoạt động dàn dựng ca múa nhạc.
    • 1945 - 1954: Tân nhạc phân tách theo hoàn cảnh kháng chiến và thành thị.
    • 1954 - 1975: Miền Nam tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa phương Tây (Mỹ, Pháp); hình thành các đoàn nghệ thuật như Đoàn Văn nghệ Việt Nam (1961), Đoàn Văn nghệ Maxim (1967) với các hoạt động của Hoàng Thi Thơ, Trịnh Toàn, Lưu Hồng; các tụ điểm Đại Nhạc Hội của Tùng Lâm (rạp Olympic), Duy Ngọc (rạp Hưng Đạo); người điều hành lúc này được gọi là bầu show, chỉ đạo nghệ thuật, chỉ huy đêm diễn.
    • 1975 - 1986: Thành lập các đoàn chuyên nghiệp công lập tại TP.HCM (Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen, Đoàn Ca nhạc nhẹ Tháng 8, Đoàn Ca nhạc nhẹ Sài Gòn); tiếp thu phong cách dàn dựng chính quy từ các đoàn phía Bắc.
    • 1986 - 2000: Bắt đầu xuất hiện danh xưng chính thức "đạo diễn chương trình ca múa nhạc". Đánh dấu bằng chương trình tạp kỹ của Elvis Công do Tất My Loan đạo diễn (1990 tại Nhà hát Hòa Bình), kéo theo các chương trình Tuổi thần tiên, Duyên dáng Việt Nam, Tuổi hai mươi, chương trình Hồn Việt (Diệu Đức đạo diễn tại Nhà hát Bến Thành). Giai đoạn 1996 - 2000 bùng nổ trào lưu nhạc trẻ qua giải thưởng Làn sóng xanh, xuất hiện thế hệ đạo diễn như Huỳnh Phúc Điền, Đinh Anh Dũng, Đoàn Khoa.
    • Từ năm 2000 đến 2020: Phát triển mạnh mẽ cả về thị trường giải trí thương mại lẫn các chương trình chính luận kỷ niệm ngày lễ lớn của đất nước (40 năm Giải phóng miền Nam, 50 năm Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Lễ hội âm nhạc quốc tế Hò Zô năm 2019). Xuất hiện các đạo diễn như Trần Vi Mỹ, Lê Quý Dương, Nguyễn Quang Dũng, Dương Thảo, Binh Hùng, Tấn Lộc...
  3. Tương đồng giữa đạo diễn sân khấu và đạo diễn ca múa nhạc: Cả hai đều thuộc nghệ thuật biểu diễn, vận hành qua ba công đoạn: làm việc với kịch bản (đạo diễn ca múa nhạc thường tự xây dựng kịch bản dàn dựng từ thỏa thuận với nhà sản xuất), làm việc với người biểu diễn và xử lý mối quan hệ giao tiếp với khán giả.

Chương 2: Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc

Chương 2 phân tích chuyên sâu hai thành tố cấu thành nghệ thuật đạo diễn ca múa nhạc: Sáng tạo đạo diễn và Thực hành công việc đạo diễn.

MÔ HÌNH CÁC PHƯƠNG DIỆN SÁNG TẠO VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐẠO DIỄN CA MÚA NHẠC
  • Sáng tạo đạo diễn:
    • Tư duy đạo diễn: Là khả năng bao quát tầm nhìn, cấu tứ nội dung, xác định chủ đề tư tưởng và xây dựng hình tượng nghệ thuật xuyên suốt. Khác với kịch nói giải quyết xung đột kịch bản, đạo diễn ca múa nhạc tổ chức sự xung đột và biến chuyển thông qua tiết tấu âm nhạc, sắc thái cảm xúc và không gian thị giác.
    • Thủ pháp đạo diễn: Thể hiện qua nghệ thuật dàn cảnh (mise en scène), các thủ pháp ghép nối tiết mục (như thủ pháp mashup trộn lời bài hát phục vụ ý đồ mới), thủ pháp xử lý không gian đa tầng/đa chiều, và việc ứng dụng ngôn ngữ điện ảnh (góc máy, video trình chiếu màn hình LED tương tác với diễn viên).
  • Thực hành công việc đạo diễn:
    • Làm việc với nghệ sĩ: Chỉ đạo, định hướng phong cách thể hiện cho ca sĩ; làm việc chặt chẽ với biên đạo múa để múa không chỉ dừng ở minh họa cơ học mà trở thành thủ pháp chuyển tải tư tưởng; phối hợp với nhạc sĩ hòa âm phối khí để thống nhất cấu trúc âm thanh.
    • Làm việc với các thành phần nghệ thuật và yếu tố kỹ thuật khác: Phối hợp với họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu để xác lập không gian diễn xuất; làm việc với đạo diễn/chuyên viên ánh sáng (vận dụng kỹ thuật chiếu sáng hiện đại); điều phối chuyên viên âm thanh; kiểm soát trang phục, đạo cụ và hệ thống cơ khí biểu diễn.

Chương 3: Xu hướng phát triển nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 chỉ ra các vấn đề tồn tại, xác định yêu cầu thực tiễn và phân tích hai nhóm xu hướng phát triển chính của nghệ thuật đạo diễn ca múa nhạc tại TP.HCM.

  1. Một số vấn đề tồn tại và yêu cầu thực tiễn:

    • Tồn tại: Tình trạng làm nghề tự phát, thiếu hụt cơ sở đào tạo bài bản; sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ màn hình LED và hiệu ứng cơ khí làm lu mờ giá trị biểu cảm của nghệ thuật biểu diễn; kịch bản dàn dựng còn tình trạng rập khuôn, thiếu chiều sâu tư tưởng.
    • Yêu cầu thực tiễn: Đòi hỏi tính chuyên nghiệp hóa cao trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; yêu cầu xác lập hệ thống lý luận định hướng thực hành nghề nghiệp.
  2. Các nhóm xu hướng phát triển:

    • Nhóm xu hướng dựa trên các giá trị cơ bản của nghệ thuật: Chú trọng khai thác chất liệu văn hóa truyền thống, âm nhạc dân tộc, các giá trị lịch sử và tư tưởng thẩm mỹ chuẩn mực; củng cố tính chân thực và chiều sâu cảm xúc trong biểu diễn.
    • Nhóm xu hướng sáng tạo nghệ thuật mới: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại (ánh sáng kỹ thuật số, công nghệ trình chiếu tương tác 3D/video mapping), giao thoa thể loại (kết hợp ca vũ kịch, nhạc kịch phương Tây với nghệ thuật truyền thống), đa dạng hóa không gian trình diễn ngoài trời quy mô lớn.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc dưới góc độ khoa học nghệ thuật biểu diễn và lịch sử sân khấu.
  • Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm chuyên ngành: Đạo diễn chương trình ca múa nhạc, Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc, Chương trình ca múa nhạc, Kịch bản dàn dựng ca múa nhạc.
  • Xác lập khung lý luận phân tích hoạt động sáng tạo của đạo diễn ca múa nhạc gồm hai trục: tư duy - thủ pháp đạo diễn và quy trình thực hành phối hợp đa thành phần (nghệ sĩ, kỹ thuật, mỹ thuật).
  • Làm sáng tỏ quy luật vận động của nghệ thuật đạo diễn ca múa nhạc tại TP.HCM dựa trên lý thuyết không gian văn hóa vùng và giao lưu tiếp biến văn hóa.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khái quát bức tranh toàn cảnh và phân kỳ lịch sử phát triển của nghề đạo diễn ca múa nhạc tại TP.HCM từ năm 1930 đến năm 2020.
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn giúp các đạo diễn đương nhiệm nhận diện hạn chế, nâng cao năng lực tư duy dàn cảnh và phối hợp chuyên môn.
  • Cung cấp luận cứ cho các cơ quan quản lý văn hóa trong việc thẩm định chất lượng chương trình và định hướng hoạt động biểu diễn nghệ thuật.

3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng chương trình khung và mở mã ngành/chuyên ngành đào tạo đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại các trường đại học nghệ thuật chuyên nghiệp.
  • Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị tổ chức biểu diễn tư nhân nhằm nâng cao tính thẩm mỹ của các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
  • Khuyến khích các đạo diễn cân bằng giữa ứng dụng công nghệ hiện đại và chiều sâu giá trị nghệ thuật dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian chính tại TP.HCM trong khung thời gian 2000 - 2020; nguồn tài liệu thành văn chuyên biệt về đạo diễn ca múa nhạc còn hạn chế nên công trình chủ yếu dựa trên các tài liệu liên ngành và tư liệu khảo sát thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh nghệ thuật đạo diễn ca múa nhạc tại các vùng văn hóa khác trên cả nước (như Hà Nội, miền Trung); nghiên cứu sâu về mô hình quản trị sản xuất chương trình ca múa nhạc trong thời kỳ công nghiệp văn hóa số và các festival âm nhạc quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo quan trọng cho các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Nghệ thuật học, Văn hóa học và Đạo diễn sự kiện/âm nhạc.
  • Đối với đạo diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ: Cung cấp tri thức lý luận về cấu tứ, dàn cảnh và phương pháp phối hợp giữa các thành phần sáng tạo.
  • Đối với nhà quản lý văn hóa: Hỗ trợ xây dựng tiêu chí thẩm định, đánh giá chất lượng nghệ thuật trong các liên hoan và sự kiện biểu diễn quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM từ góc độ lý luận và thực tiễn. Phạm vi đối tượng tập trung vào các đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập, có đối chiếu với các đơn vị tư nhân. Phạm vi không gian là địa bàn TP.HCM (có so sánh với một số chương trình ngoài thành phố). Phạm vi thời gian khảo sát từ năm 2000 đến năm 2020.

2. Tiến trình hình thành nghề đạo diễn ca múa nhạc tại TP.HCM trải qua những mốc thời gian nào?

Luận án phân chia tiến trình lịch sử qua các giai đoạn: 1930 - 1945 (tân nhạc du nhập); 1945 - 1954 (tân nhạc kháng chiến và thành thị); 1954 - 1975 (sân khấu ca vũ nhạc tại Sài Gòn với các tên tuổi Hoàng Thi Thơ, rạp Olympic, Hưng Đạo); 1975 - 1986 (thành lập các đoàn ca múa nhạc công lập chuyên nghiệp); 1986 - 2000 (chính thức xuất hiện danh xưng đạo diễn ca múa nhạc với Tất My Loan, Huỳnh Phúc Điền...); và 2000 - 2020 (phát triển các live show thương mại và sự kiện chính luận lớn).

3. Tác giả định nghĩa "Chương trình ca múa nhạc" và "Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc" như thế nào?

  • Chương trình ca múa nhạc: Là một chuỗi những tiết mục, trong đó có các thành tố tham gia như ca, múa, nhạc được sắp xếp, tổng hợp thành một chương trình có tính hệ thống, một chỉnh thể hợp nhất.
  • Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc: Là cách mà người đạo diễn dùng mọi kiến thức, tài năng, phương pháp tốt nhất để nâng tầm chất lượng nghệ thuật, đem lại giá trị thẩm mỹ cho chương trình ca múa nhạc.

4. Hệ thống kịch bản trong chương trình ca múa nhạc được phân loại ra sao?

Bao gồm hai loại chính là kịch bản văn học và kịch bản dàn dựng. Trong thực hành các chương trình quy mô lớn tại TP.HCM, đạo diễn còn triển khai các kịch bản thành phần (kịch bản con) gồm: kịch bản ánh sáng, kịch bản video/màn hình LED và kịch bản người dẫn chương trình (kịch bản MC).

5. Luận án chỉ ra những nhóm xu hướng phát triển nào của nghệ thuật đạo diễn ca múa nhạc tại TP.HCM?

Luận án xác định hai nhóm xu hướng chính: (1) Nhóm xu hướng dựa trên các giá trị cơ bản của nghệ thuật (khai thác bản sắc truyền thống dân tộc, chiều sâu cảm xúc và giá trị tư tưởng thẩm mỹ); (2) Nhóm xu hướng sáng tạo nghệ thuật mới (ứng dụng công nghệ âm thanh, ánh sáng, màn hình LED hiện đại, kỹ thuật số và kết hợp đa dạng các loại hình nghệ thuật biểu diễn).


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Ngọc Hiền là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại TP.HCM từ góc độ lý luận và thực tiễn chuyên ngành Sân khấu học. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn hóa học - Nghệ thuật học, lý thuyết Sân khấu học và lý thuyết Không gian văn hóa vùng, tác giả đã làm sáng tỏ bản chất, tư duy, thủ pháp và quy trình thực hành của người đạo diễn ca múa nhạc. Công trình đóng góp tích cực vào việc bổ khuyết khoảng trống lý luận về đạo diễn ca múa nhạc, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác đào tạo, sáng tạo và quản lý nghệ thuật biểu diễn hiện nay.