Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ", chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121), do nghiên cứu sinh Nguyễn Như Trang thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Sơn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển với nhiều thành tựu lớn trong lịch sử văn học trung đại. Đây là giai đoạn ghi nhận sự xuất hiện của nhiều tác gia tiêu biểu, trong đó Nguyễn Công Trứ giữ một vị trí quan trọng với phong cách và giọng điệu riêng biệt trên nhiều thể loại. Sáng tác của ông phản ánh tâm tư, khát vọng và nhu cầu của con người cá nhân trong bối cảnh xã hội đương thời.

Mặc dù lịch sử nghiên cứu về tác gia Nguyễn Công Trứ đã kéo dài gần ba thế kỷ, phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung tiếp cận từ các phương diện tư tưởng, đạo đức, tâm lý hoặc các vấn đề xã hội. Văn bản luận án chỉ ra rằng, cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hệ thống thẩm mĩ trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Công Trứ. Việc nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ giúp lý giải quy luật sản sinh, diễn biến của các yếu tố thẩm mĩ và xác định đặc trưng cái đẹp trong tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của tác giả.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là tiến hành khảo sát toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Trứ nhằm làm rõ sự biểu hiện của chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ và sự hài hòa thẩm mĩ giữa xu hướng sáng tác hướng tâm hành đạo và ly tâm hành lạc; từ đó xác định giá trị trong tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Sưu tập tư liệu và khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ đã được in ấn, xuất bản.
  2. Hệ thống hóa và tìm hiểu các yếu tố thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ dưới góc nhìn mĩ học.
  3. Phân tích vẻ đẹp của chủ thể thẩm mĩ trong sáng tác Nguyễn Công Trứ.
  4. Phân tích vẻ đẹp của khách thể thẩm mĩ trong sáng tác Nguyễn Công Trứ.
  5. Phân tích sự hài hòa thẩm mĩ giữa xu hướng sáng tác hướng tâm hành đạo và ly tâm hành lạc trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề cơ bản thuộc hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ, bao gồm: sự biểu hiện của chủ thể thẩm mĩ, sự biểu hiện của khách thể thẩm mĩ, và sự hài hòa thẩm mĩ giữa xu hướng sáng tác hướng tâm hành đạo và ly tâm hành lạc.
  • Phạm vi tư liệu: Toàn bộ trước tác của Nguyễn Công Trứ đã được in ấn, xuất bản từ trước đến nay. Nguồn văn bản tác phẩm chính được trích dẫn và khảo sát trong luận án căn cứ theo công trình Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử do Đoàn Tử Huyến chủ biên (Nxb. Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008).
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Nghiên cứu tập trung vào các biểu hiện thẩm mĩ trong các thể loại sáng tác của Nguyễn Công Trứ trong suốt cuộc đời của ông (1778–1858), đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ được luận án phân loại và điểm lại qua các nguồn tư liệu và công trình chính:

  1. Nguồn sử liệu thời Nguyễn:

    • Đại Nam thực lục chính biên (Quốc sử quán triều Nguyễn) ghi chép hơn 200 sự kiện liên quan đến hành trạng, hoạt động dâng sớ điều trần, việc quân và việc khai hoang của Nguyễn Công Trứ.
    • Các bộ sử khác như Quốc triều sử toát yếu, Đại Nam chính biên liệt truyện, và Đại Nam nhất thống chí ghi chép chi tiết về tiểu sử, công tích quân sự, kinh tế và phong cách xử thế của ông.
  2. Các công trình sưu tầm, khảo cứu văn bản học:

    • Công trình Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước là công trình biên khảo mở đầu, đặt nền tảng sưu tập tư liệu về cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Công Trứ.
    • Công trình Thơ văn Nguyễn Công Trứ (1958) do Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách và Trương Chính biên soạn, khẳng định các nét đặc trưng về con người hữu chí, con người hành lạc và phong cách ngôn ngữ giản dị, không gò bó theo khuôn sáo.
    • Công trình Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử (2008) do Đoàn Tử Huyến chủ biên, tập hợp tương đối đầy đủ trước tác của tác giả, các bài nghiên cứu của giới học thuật cùng hệ thống niên biểu và thư mục.
  3. Các nghiên cứu về tư tưởng, tâm lý và con người cá nhân:

    • Nguyễn Lộc (chủ biên công trình văn học sử giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) phân tích chí nam nhi, quan niệm thế thái nhân tình và triết lý hưởng lạc, đồng thời nêu nhận định về giới hạn ý thức hệ Nho giáo của tác giả.
    • Lưu Trọng Lư (1939, bài viết trên tạp chí Tao đàn) nhấn mạnh sự hòa hợp giữa các mặt đối lập: mộng và thực, nét lãng tử và nề nếp nho sinh.
    • Nguyễn Bách Khoa trong Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ phân tích đẳng cấp, thời đại và hệ thống tâm lý tài tử - hành lạc, nghênh ngang - thị tài.
    • Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 1994 Nguyễn Công Trứ - con người, cuộc đời và thơ với các tham luận của Ngô Văn Phú (về thể loại ca trù hợp với tạng của tác giả) và Đặng Duy Báu (về tư tưởng bảo vệ đất nước).
    • Phạm Vĩnh Cư (1994) phân tích dòng thơ hành lạc, khẳng định yếu tố nhục cảm được điều tiết bởi văn hóa thanh lịch và thị hiếu thẩm mĩ tinh vi.
    • Nhóm biên soạn Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX (1997) và chuyên luận Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (1997) định vị ba phạm trù: công danh, hưởng nhàn và cái tôi riêng tư.
    • Nguyễn Đức Mậu (1995) phân tích đặc tính thị tài, đa tình của Nguyễn Công Trứ thể hiện trong thể loại hát nói.
    • Trần Ngọc Vương (2000) trong chuyên khảo về loại hình nhà Nho tài tử xem xét sự nghiệp công danh và nhu cầu giải phóng cá nhân.
    • Văn Phú Quang (2001, luận án tiến sĩ triết học tại Đại học Oregon, Hoa Kỳ) nghiên cứu thơ ca Nguyễn Công Trứ từ góc độ triết học về con người toàn diện và trải nghiệm thẩm mĩ.
    • Nguyễn Viết Ngoạn (công trình Nguyễn Công Trứ và bài viết Một khát vọng sống thành thật) khảo sát các dạng thức con người cá nhân, quan niệm sống nhàn chủ động.
    • Trần Nho Thìn và Trương Chính trong chuyên luận Nguyễn Công Trứ - về tác gia và tác phẩm hệ thống hóa tư liệu nghiên cứu, phong cách thơ Nôm và hát nói.
    • Nguyễn Hữu Sơn (2005) nghiên cứu cảm hứng khẳng định bản ngã "Phải có danh gì với núi sông", phân tích lực hướng tâm hành đạo và tiếng nói ly tâm độc đáo.
    • Biện Minh Điền (2009, 2011) nghiên cứu sự thống nhất các đối cực trong phong cách nghệ thuật, hệ thống tư tưởng quân sự và canh nông của kẻ sĩ.
    • Nguyễn Đình Chú và Hoàng Ngọc Hiến phân tích "cái Tôi - cá thể", "dáng kiêu", "cốt kiêu" và cặp biểu tượng thẩm mĩ không gian trời đất - giang sơn.
    • Thái Kim Đỉnh xem xét con người tự do, hành xử ngang tàng trong khuôn khổ thời đại.
    • Nguyễn Thanh Tùng nghiên cứu quan niệm thi học, chỉ ra sự chuyển dịch chức năng thơ ca từ hành đạo sang giải trí, tiêu khiển.
    • Nguyễn Ái Học (2011) tiếp cận tác gia từ phạm trù cái cao cả của mĩ học.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về cuộc đời, tư tưởng, nghệ thuật và thi pháp thể loại, các tác giả đi trước chưa xem xét toàn bộ sáng tác của Nguyễn Công Trứ như một hệ thống thẩm mĩ hoàn chỉnh. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách:

  • Vận dụng lý thuyết mĩ học để xác lập khung nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ bao gồm chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ và sự cân bằng giữa các khuynh hướng sáng tác.
  • Trực tiếp khảo sát toàn bộ di sản thơ văn nhằm làm rõ quy luật vận hành của các phạm trù thẩm mĩ trong sáng tác của tác giả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm và phạm trù mĩ học của phương Đông và phương Tây:

  • Khái niệm Mĩ học và Thẩm mĩ: Luận án dẫn giải từ nguyên thuật ngữ "mĩ học" (Aesthetics / Esthétique) từ Baumgarten thế kỷ XVIII, phân tích quan điểm mĩ học duy vật (Aristote, Diderot, Bielinski, Tsernưshevski, Dobroliubov - xem cái đẹp tồn tại khách quan trong đời sống) và quan điểm mĩ học duy tâm (Platon, Kant, Hegel - xem cái đẹp thuộc về ý niệm hoặc tinh thần). Tại Việt Nam, luận án tham khảo định nghĩa từ Từ điển triết học, Từ điển thuật ngữ văn học, các giáo trình mĩ học của Phạm Quang Trung, Lã Nguyên và nghiên cứu của Lý Trạch Hậu.
  • Năm phạm trù mĩ học cổ điển Việt Nam: Dẫn theo Giáo trình mỹ học cơ sở, gồm: Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mĩ; tương ứng với các phạm trù của mĩ học Mác - Lênin (Cái Đẹp, Cái Xấu, Cái Bi kịch, Cái Hài kịch, Cái Trác tuyệt). Luận án cũng tiếp thu quan điểm của Nguyễn Kim Sơn về đặc trưng thẩm mĩ của văn chương nhà Nho (cái đẹp thế tục, cái đẹp nhân cách, sự thống nhất tình - lý, và tính cương kiện).
  • Khái niệm Hệ thống thẩm mĩ (Aesthetic system): Được luận án định nghĩa là một tập hợp các yếu tố thẩm mĩ có quan hệ mật thiết với nhau, được tổ chức cân xứng nhằm tạo ra giá trị thẩm mĩ tổng hợp. Hệ thống này bao gồm các phương diện: phạm trù thẩm mĩ, quan niệm thẩm mĩ, sự biểu hiện của chủ thể và khách thể thẩm mĩ, cùng các xu hướng sáng tác.
  • Bản chất của cái đẹp: Căn cứ theo Mĩ học đại cương, Biện Minh Điền và Từ điển mĩ học, cái đẹp được xác định cốt ở sự hài hòa, cân xứng, hoàn thiện và gắn với quan niệm về cái Chân, cái Thiện và cái có ích.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp và thao tác nghiên cứu định tính trong nghiên cứu văn học:

  1. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Khảo sát hành trạng, gia thế, quan hệ xã hội và sự nghiệp quan trường của Nguyễn Công Trứ để lý giải căn nguyên hình thành tư tưởng và cảm hứng sáng tác.
  2. Phương pháp so sánh: So sánh đặc điểm thẩm mĩ trong thơ văn Nguyễn Công Trứ với một số tác gia văn học trung đại khác (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát) nhằm chỉ ra nét tương đồng và dị biệt trong phong cách nghệ thuật.
  3. Phương pháp loại hình: Phân loại các yếu tố thẩm mĩ và xác định cơ chế hình thành của mẫu hình nhà Nho tài tử trong sáng tác.
  4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức của mĩ học, văn học, triết học và sử học để phân tích các tầng nghĩa thẩm mĩ của tác phẩm.
  5. Các thao tác bổ trợ: Thao tác phân tích văn học (giải mã tín hiệu thẩm mĩ trong câu chữ, cấu trúc thể loại) và thao tác thống kê, phân loại (hệ thống hóa số lượng tác phẩm, phân chia các nhóm chủ đề và thể loại).

Nguồn tư liệu và dữ liệu văn bản

Dữ liệu khảo sát của luận án dựa trên hệ thống văn bản tác phẩm đã được công bố của Nguyễn Công Trứ. Văn bản trích dẫn chính dựa vào công trình tập hợp văn bản của Đoàn Tử Huyến (2008), có đối chiếu với tài liệu biên khảo của Lê Thước (1928).

Bảng tổng hợp số lượng tác phẩm của Nguyễn Công Trứ theo hai nguồn tư liệu được luận án ghi nhận:

Thể loại / Loại văn bản Theo Lê Thước (1928) Theo Đoàn Tử Huyến chủ biên (2008)
Thơ chữ Nôm 52 bài thơ luật 54 bài xác định, 9 bài tồn nghi
Hát nói 63 bài 67 bài xác định, 8 bài tồn nghi
Thơ chữ Hán Không tách riêng 1 bài (Thất thập tự thọ)
Phú 1 bài (Hàn nho phong vị phú) 1 bài xác định, 1 bài tồn nghi (Trương Lương)
Câu đối 21 câu đối Nôm 37 câu đối (25 câu chữ Nôm, 12 câu chữ Hán)
Tuồng 2 bản (Tửu hội, Lí Phụng Công) 1 đoạn trích tuồng
Văn bản hành chính / Thi cử Không thống kê cụ thể 35 bản tấu sớ; 1 bài văn đạt Giải nguyên

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 dành để hệ thống hóa cơ sở lý luận mĩ học và lịch sử nghiên cứu về tác gia. Nội dung gồm 4 phần:

  1. Mĩ học và thẩm mĩ: Trình bày lược sử hình thành bộ môn mĩ học ở phương Tây từ Baumgarten, Kant, Hegel đến các nhà mĩ học Nga thế kỷ XIX; tiếp nhận mĩ học phương Đông và hệ thống năm phạm trù mĩ học cổ điển Việt Nam (Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mĩ).
  2. Quan niệm về cái đẹp và cơ sở nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ: Xác định cái đẹp là phạm trù trung tâm, bản chất là sự hài hòa, làm căn cứ xem xét các sáng tác của tác giả.
  3. Tình hình nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Công Trứ: Phân tích lịch sử tiếp nhận qua các ghi chép chính sử của triều Nguyễn, các công trình văn bản học (Lê Thước, Đoàn Tử Huyến) và các chuyên luận, kỷ yếu nghiên cứu về tư tưởng, nghệ thuật của các nhà nghiên cứu thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
  4. Khái lược về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ: Tóm lược tiểu sử (1778–1858), quê quán tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh; thân phụ là Đức ngạn hầu Nguyễn Công Tấn; đỗ Giải nguyên năm 1819 (năm 42 tuổi); quá trình làm quan trải qua nhiều thăng giáng chức vụ (từ Thượng thư đến lính thú); các công tích dẹp loạn, khẩn hoang lập huyện Tiền Hải, Kim Sơn; hoạt động dâng sớ trị quốc. Đồng thời, phần này khảo sát cụ thể các thể loại văn chương ông để lại gồm thơ chữ Hán (bài Thất thập tự thọ), thơ Nôm (các đề tài cảnh nghèo, thế thái nhân tình, thú an nhàn), hát nói (nội dung chí nam nhi và hưởng lạc), phú (bài Hàn nho phong vị phú theo thể Đường phú) và 37 câu đối Nôm - Hán.

Chương 2: Sự biểu hiện của chủ thể thẩm mĩ trong sáng tác Nguyễn Công Trứ

Chương 2 tập trung phân tích năng lực cảm thụ và bản lĩnh sáng tạo của tác giả, nơi chủ thể thẩm mĩ hòa làm một với nhân vật trữ tình:

  • Tinh thần mạnh mẽ, cứng cỏi và bản lĩnh cao cường: Biểu hiện qua ý thức cá nhân tự tin, nhận mình thừa hưởng "tú khí" của đất trời để gánh vác việc đời. Kẻ sĩ trong thơ tuyên ngôn rành mạch về món nợ công danh ("Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông"). Tác giả sử dụng hệ thống động từ mạnh mẽ, dứt khoát ("xông pha", "gắng gỏi", "vẫy vùng", "rạch mũi can tương", "thét oai hùm") để khắc họa tư thế đấng nam nhi sánh ngang kích thước vũ trụ. Bản lĩnh đó giúp ông giữ vững khí tiết qua những biến cố thăng trầm, bị giáng phạt trong quan trường mà không bi lụy.
  • Tấm lòng vì nước vì dân: Thể hiện qua lý tưởng "trí quân trạch dân", gắn liền trách nhiệm của kẻ sĩ với sự an nguy của quốc gia và đời sống nhân dân, được kiểm chứng bằng chính hoạt động dâng bản Thái bình thập sách (1803) và các công trình dinh điền thực tiễn.
  • Tự do, phóng khoáng: Chủ thể thẩm mĩ vượt thoát khỏi khuôn mẫu ước lệ nghiêm ngặt của Nho giáo truyền thống, dám công khai thể hiện cá tính riêng, tự nhận mình là người có tài ("thị tài"), sống thành thật với các nhu cầu bản năng và tình cảm cá nhân.

Chương 3: Sự biểu hiện của khách thể thẩm mĩ trong sáng tác Nguyễn Công Trứ

Chương 3 khảo sát thế giới hiện thực và đối tượng thẩm mĩ được phản ánh trong thơ văn tác giả:

  • Trời đất và giang sơn: Không gian vũ trụ bao la (trời đất, non sông, bốn bể, Nam Bắc Đông Tây) trở thành đối tượng thẩm mĩ tương xứng với tầm vóc của chí tang bồng. Giang sơn không chỉ là cảnh quan địa lý mà là không gian thử thách, nơi kẻ sĩ thi thố tài năng, lập công báo quốc.
  • Cây cối, hoa cỏ và gió trăng: Thế giới tự nhiên xuất hiện qua hai bình diện: những biểu tượng ước lệ mang phẩm chất quân tử cứng cỏi trước phong ba (cây thông, cây cau) và thiên nhiên trần thế thanh sắc (hoa cỏ, gió trăng, xuân cảnh) phục vụ cho thú vui nhàn tản, tiêu khiển tao nhã của con người tài tử.
  • Thời gian hữu hạn của đời người: Khách thể thời gian được cảm nhận sâu sắc qua quy luật tuần hoàn của vũ trụ đối lập với kiếp nhân sinh ngắn ngủi ("ngày tháng thấm thoắt", "tuổi già xộc xệch"). Nhận thức về sự hữu hạn này là động lực kép: vừa thôi thúc ý chí hành động mau chóng để trả xong nợ công danh, vừa thúc đẩy nhu cầu hưởng lạc kịp thời ("Chơi xuân kẻo hết xuân đi").

Chương 4: Sự hài hòa thẩm mĩ giữa hướng tâm hành đạo và ly tâm hành lạc trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ

Chương 4 phân tích cấu trúc thống nhất giữa các đối cực tưởng như mâu thuẫn trong tư tưởng và phong cách sáng tác của tác giả:

  • Khát vọng công danh và triết lý hưởng nhàn: Lực "hướng tâm hành đạo" biểu hiện ở nhiệt huyết cống hiến, coi công danh là nghĩa vụ đạo đức; song song đó là lực "ly tâm hành lạc" xem sự nhàn tản, tiêu khiển (cầm, kỳ, thi, tửu, tổ tôm, hát ả đào) là quyền lợi chính đáng sau khi đã hoàn thành bổn phận với đời.
  • Chí nam nhi và thói đa tình: Sự kết hợp giữa phẩm chất anh hùng cứng cỏi, gánh vác nợ non sông với tâm hồn đa cảm, phong lưu của bậc tài tử trước giai nhân; tình cảm trần thế được thể hiện chân thành, không né tránh.
  • Thực hiện trọn đạo quân thân và thái độ ngông, ngất ngưởng, thị tài: Tác giả giữ trọn bổn phận trung quân ái quốc theo luân lý Nho gia nhưng đồng thời bộc lộ phong thái "ngất ngưởng", ngạo nghễ trước danh lợi phù phiếm và thói đời đen bạc, tạo nên sự cân bằng thẩm mĩ trong nhân cách và thi phẩm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Cung cấp cơ sở lý luận về mĩ học, phạm trù cái đẹp và xác lập khung phân tích "hệ thống thẩm mĩ" để tiếp cận toàn diện một tác gia văn học trung đại Việt Nam.
  • Làm rõ nội hàm các khái niệm chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ trong văn học nhà Nho, chỉ ra sự giao thoa giữa tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo và các yếu tố văn hóa bản địa trong việc định hình quan niệm thẩm mĩ của tác giả.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa toàn bộ trước tác của Nguyễn Công Trứ dưới góc nhìn mĩ học, phân tích cấu trúc tác phẩm theo 3 trục nội dung: chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ và sự điều hòa giữa hai khuynh hướng đối lập (hướng tâm và ly tâm).
  • Làm sáng tỏ các giá trị nghệ thuật đặc trưng của Nguyễn Công Trứ, đặc biệt là vai trò của ông trong việc phát triển và hoàn thiện thể loại hát nói từ môi trường sinh hoạt hành viện thành một thể thơ mang tính dân tộc.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu tác gia và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam ở bậc đại học và sau đại học.

Kiến nghị và giải pháp

Luận án kiến nghị đưa hướng tiếp cận mĩ học vào việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ trong chương trình đào tạo chuyên ngành ngữ văn, tránh việc chỉ phân tích tác phẩm đơn thuần dưới góc độ tư tưởng luân lý xã hội học dung tục; đồng thời đề xuất tiếp tục khai thác các giá trị thẩm mĩ của thể loại hát nói trong việc bảo tồn di sản ca trù.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu khảo sát trên nguồn văn bản đã in ấn, xuất bản (trọng tâm là bản in năm 2008 của Đoàn Tử Huyến). Trong khi đó, văn bản thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn lưu truyền bằng văn tự Hán Nôm và truyền khẩu qua thời gian dài, dẫn đến việc còn tồn tại các dị bản và tác phẩm thuộc diện "tồn nghi" chưa được giải quyết dứt điểm về mặt văn bản học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục mở rộng khảo sát các nguồn văn bản Hán Nôm chép tay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống thẩm mĩ của Nguyễn Công Trứ với các tác gia cùng thời (như Cao Bá Quát) hoặc các hình mẫu nhà Nho tài tử trong khu vực văn hóa chữ Hán Đông Á.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu hữu ích cho các đối tượng và hoạt động học thuật:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học: Cung cấp phương pháp tiếp cận tác gia văn học trung đại từ góc độ mĩ học, cách thức xây dựng luận điểm về chủ thể và khách thể thẩm mĩ.
  • Giảng viên đại học và giáo viên ngữ văn: Hỗ trợ tư liệu và cách nhìn nhận mới khi giảng dạy các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ (như Bài ca ngất ngưởng, Chí làm trai, Hàn nho phong vị phú).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    1. Khung lý thuyết và mô hình phân tích sự hài hòa thẩm mĩ giữa "hướng tâm hành đạo" và "ly tâm hành lạc" (Chương 4).
    2. Bảng tổng hợp và phân loại các thể loại sáng tác của Nguyễn Công Trứ (Chương 1).
    3. Hệ thống ngữ liệu phân tích ngôn từ mạnh mẽ và ý thức cá nhân của chủ thể thẩm mĩ (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng nguồn văn bản tác phẩm nào làm căn cứ khảo sát chính?

Luận án căn cứ chủ yếu vào nguồn văn bản tác phẩm được in trong công trình Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử do Đoàn Tử Huyến chủ biên (Nxb. Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2008). Đây là công trình tập hợp tương đối đầy đủ trước tác của tác giả, bao gồm 54 bài thơ Nôm xác định (9 bài tồn nghi), 67 bài hát nói xác định (8 bài tồn nghi), 1 bài phú xác định (1 bài tồn nghi), 37 câu đối, 35 bản tấu sớ, 1 bài văn Giải nguyên và 1 trích đoạn tuồng.

2. Khái niệm "hệ thống thẩm mĩ" được luận án định nghĩa như thế nào?

Theo luận án, hệ thống thẩm mĩ (Aesthetic system) là một tập hợp gồm nhiều yếu tố thẩm mĩ có quan hệ mật thiết với nhau và được tổ chức một cách hài hòa, cân xứng. Hệ thống này bao gồm: các phương diện thẩm mĩ, phạm trù thẩm mĩ, quan niệm thẩm mĩ, sự biểu hiện của chủ thể và khách thể thẩm mĩ, cùng xu hướng sáng tác mang tính thẩm mĩ. Các yếu tố này không tự thân quyết định giá trị mà do chỉnh thể hệ thống thẩm mĩ quy định nhằm tạo ra giá trị thẩm mĩ tổng hợp.

3. Hai xu hướng sáng tác đối lập nào được tác giả luận án chỉ ra là đạt được sự hài hòa thẩm mĩ trong văn chương Nguyễn Công Trứ?

Đó là xu hướng "hướng tâm hành đạo" và xu hướng "ly tâm hành lạc". Hướng tâm hành đạo thể hiện qua khát vọng lập công danh báo quốc, ý chí nam nhi, và việc làm trọn đạo quân thân. Ly tâm hành lạc thể hiện qua triết lý hưởng nhàn, thói đa tình, thú vui tiêu khiển (cầm, kỳ, thi, tửu, hát nói) cùng thái độ ngông, ngất ngưởng và thị tài. Hai xu hướng này không triệt tiêu nhau mà tồn tại cân bằng, thống nhất trong phong cách sống và nghệ thuật của tác giả.

4. Luận án ghi nhận sự khác biệt nào về số lượng tác phẩm giữa công trình của Lê Thước (1928) và Đoàn Tử Huyến (2008)?

Sách của Lê Thước (1928) sưu tập được 1 bài phú, 52 bài thơ luật, 63 bài hát nói, 21 câu đối Nôm và 2 bản tuồng. Đến công trình của Đoàn Tử Huyến (2008), số lượng khảo cứu tăng lên: 54 bài thơ Nôm xác định (và 9 bài tồn nghi), 67 bài hát nói xác định (và 8 bài tồn nghi), 1 bài thơ chữ Hán (Thất thập tự thọ), 1 bài phú xác định (và 1 bài tồn nghi), 37 câu đối (25 câu chữ Nôm, 12 câu chữ Hán), cùng 35 tấu sớ, 1 bài văn Giải nguyên và 1 đoạn trích tuồng.

5. Những phương pháp nghiên cứu chính nào đã được tác giả sử dụng trong luận án?

Luận án áp dụng kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chính gồm: phương pháp nghiên cứu tiểu sử, phương pháp so sánh, phương pháp loại hình, và phương pháp nghiên cứu liên ngành (mĩ học, văn học, triết học, sử học); cùng với hai thao tác bổ trợ là thao tác phân tích văn học và thao tác thống kê, phân loại.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Như Trang đã giải quyết vấn đề hệ thống thẩm mĩ trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ từ góc độ mĩ học chuyên ngành. Bằng việc phân tích toàn diện 3 thành tố cốt lõi gồm chủ thể thẩm mĩ, khách thể thẩm mĩ và sự dung hòa giữa hai xung lực hướng tâm hành đạo và ly tâm hành lạc, công trình đã xác lập một mô hình nghiên cứu tác gia trung đại có tính hệ thống. Kết quả nghiên cứu làm rõ các giá trị tư tưởng và đóng góp nghệ thuật của tác giả, đặc biệt ở thể loại hát nói và thơ Nôm, phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học sử Việt Nam.