Chương 1: Những vấn đề lí thuyết chung Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát về lí thuyết văn học và một số lí thuyết về điện ảnh, cũng như mối liên hệ đặc biệt giữa văn học và điện ảnh. Ở phần này người viết chú trọng trình bày về quá trình thai nghén và thực hiện bộ phim Song lang của đạo diễn Leon Quang Lê và Nghệ sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc. Chương 2: Chất liệu văn học được sử dụng trong phim điện ảnh Song lang Trong chương này, chúng tôi chú ý làm rõ các chất liệu văn học được sử dụng trong phim Song lang. Trong đó, chú trọng nghiên cứu chất liệu văn học trong tác phẩm Mị Châu - Trọng Thủy và vở cải lương cùng tên.
Đồng thời, bài viết cũng trình bày khái quát sự hình thành và phát triển của sân khấu cải lương từ khi hình thành cho đến nay. Chương 3: Song lang - Nỗi khắc khoải giữa nghệ thuật và cuộc đời Trong chương cuối này, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai nhân vật chính của bộ phim là Dũng và Linh Phụng, đồng thời phân tích những kĩ xảo điện ảnh tiêu biểu đã góp phần làm nên thành công của bộ phim. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG 1. Cải biên trong điện ảnh 1.
Khái niệm cải biên Điện ảnh xuất phát từ “cinema” trong tiếng Pháp là từ rút gọn của “cinématographe” là cái tên được Léon Bouly đặt cho chiếc máy ghi lại hình ảnh của ông vào năm 1892. Đó là một trong những sự kiện khai sinh ra ngành điện ảnh. Trong công trình văn học Văn học dân gian và nghệ thuật tạo hình điện ảnh của nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Lân và Trần Duy Hinh đã liệt kê 6 loại hình nghệ thuật là: văn học, múa, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu. Tuy nhiên, các liệt kê trên không có sự thống nhất khi nêu tên những nghệ thuật ra đời trước điện ảnh.
Sau này, Friedrich Hegel (1770- 1831) trong Những bài giảng về Mỹ học đã theo một hướng nghiên cứu khác. Ông xếp sáu nghệ thuật trên theo thứ tự: thơ văn, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, vũ kịch, kiến trúc và điện ảnh được xem như bộ môn nghệ thuật thứ bảy. Và sau này, công chúng quen gọi điện ảnh là môn nghệ thuật thứ bảy. Bên cạnh những nét chung, mỗi chuyên ngành nghệ thuật này đều có những đặc trưng riêng.
Đặc trưng cơ bản của văn học là ngôn từ. Đặc trưng của hội họa là những đường nét, màu sắc; điện ảnh là ánh sáng, hình ảnh và âm thanh; âm nhạc bằng âm thanh và tiết tấu; sân khấu được thể hiện bằng lời thoại và diễn xuất của diễn viên. Các phương tiện này tuy khác biệt nhau về chức năng và hiệu quả nhưng đều có sự tiếp nhận, hỗ trợ lẫn nhau. Văn học và điện ảnh cũng không nằm ngoài quy luật trên.
Với đặc trưng cơ bản là ngôn từ nên mọi thứ trong văn bản văn chương đều không thể nghe, kể, nhìn trực tiếp hay cảm nhận bằng âm thanh, ánh sáng. Tất cả đều được người viết thể hiện qua các kí hiệu, để rồi từ các kí hiệu đó, người đọc sẽ dần tưởng tượng, liên hệ những hình ảnh, âm thanh đó trong trí óc. Bởi thế, văn học là loại hình nghệ thuật phụ thuộc nhiều vào đối tượng thưởng thức. So với văn học, chất liệu của điện ảnh lại là tất cả những gì máy quay thu lại.
Đó là hình ảnh, âm thanh, ánh sáng và những kĩ thuật xử lí tiên tiến nhất được tận dụng vào trong điện ảnh. Nhiệm vụ của nhà làm phim là sử dụng tất cả thế giới ấy để kể lại một câu chuyện, một thông điệp hữu ích nào đó sao cho tất cả đều được bày ra trước mắt người xem. 11 Mặt khác, trong các tác phẩm văn học, để khắc họa hình tượng nhân vật một cách cụ thể, người viết sẽ dùng sức mạnh của ngôn từ để kể, tả hoặc dùng lời của nhân vật để xây dựng những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm. Thế nhưng trong điện ảnh lại khác, đạo diễn không thể để cho nhân vật tự do bộc lộ nội tâm theo hàng trang kịch bản dài mà các nhân vật chỉ có thể bộc lộ qua nét mặt, cử chỉ, thái độ hay các yếu tố kĩ thuật khác.
Hoặc có những phim, nhân vật không cần dùng đến lời thoại, người diễn viên sẽ chú trọng vài diễn xuất để đặc tả nên tâm trạng của nhân vật. Vì vậy, điện ảnh tuy có những ưu thế vượt trội nhưng vẫn còn có những góc khuất mà điện ảnh khó biểu đạt bằng văn chương. Từ đó, nhà nghiên cứu Lê Thị Dương đã sử dụng thuật ngữ chuyển thể Adapt/Adaptation để chỉ sự dịch chuyển từ ngôn ngữ/văn bản văn học sang ngôn ngữ/văn bản điện ảnh. Theo nhà nghiên cứu Lê Thị Dương (2015): “Chuyển thể (hay cải biên/cải tác) xuất phát từ nghĩa gốc là thích nghi và thay đổi, khiến cho phù hợp/làm thích nghi, làm thích ứng, được định nghĩa là phỏng theo, cải biến nội dung của hình thức nghệ thuật này cho phù hợp với hình thức nghệ thuật khác.
Hay chuyển thể là một quá trình thay đổi hoặc biến chuyển một tài liệu dạng này sang dạng khác: tiểu thuyết thành phim hay kịch thành nhạc…” (Lê Thị Dương, 2015, tr. Thực chất, điện ảnh sơ khai bắt nguồn từ các tác phẩm văn học và đó là một quá trình sàng lọc câu chuyện của người khác thông qua cách hiểu, sự cảm nhận của cá nhân. Sau đó bằng tài năng của bản thân, cá nhân đó sẽ cho ra đời một kịch bản khác. Kịch bản này sẽ không giống hoàn toàn với tác phẩm văn học gốc hoặc chỉ giữ lại phần sườn của tác phẩm gốc.
Đồng thời, do đặc trưng của loại hình nghệ thuật thứ bảy nên đa phần các kịch bản điện ảnh sẽ được các tác giả điện ảnh thêm vào các yếu tố về hình ảnh, âm thanh, ánh sáng… Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra hai hình thức chuyển thể là chuyển thể trung thành và chuyển thể tự do. Chuyển thể trung thành là hình thức chuyển thể bám sát với nguyên bản tác phẩm văn học. Kịch bản điện ảnh sẽ giữ nguyên theo tác phẩm văn học ở các khía cạnh như: cốt truyện, tình tiết, ngôn ngữ, nhân vật, hình ảnh. Bản chất của chuyển thể trung thành đó là tôn trọng nguyên tác 12 và nhà biên kịch sẽ hạn chế sáng tạo ra thêm bất kì một chi tiết nào nữa trong kịch bản điện ảnh.
Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng từ thành công của các tác phẩm văn học trước đó mà đa phần các nhà biên kịch chọn chuyển thể trung thành với tác phẩm văn học gốc như: Vợ chồng A Phủ (1961), Chị Tư Hậu (1963), Chị Dậu (1981), Làng Vũ Đại ngày ấy (1983), Tướng về hưu (1988) và đến sau này: Chung cư (1999), Mùa ổi (2000), Mùa len trâu (2004), Chuyện của Pao (2015), Đảo của dân ngụ cư (2017)… Mức độ chuyển thể thứ hai là chuyển thể tự do. Trong đó, các nhà biên kịch lựa chọn trong tác phẩm gốc những yếu tố thích hợp theo cảm quan của cá nhân hoặc theo ý muốn của nhà sản xuất để đưa lên phim. Mức độ chuyển thể này giúp các nhà làm phim tự do thể hiện sự sáng tạo của mình qua việc đọc, tiếp nhận nội dung và ý nghĩa từ tác phẩm. Mỗi hình thức chuyển thể đều có những ưu, khuyết điểm riêng.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa văn học và điện ảnh trong suốt chiều dài phát triển của điện ảnh thế giới nói chung và điện ảnh Việt Nam nói riêng. Cùng ý kiến với nhà nghiên cứu Lê Thị Dương, trong luận án Lý thuyết cải biên học: từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh- Trường hợp Kurosawa Akira - nhà nghiên cứu Đào Lê Na đã sử dụng thuật ngữ “cải biên” để nói về sự thay đổi của tác phẩm. “Khái niệm cải biên mà luận án xem xét là một quá trình cụ thể liên quan tới việc chuyển đổi từ một loại hình nào đó thành loại hình khác: tiểu thuyết thành phim, kịch thành nhạc, kịch hóa văn xuôi tự sự và văn xuôi tiểu thuyết hoặc những chuyển động ngược của việc làm phim thành văn xuôi tự sự” (Đào Lê Na, 2015, tr. Trong quyển Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) được in năm 2006 của Trung tâm Từ điển học thì cải biên được định nghĩa “Sửa đổi hoặc biên soạn lại (thường nói về vốn nghệ thuật cũ) cho phù hợp với yêu cầu mới”.
Xét cho cùng, cải biên là sửa đổi một phần nội dung, chuyển thể loại, thay đổi hình thức thể hiện trên cơ sở của bản gốc hoặc một phần bản gốc của tác phẩm 13 văn học nghệ thuật. Đồng thời, nhà làm phim cũng có thể dựa trên nội dung cơ bản của tác phẩm đó để sáng tạo ra tác phẩm mới. Vì vậy, nhà nghiên cứu Đào Lê Na cho rằng, khi một tác phẩm văn học chuyển sang đời sống của một tác phẩm điện ảnh thì nó buộc phải có sự thay đổi về nội dung và hình thức. Đối với những tác phẩm chuyển thể tự do, các nhà làm phim có thể thoải mái thể hiện sự sáng tạo của mình qua việc đọc và tiếp nhận nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học.
Một tác phẩm được cải biên là quá trình lao động sáng tạo của cả biên kịch và đạo diễn. Đây là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự nhạy bén, trình độ cảm thụ của nhà làm phim. Song song với việc xử lý những chi tiết có sẵn, các nhà làm phim sẽ xây dựng thêm những chi tiết mới như âm thanh, ánh sáng, bối cảnh. Các yếu tố này sẽ mang phong cách của người đạo diễn cũng như góp phần làm nên sự mới mẻ cho bộ phim so với tác phẩm gốc.
Tóm lại, việc cải biên hay chuyển thể một tác phẩm văn học sang điện ảnh tức là việc chuyển thể từ ngôn ngữ biểu cảm này sang một ngôn ngữ biểu cảm khác. Vì vậy, xét về khía cạnh ngôn ngữ, chúng ta có thể khẳng định, nghĩa của thuật ngữ “cải biên” có sự thay đổi nhiều hơn, bao quát hơn so với nghĩa của thuật ngữ “chuyển thể”. Vì vậy, trong phạm vi của đề tài, người viết xin phép sử dụng thuật ngữ cải biên để làm rõ hơn mối tương quan giữa văn học và điện ảnh. Khái lược lịch sử cải biên văn học điện ảnh ở Việt Nam Bắt đầu từ năm 1920, nền công nghiệp điện ảnh bắt đầu du nhập vào Việt Nam.
Sau khoảng hơn ba mươi năm phát triển, tính đến năm 1940, cả nước có khoảng sáu mươi rạp chiếu phim.