phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Thân phận ngƣời nông dân trong ca dao cổ truyền ngƣời Việt Chƣơng 3: Thân phận ngƣời phụ nữ trong ca dao cổ truyền ngƣời Việt Chƣơng 4: Phƣơng thức nghệ thuật biểu hiện thân phận con ngƣời trong ca dao cổ truyền ngƣời Việt. 12 z PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Nói đến thân phận con ngƣời là nói đến những điều cụ thể gần gũi nhƣng lại rất trừu tƣợng. Thân phận con ngƣời là điều mà chúng ta đang sống, trải qua và cảm nhận từng ngày. Cuộc đời có nghĩa hay vô nghĩa điều do cách nhìn và đón nhận cuộc sống của mỗi ngƣời.
Con ngƣời khi sinh ra không ai có quyền lựa chọn số phận cho mình. Mỗi chúng ta đều có một “thân phận” riêng, không ai giống ai. Từ hoàn cảnh xã hội, gia đình, nền tảng văn hóa, giáo dục cho đến những điều kiện giao tiếp trong cộng đồng và rất nhiều yếu tố khác nữa, tất cả đều góp phần hình thành cái gọi là “thân phận” riêng của mỗi chúng ta. Có những thân phận may mắn, cũng có những thân phận đen tối mà mỗi chúng ta đều không có quyền chọn lựa.
Chúng ta chỉ có thể đón nhận, thích nghi, không ngừng cố gắng để thay đổi thân phận. Trong cuộc sống, có những ngƣời ngay từ khi sinh ra đã đƣợc bao bọc trong nhung lụa, có kẻ hầu ngƣời hạ. Bên cạnh đó, cũng có những ngƣời sinh ra với đôi mắt mù lòa, suốt đời không nhìn thấy ánh mặt trời hay què quặt, không đủ chân tay nhƣ bao ngƣời khác, mắc những chứng bệnh kinh niên, để rồi suốt đời rất hiếm khi có đƣợc một ngày khỏe mạnh. Trong hầu hết các trƣờng hợp bất hạnh ấy, dƣờng nhƣ không hề do bất kỳ lỗi lầm nào của bản thân họ mà con ngƣời quy chụp là do số phận, họ phải chịu thân phận đó.
Bên cạnh đó, dù đƣợc sinh ra khỏe mạnh trong cùng một gia đình nhƣng cách mà mỗi ngƣời thích nghi, cố gắng trong cuộc sống lại khiến cho mỗi ngƣời có một số phận riêng. Nhƣ vậy, nói đến thân phận con ngƣời là muốn nhấn mạnh đến sự tác động, ảnh hƣởng qua lại hai chiều giữa hoàn cảnh sống và tính cách để tạo nên vòng đời, số phận và nét riêng ở mỗi con ngƣời. 13 z Thân phận con ngƣời ở mỗi góc nhìn, mỗi khía cạnh lại đƣợc đánh giá khác nhau. Bởi vậy, đã có rất nhiều cách lý giải về thân phận con ngƣời.
Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đƣa ra một vài khái niệm cũng nhƣ cách nhìn, quan niệm về thân phận con ngƣời từ góc độ văn chƣơng, triết học, tôn giáo…. Quan niệm về thân phận con ngƣời trong xã hội 1. Khái niệm thân phận con người Vấn đề con ngƣời luôn là sự quan tâm, phân tích, luận bàn trực tiếp hay gián tiếp của các trƣờng phái triết học xƣa và nay. Tuy nhiên, tùy theo mỗi thời kỳ lịch sử mà sự phát hiện và nghiên cứu về con ngƣời có góc độ, khía cạnh khác nhau.
Chủ đề này không mới nhƣng lại luôn mang tính thời sự và chƣa bao giờ cũ. Chúng ta khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh thì nhiều nhƣng khám phá, tìm hiểu về con ngƣời, bản thân mình, nhƣ nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận thì vẫn còn ít. Ngày nay, vấn đề con ngƣời, thân phận con ngƣời và nhân loại lại nổi lên và đặt ra nhiều vấn đề mới hơn bao giờ hết. Nói về thân phận con ngƣời đã có rất nhiều quan niệm khác nhau với những cách lý giải riêng nhƣng phần lớn đều mang tính bi quan, vì cảm thấy con ngƣời bất hạnh, bị chà đạp, thấp kém, khổ đau.
Theo từ điển tiếng Việt, thân phận con ngƣời có nghĩa là:“địa vị xã hội thấp hèn hoặc cảnh ngộ không may mà con người không sao thoát khỏi được, do số phận định đoạt (theo quan niệm duy tâm)” [ 63]. Theo Từ điển mở Wiktionary thân phận là: “Địa vị xã hội thấp hèn và cảnh ngộ không may của bản thân mỗi người như đã bị định trước” [64]. 14 z Từ “Thân phận” có thể dùng trong một số kết hợp nhƣ: thân phận nghèo hèn, thân phận tôi tớ, thân phận con cò, thân phận ngƣời nông dân, thân phận ngƣời phụ nữ. Đặc biệt trong ca dao thƣờng xuất hiệm cụm từ: thân phận con cò, thân phận con tằm, để nói lên thân phận vất vả, cực khổ của ngƣời nông dân trong xã hội cũ.
Thân phận con người theo quan niệm Nho giáo Nhƣ chúng ta đã biết, Nho giáo còn đƣợc gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để giáo hoá con ngƣời, nhằm xây dựng một xã hội thịnh trị. Sau này nhà nƣớc phong kiến đã sử dụng Nho giáo nhƣ một công cụ để củng cố và duy trì trật tự xã hội. Khổng Tử đã đặt ra một loạt những chuẩn mực cho một số hoạt động chính trị và an sinh xã hội: Tam cƣơng ngũ thƣờng là lẽ đạo đức mà nam giới cần phải theo. Tam tòng tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới cần phải có.
Ông cho rằng nếu ngƣời trong xã hội giữ đƣợc Tam cƣơng ngũ thƣờng, Tam tòng tứ đức thì xã hội đƣợc bình ổn. Nho giáo vào Việt Nam trƣớc hết giữ vai trò của một học thuyết chính trị, đạo đức giúp nhà vua trị nƣớc, yên dân và xây dựng một trật tự xã hội phù hợp với cƣơng thƣờng lễ nghĩa. Sau đó, Nho giáo đã dần trở thành công cụ đắc lực và chỗ dựa của các triều đại phong kiến Việt Nam, áp bức nhân dân lao động Việt Nam cả trên hai bình diện thế giới quan duy tâm và đạo đức - chính trị - xã hội. Nhƣ vậy, từ một hệ thống đạo đức có nhiều ƣu điểm làm chuẩn mực cho xã hội, dần dần, khi nó đã trở thành một công cụ để cai trị nhà nƣớc thì hệ thống này có những điều ràng buộc con ngƣời khá khắt khe.
15 z Khi Nho giáo giữ vai trò nhƣ một công cụ để cai trị, ngƣời phụ nữ tuân theo “Tam tòng, tứ đức” có nghĩa là luôn phải phụ thuộc, phục tùng ngƣời đàn ông, họ không thể tự quyết định cuộc sống của mình. Đây là những quy tắc khắt khe, cứng nhắc ràng buộc ngƣời phụ nữ trong mọi mối quan hệ. Họ dƣờng nhƣ bất khả kháng, không hề có một chút địa vị cũng nhƣ quyền lực trong gia đình và ngoài xã hội. Giai cấp phong kiến chỉ quan tâm và tìm cách làm thế nào để giữ vững đƣợc vị thế của họ mà không cần quan tâm đến những con ngƣời khác trong xã hội.
Chính vì thế, thân phận con ngƣời trong xã hội phong kiến với tƣ tƣởng Nho giáo không đƣợc quan tâm, ngƣời lao động và phụ nữ bị coi thƣờng. Họ sinh ra chỉ để phục tùng, chịu cuộc đời vất vả, bất công là lẽ đƣơng nhiên. Đó là số phận của họ, họ sinh ra để chịu đau khổ, chịu sự bóc lột. Thân phận con người theo quan niệm Phật giáo Nếu nhƣ trong Nho giáo quan niệm thân phận con ngƣời không do họ định đoạt thì trong Phật giáo lại quan niệm thân phận con ngƣời do chính nghiệp mà con ngƣời tạo nên từ kiếp trƣớc.
Theo Phật giáo, sự rủi may trong số phận không phải do thiên mệnh hay định mệnh mà thân phận mỗi con ngƣời là kết quả do quá trình của chính ngƣời đó hành động từ một đến nhiều đời. Hay nói cách khác, con ngƣời tồn tại trên thế gian này là kết quả của nghiệp thiện và bất thiện của họ từ quá khứ (luật nhân quả), chứ không do sự thƣởng, phạt nào của bất cứ ai. Vấn đề thân phận đƣợc Phật giáo phản ánh trong giáo lí Tứ Diệu Đế, biểu hiện tập trung ở Khổ Đế. Phật quan niệm đời sống con ngƣời, thân phận con ngƣời về căn bản là khổ đau.
Phật nhìn nhận cuộc sống, thân phận con ngƣời một cách khách quan, không ru con ngƣời ta vào giấc mơ ở cõi Niết Bàn hay miền Cực Lạc, cũng không làm cho con ngƣời ta bi quan trong cuộc 16 z sống. Phật chỉ dạy cho con ngƣời thức tỉnh, nhận thức rõ cuộc đời, thân phận theo đúng chân tƣớng của nó. Từ đó chỉ dẫn họ đi tìm con đƣờng giải thoát. Quan niệm về thân phận con ngƣời trong triết học Phật giáo thiên về xu hƣớng âm tính: khổ đau, bất hạnh.
Con ngƣời sống chủ yếu chỉ lo tham lam hƣởng thụ. Họ cho rằng cuộc đời là một sự hƣởng thụ mà không ý thức đƣợc cái lạc thú ấy chỉ là khoảnh khắc, chóng tàn chóng mất. Một ngày nào đó cái vô thƣờng ập đến thì con ngƣời sẽ rơi vào bể khổ trầm luân. Từ ý thức về thân phận con ngƣời nhƣ vậy, Phật đã đi tìm nguyên nhân khiến con ngƣời khổ đau, bất hạnh.
Ngài cho rằng có vô vàn nguyên nhân, nhƣng có ba nguyên nhân chính tạo nên, đó là Tham - Sân - Si (Tham: lòng tham; Sân: nóng vội, vội vàng, hấp tấp; Si: quá si mê, đắm đuối một điều gì đó). Ba thứ này Phật gọi là tam độc, đó là nguồn gốc, căn nguyên của mọi khổ đau, mà nguyên nhân dẫn đến tam độc chính là ái dục và vô minh, đó chính là Nghiệp. Phật giáo rất lạc quan với kiếp sống của con ngƣời, Phật giáo hƣớng con ngƣời tới trách nhiệm cá nhân, đó là diệt trừ tham, sân, si cho chính bản thân mình. Đức Phật dạy rằng khi con ngƣời trút hơi thở cuối cùng họ sẽ mang theo hai hành trang theo họ.
Hành trang thứ nhất là việc thiện mà họ đã tích lũy trong cuộc đời sẽ đƣa họ lên cõi an lành, niết bàn. Hành trang thứ hai là những hành vi tội lỗi nhƣ giết ngƣời, cƣớp của, lừa dối… những việc đã tạo đau thƣơng cho chính bản thân và ngƣời khác sẽ đẩy họ xuống thế giới thấp kém nhƣ súc vật quỷ đói. Nhƣ vậy thân phận con ngƣời sẽ giúp con ngƣời tiến bộ đi lên hoặc thoái hóa đi xuống là do nghiệp mà họ đã tạo ra. Mỗi con ngƣời sinh ra đều có một thân phận khác nhau, tuy nhiên mỗi ngƣời đều có thể sống an vui với thân phận của mình nếu nhƣ họ biết sửa đổi nghiệp, nỗ lực tu tâm, hành thiện.Thân phận con người trong Triết học Hiện sinh Vấn đề con ngƣời, giá trị con ngƣời, thân phận con ngƣời chƣa bao giờ đƣợc các nhà triết học phƣơng Tây quan tâm và bàn luận nhiều nhƣ trong thời hiện đại, nhất là từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.