Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những xu hướng cách tân kịch bản chèo đầu thế kỷ XX Chương 3: Nhân vật và cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX Chương 4: Kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử chèo cổ và việc xác định kịch bản sân khấu với tƣ cách là một thể loại văn học dân tộc Nghệ thuật gồm 7 loại hình cơ bản là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, âm nhạc, sân khấu và điện ảnh. Trong hệ thống 7 loại hình nghệ thuật, văn học giữ vị trí quan trọng bởi nó đƣợc sử dụng để thể hiện nhiều loại hình nghệ thuật khác nhƣ sân khấu, âm nhạc, điện ảnh… Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Với tƣ cách là những thể loại thuộc loại hình nghệ thuật sân khấu, sân khấu truyền thống Việt Nam đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố quan hệ mật thiết với nhau là kịch bản văn học và nghệ thuật diễn xƣớng.
Tuy nhiên, nếu nghệ thuật diễn xƣớng thuộc về sân khấu, là con đẻ của bộ môn nghệ thuật học (nhƣ âm nhạc, vũ đạo, trình thức v.v…) thì kịch bản sân khấu với tƣ cách một tác phẩm văn học là một bộ phận của văn học sử. Ở Việt Nam, loại hình sân khấu có mấy thể loại gồm chèo, tuồng, cải lƣơng, kịch nói, kịch dân ca… Ngoài một số tiểu hình sân khấu nhƣ múa rối, các trò diễn hí dân gian, sân khấu truyền thống ngƣời Việt có hai hình thức chủ đạo là tuồng (hay hát bội) và chèo, đƣợc phân tách làm hai dòng dân gian (chèo) và bác học (tuồng). Nhƣ vậy, sân khấu Việt Nam từ khi hình thành đã là một sân khấu kịch hát sau phát triển thành tuồng và chèo. Cả hai hình thức này tồn tại cho tới ngày nay.
Về cơ bản, văn học sân khấu cổ truyền vẫn là một nền văn học khuyết danh. Đƣợc kết hợp từ ngôn ngữ nhiều loại hình, thể loại nghệ thuật khác nhau nhƣ âm nhạc, múa, văn học, sân khấu. nên sân khấu kịch hát là sân khấu tổng hợp. Suốt chiều dài lịch sử gần một thiên niên kỷ (938 - 1884), Việt Nam vẫn tồn tại bất biến mô hình nhà nƣớc phong kiến.
Theo quan niệm của hệ tƣ tƣởng Nho giáo, xã hội phong kiến chỉ có bốn nghề, theo thứ tự từ cao xuống thấp là “Sĩ, Nông, Công, Thƣơng”. Hát xƣớng không nằm trong bốn nghề đó nên bị xếp vào “vô loài” (hoặc vô loại)… Hai thể loại dân tộc: tuồng và chèo ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội phong kiến. Trƣớc đây, chèo đƣợc biểu diễn trong cung đình. Chèo từng đƣợc trọng dụng khi vua quan nhà Lý đều mê hát chèo.
Nhƣng đến thời nhà Lê, khi các ông vua chọn Nho học làm quốc giáo, lấy tƣ tƣởng Nho giáo làm tƣ tƣởng chính thống thì hát xƣớng bị coi rẻ. Các sáng tạo dân gian bị coi thƣờng. Chèo từng bị nhà Lê kỳ thị, coi “nhà phƣờng chèo con hát” ngang với “kẻ phản nghịch, ngụy quan”. Bộ luật Hồng Đức thời Lê cấm các nghệ sĩ hát chèo và con cái 9 họ đi thi.
Vì vậy, nhiều thế kỷ kéo dài, chèo cổ phải rời bỏ chốn phồn hoa, đô thị trở về diễn ở sân đình, ở các làng quê. Do thái độ kỳ thị nhiều thế kỷ trƣớc đó nên dù có lịch sử lâu đời, dƣới thời phong kiến hầu nhƣ không có những trƣớc tác nghiên cứu về sân khấu, đặc biệt là chèo. Theo tài liệu của Nhà hát chèo Việt Nam, ngƣời sáng lập ra chèo là bà Phạm Thị Trân - một vũ ca tài ba thời nhà Đinh vào thế kỷ 10 và kinh đô Hoa Lƣ - Ninh Bình xƣa đƣợc coi là đất tổ của sân khấu chèo. Sử sách cũ ghi rằng, từ thời Lý, hát chèo ở Thăng Long đã rất phát triển.
Chèo có mặt trong các lễ tết, những cuộc vui ở kinh thành. Đặc biệt các tầng lớp vua, quan, quí tộc rất mê hát chèo. Theo sách Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tháng 6/1028, vua Lý Thánh Tông sai gọi phƣờng chèo đến múa hát mừng sinh nhật nhà vua. Sau, lễ sinh nhật của các vua Lý đƣợc tổ chức thành ngày hội lớn ở kinh thành Thăng Long, bao giờ cũng có phƣờng chèo, phƣờng hát biểu diễn, kèn sáo, múa hát tƣng bừng.
Bia Sùng Thiện diên linh (năm 1121) chép tỉ mỉ về đội múa chèo của Thiên vƣơng nhƣ sau: “… Ở giữa bậc dƣới, những cô gái tiến hƣơu vàng, nhạc quan đứng thành hàng dƣới sân nhảy hát một lúc…”. Cuối đời Lý (năm 1182), sử sách còn ghi chép lại một trò nhại trực tiếp châm biếm tính hống hách của Đỗ An Thuận - viên thái sử thời đó. Sách An Nam chí lược ghi chép về cảnh sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nhộn nhịp trong cung vua Trần cho thấy, vào ngày “tất niên” (hết năm), vua Trần ra ngự ở cửa Đoan Cung để bách quan lạy mừng. Các phƣờng chèo, phƣờng hát tới diễn mừng vua ở đấy.
Từ Đạo Hạnh ở thời Lý, Trần Nhật Duật ở thời Trần đều là những ông quan đam mê hát chèo. Từ Đạo Hạnh đƣợc coi là tác giả của bài “Giáo trò” quen thuộc mà các phƣờng chèo Thăng Long - Hà Nội và nhiều nơi khác còn lƣu truyền: Trình làng trình chạ Thƣợng hạ Tây Đông Tứ cảnh hòa trung Nghe tôi giáo trống Trƣờng không phong động Cũng bởi trống tôi Làng đã vào ngồi Tôi xin diễn tích… Sang thời Lê, do chính sách vọng ngoại, chèo bị nhà Lê kỳ thị. Sách Việt sử thông giám cương mục ghi thời Hồng Đức (1470-1496), trong 24 điều dạy dân của vua Lê Thánh Tông có hai điều răn: 10 Điều 1: Cha mẹ dạy con phải đúng khuôn phép, không đƣợc để buông tuồng đắm đuối vào cờ bạc, rƣợu chè, tập nghề hát xƣớng, hại đến phong tục. Điều 16: Khi chèo hát, lúc hội hè, trai gái đến chơi xem, không đƣợc đứng ngồi lẫn lộn, để ngăn ngừa thói dâm ô”.
Bộ luật Hồng Đức ghi rõ cấm con trai các nhà xƣớng ca không đƣợc đi dự thi, con gái không đƣợc lấy con những nhà quan chức quyền quý. Điều 322 Bộ luật Hồng Đức viết, quan chức lấy con nhà xƣớng ca làm vợ hay thiếp bị phạt đánh 70 trƣợng và giáng chức; con cháu quan chức lấy con gái nhà xƣớng ca cũng bị phạt đánh 60 trƣợng và nhất thiết bắt ly dị. Sách Lịch sử Việt Nam tập 1, xuất bản năm 1971 ghi nhận: “Cuốn Hý phường phả lục của Lƣơng Thế Vinh xuất bản năm 1501 có thể coi đó là tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền. Tác giả đã tổng kết kinh nghiệm và nêu lên những nguyên tắc có tính chất lý luận về nghệ thuật biểu diễn, diễn viên, múa hát và đánh trống”.
Hí phường phả lục đƣợc xác định là công trình nghiên cứu chèo cổ của Trạng nguyên Lƣơng Thế Vinh với bản in khắc gỗ năm 1501. Hí phường phả lục đã ghi lại các khoán ƣớc của phƣờng chèo, kịch bản và diễn xuất, cách đánh trống chèo, phƣơng pháp múa hát, với nhiều nguyên tắc nhƣ nguyên tắc “Tứ tƣơng” trong múa chèo, luật “Hô ứng tƣơng sinh” trong giao lƣu nhân vật sân khấu và quy tắc “Sáu chữ” về tiêu chuẩn diễn viên dùng cho các phƣờng chèo. Các nội dung này sau đƣợc PGS Hà Văn Cầu trích dẫn trong các tác phẩm của ông nhƣ sau: Hệ thống động tác trong nghệ thuật diễn xuất sân khấu kịch hát truyền thống vốn tồn tại nhƣ một tổng thể các ký hiệu - động tác, một hệ thống ngôn ngữ biểu đạt. Nguyên tắc tứ tƣơng là một trong những biểu hiện tính hệ thống của động tác trong sân khấu kịch hát truyền thống.
Hệ thống động tác bị chi phối bởi nguyên tắc: Thƣợng hạ tƣơng phù: động tác phải có trên - dƣới, gốc - ngọn, đầu - đuôi, tiến - lui, để tạo nên một chỉnh thể. Tả hữu tƣơng ứng: động tác có phải - trái, trƣớc - sau kết hợp, tạo nên sự hài hòa. Phì sấu tƣơng chế: Sự hài hòa tạo nên bởi sự tƣơng phản giữa động tác dày và mỏng, rộng và hẹp. Nội ngoại tƣơng quan: tƣơng quan giữa nội tâm - ngoại hình nhân vật, giữa con ngƣời và thiên nhiên.
Những nguyên tắc tạo hình trong nghệ thuật diễn xuất mang đậm màu sắc triết lý. Nguyên tắc tứ tƣơng này cũng có thể gặp ngay trong Hý khúc Trung Quốc. Cái đẹp từ sự cân đối: trƣớc - sau, phải - trái, trên - dƣới, từ sự hài hòa bên trong - bên ngoài, vật chất - tinh thần v.v… trong hệ thống động tác diễn xuất sân khấu, thể 11 hiện cách nhìn vũ trụ - con ngƣời trong tính tổng hợp hữu cơ các quan hệ của nó. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa ai nhìn thấy văn bản này nên thời gian qua đã dấy nên sự tồn nghi về sự có mặt của Hí phường phả lục.
TS Trần Đình Ngôn xác nhận sách Hí phường phả lục là thật với nhiều nhân chứng nhìn thấy nó gồm GS. Trần Bảng, nhà nghiên cứu Hoàng Kiều và PGS. Bản in khắc gỗ Hí phường phả lục sƣu tầm đƣợc ở Thái Bình, trên đó ghi rõ năm xuất bản sách là năm Cảnh Thống Tân Dậu 1501. Sau này, Nhà hát Chèo Việt Nam đã dịch Hí phường phả lục, in roneo.
Trần Bảng là ngƣời duyệt sách nên ông đã đọc cả hai bản bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ. Do trƣớc đây chƣa có phƣơng tiện photocopy nên chỉ có mình PGS. Hà Văn Cầu chép tay bản Hí phường phả lục. Cụ Cầu đã chép hai bản, một bản cụ giữ, còn một bản đem tặng GS.
Trần Quốc Vƣợng. Còn bản gốc và bản dịch Hí phường phả lục Nhà hát chèo Việt Nam lƣu giữ sau bị mối mọt xông hết. Sau Hí phường phả lục, gần 300 năm sau, danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) mới viết Vũ Trung tùy bút với đôi dòng rải rác nhắc đến hoạt động sân khấu. Nhƣ vậy, hệ thống lý luận của chèo cổ thời phong kiến thực chất chỉ có Hí phường phả lục.
Sau này, Lê Dƣ dựa vào nguồn tƣ liệu ít ỏi này để viết Ca vũ và âm nhạc nước nhà, Đào Duy Anh dựa vào để viết Việt Nam văn hóa sử cương và Dƣơng Quảng Hàm dựa vào để viết Việt Nam văn học sử yếu. Dƣơng Quảng Hàm là ngƣời viết bộ văn học sử hoàn chỉnh đầu tiên bao quát đƣợc tiến trình văn học Việt Nam từ sơ khai cho đến đƣơng thời (năm 1943) của lịch sử văn học sử Việt Nam.