Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX - truyền thống và biến đổi".
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu / Văn học Việt Nam.
Hướng tiếp cận: Định tính (Nghiên cứu liên ngành văn hóa, thi pháp học cấu trúc tự sự và xã hội học văn học).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghệ thuật chèo hình thành từ diễn xướng dân gian, trải qua khoảng 1.000 năm lịch sử tại đồng bằng Bắc Bộ với các chiếng chèo Nam (Nam Định - Thái Bình), Đoài (Hà Tây), Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang), Đông (Hải Dương - Hưng Yên). Đầu thế kỷ XX, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa từ thực dân Pháp, cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình đô thị hóa, làm xuất hiện các chủ thể văn hóa mới và công chúng thị dân. Nghệ thuật chèo dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị, trải qua hai lần cách tân: trở thành chèo văn minh (1906) và chèo cải lương (1924).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:

  • Về mặt lý luận: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận chèo ở góc độ sân khấu và nghệ thuật biểu diễn (âm nhạc, múa, trình thức), ít xem xét kịch bản chèo với tư cách là tác phẩm văn học kịch bản thuộc tiến trình văn học sử dân tộc.
  • Về mặt tư liệu: Như nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền chỉ ra, kịch bản kịch hát thế kỷ XX chưa từng có tổng tập hay tuyển tập toàn diện; các cơ quan quản lý chuyên ngành chưa nắm bắt đầy đủ số lượng tác gia và tác phẩm giai đoạn này.
  • Về mặt lịch sử nghệ thuật: Sự vận động của chèo cải lương đầu thế kỷ XX - một hiện tượng lai ghép giữa kịch hát dân tộc với kịch cổ điển phương Tây do soạn giả Nguyễn Đình Nghị chủ xướng - để lại nhiều đánh giá trái chiều về "công" và "tội", đồng thời đặt ra câu hỏi học thuật về giới hạn bảo tồn yếu tố "nội sinh" và tiếp nhận yếu tố "ngoại sinh".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Phân tích quá trình vận động, những yếu tố kế thừa (mặt được) và những biến đổi làm suy giảm đặc trưng loại hình (mặt mất) trong kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị thông qua đối sánh với kịch bản chèo cổ.
  2. Làm sáng tỏ quá trình chuyển dịch của kịch bản chèo nửa đầu thế kỷ XX, từ đó đúc kết kinh nghiệm học thuật cho việc bảo tồn và cách tân kịch hát truyền thống.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khái quát bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây và sự chuyển đổi kinh tế - xã hội dẫn đến sự đổi mới các loại hình văn học - nghệ thuật đầu thế kỷ XX.
  2. Phân tích các xu hướng cách tân trong kịch bản chèo: xu hướng bác học hóa, xu hướng tiếp cận chủ nghĩa hiện thực, xu hướng hài hóa và xu hướng gia tăng xung đột kịch.
  3. Khảo sát cấu trúc tự sự của kịch bản chèo (cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật), chỉ rõ sự tương đồng và khác biệt giữa chèo cổ và chèo cải lương.
  4. Đánh giá vị trí, thành tựu và hạn chế của chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị trong tiến trình hiện đại hóa văn học sân khấu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kịch bản chèo cải lương đầu thế kỷ XX, trọng tâm là các kịch bản của soạn giả Nguyễn Đình Nghị trong mối tương quan đối sánh với kịch bản chèo cổ.
  • Khái niệm công cụ:
    • Chèo cổ: Chèo do nghệ nhân dân gian sáng tác theo phương thức khuyết danh, truyền miệng, tồn tại trên sân đình trước năm 1945.
    • Chèo truyền thống: Danh xưng theo GS. Trần Bảng và TS. Trần Đình Ngôn, chỉ các vở chèo cổ được chỉnh lý, kế thừa và phát triển nhưng vẫn giữ vững các nguyên tắc nghệ thuật cơ bản của chèo cổ.
    • Chèo hiện đại: Gồm nghĩa hẹp (phản ánh hiện thực đương thời) và nghĩa rộng (tác phẩm do tác giả hiện đại sáng tác dựa trên đề tài lịch sử, dân gian hoặc đương đại).
  • Phạm vi tư liệu:
    • Khảo sát 7 kịch bản chèo cổ trong cuốn Tuyển tập Chèo cổ (Nxb Sân khấu, 1999) do Hà Văn Cầu sưu tầm, chú thích: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh - Tôn Trọng, Từ Thức.
    • Khảo sát 60 kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị (theo thống kê của Lê Thanh Hiền), tập trung vào 34 tác phẩm in trong Tuyển tập Chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị (3 tập, Cục Nghệ thuật Sân khấu, 1994) và Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Kịch bản chèo 1900-1945) (Quyển 6, Tập 1, Nxb Văn học, 2006).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thời gian từ 1900 đến 1945 (giai đoạn chèo văn minh 1913-1924 và chèo cải lương 1924-1945). Không gian tập trung tại đồng bằng Bắc Bộ và các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu chèo và kịch bản chèo qua các giai đoạn:

                               TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU CHÈO
Thư tịch cổ & Lịch sử               Nguồn gốc & Đặc trưng              Chèo cải lương &
(Lương Thế Vinh, Phạm Đình Hổ,      (4 nhóm quan điểm;                 Nguyễn Đình Nghị
 Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản)       Trần Bảng, Hà Văn Cầu)            (Trần Việt Ngữ, Lê Việt Hùng)

Thư tịch cổ và vấn đề xác định thể loại

  • Thời phong kiến: Nghệ thuật hát xướng bị Nho giáo xếp vào hàng "vô loài", Điều 1, Điều 16 và Điều 322 của Bộ luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông (1470-1496) từng cấm con em nhà phường chèo đi thi hoặc kết hôn với gia đình quan lại.
  • Tác phẩm lý luận đầu tiên: Bản khắc gỗ Hí phường phả lục (1501) của Lương Thế Vinh ghi lại các khoán ước, kỹ thuật gõ trống, phương pháp múa hát, nguyên tắc "Tứ tương" (Thượng hạ tương phù, Tả hữu tương ứng, Phì sấu tương chế, Nội ngoại tương quan), luật "Hô ứng tương sinh" và quy tắc "Sáu chữ". Tư liệu này được lưu truyền qua bản chép tay của Hà Văn Cầu và các xác nhận của Trần Bảng, Hoàng Kiều, Trần Đình Ngôn.
  • Xác lập thể loại văn học: Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1943) và Nghiêm Toản (Việt Nam văn học sử trích yếu, 1949) xếp tuồng, chèo vào thể loại văn học Nôm. Ngược lại, Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên) loại trừ ca kịch khỏi văn học sử, chỉ thừa nhận thoại kịch là tác phẩm văn học.

Bốn nhóm quan điểm về nguồn gốc chèo truyền thống

  1. Nguồn gốc ngoại lai: Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Vũ Trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi), nhóm này cho rằng chèo bắt nguồn từ nghệ nhân Lý Nguyên Cát thời Trần truyền dạy tích tuồng phương Bắc.
  2. Nguồn gốc từ chữ "trào" (giễu cợt): Nguyễn Thúc Khiêm (1928), Cao Kim Điển (1958), Trần Huyền Trân (1956) cho rằng tên gọi chèo xuất phát từ chữ "trào" nghĩa là châm biếm, khôi hài nhằm răn đời.
  3. Nguồn gốc tôn giáo, nghi lễ và lao động: Vũ Khắc Khoan (Tìm hiểu sân khấu chèo) chia quá trình hình thành chèo làm 3 thời kỳ (phôi thai: TK IV TCN - TK I SCN; chuyển tiếp: TK I - TK X; hình thành: TK X - TK XIX), gắn nguồn gốc với ca vũ tang lễ và động tác chèo thuyền chở linh hồn. Đặng Văn Lung, Nguyễn Hữu Thu và Trần Việt Ngữ đồng thuận với giả thiết động tác chèo đò trong văn hóa sông nước.
  4. Nguồn gốc dân gian bản địa: Hoàng Ngọc Phách, Huỳnh Lý, Trần Việt Ngữ, Hoàng Kiều (Bước đầu tìm hiểu sân khấu chèo, 1964), Hà Văn Cầu (Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật chèo), GS. Trần Bảng (Khái luận về chèo), GS.TS. Lê Chí Quế khẳng định chèo là sân khấu dân tộc thuần túy hình thành từ thời Đinh (thế kỷ X) qua nghệ nhân Phạm Thị Trân, phát triển dựa trên cơ sở trò nhại và dân ca, dân vũ vùng châu thổ sông Hồng.

Nghiên cứu về Nguyễn Đình Nghị và chèo cải lương

  • Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, 1988) nhìn nhận cải cách của Nguyễn Đình Nghị là nỗ lực đô thị hóa nhưng không tạo được hướng đi bền vững.
  • Trần Việt Ngữ (Nguyễn Đình Nghị với phong trào chèo cải lương, 1994) ghi nhận vai trò mở đầu phong trào nhưng phê bình việc nhân vật chưa được khắc họa chiều sâu tâm lý.
  • Phan Trọng Thưởng (2005) đánh giá chèo cải lương đã tước bỏ yếu tố lai tạp từ tuồng, bổ sung dân ca Bắc Bộ và phát triển màn hài độc lập.
  • Lê Việt Hùng (2009), Trần Đình Ngôn và Trần Văn Hiếu (2011), Nguyễn Thị Huế (2016) nghiên cứu về cuộc đời, nghệ thuật gây cười và tiến trình tân thời hóa của Nguyễn Đình Nghị.

Khoảng trống được giải quyết: Luận án đi sâu vào cấp độ văn bản kịch bản, phân tích toàn diện cấu trúc tự sự (cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, không gian - thời gian) của chèo cải lương trong thế đối sánh với chèo cổ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Thi pháp học cấu trúc tự sự: Sử dụng hệ thống công cụ phân tích tự sự học đối với văn bản kịch bản (mô hình cốt truyện, phân loại nhân vật, kết cấu phân cảnh/màn, tính chất ngôn ngữ thoại/hát, tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật).
  • Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation): Đánh giá sự tương tác giữa yếu tố "nội sinh" (căn tính nông nghiệp, phương thức tự sự ước lệ dân tộc) và yếu tố "ngoại sinh" (kịch cổ điển Pháp, chủ nghĩa hiện thực, kỹ thuật kịch trường phương Tây) theo quan điểm của Hà Văn Cầu và Trần Bảng.
  • Khái niệm "Căn tính" của kịch bản chèo:
    • Căn tính nông nghiệp - làng xã - nghiệp dư: Chi phối chèo cổ trước 1945 với tính cộng đồng, diễn xướng sân đình theo chu trình mở.
    • Căn tính công nghiệp - đô thị - chuyên nghiệp: Xuất hiện đầu thế kỷ XX, gắn với kinh tế thị trường, nhà hát hộp rạp, tác quyền cá nhân và tính chuyên nghiệp hóa.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa: Là phương pháp chủ đạo nhằm đặt kịch bản chèo vào bối cảnh chuyển đổi hệ hình văn hóa từ trung đại sang hiện đại, từ văn hóa nông nghiệp truyền thống sang văn hóa đô thị thuộc địa.
  2. Phương pháp phân tích thi pháp học và văn bản học: Khảo sát hệ thống văn bản kịch bản chèo cổ và chèo cải lương để làm rõ cấu trúc nghệ thuật ngôn từ.
  3. Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối sánh trực tiếp 7 kịch bản chèo cổ tiêu biểu với 34 kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị về các bình diện tự sự.
  4. Phương pháp xã hội học văn học: Phân tích sự biến động của công chúng thị dân, thị hiếu thẩm mỹ và quy luật cung - cầu trong hoạt động sân khấu đô thị đầu thế kỷ XX.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu chèo từ thời phong kiến đến đầu thế kỷ XXI. Tác giả chứng minh kịch bản chèo cổ vốn là sáng tác tập thể, truyền miệng theo chu trình mở, diễn trên chiếu chèo sân đình ba mặt với đặc trưng tổng hợp (hát, múa, nhạc, kịch), tự sự và ước lệ. Văn chương chèo dựa chủ yếu trên thể thơ lục bát, song thất lục bát và biến thể. Tiếng cười trong chèo truyền thống chủ yếu là hài ngôn ngữ và các trò diễn độc lập.

Chương này chỉ ra bước ngoặt đầu thế kỷ XX khi chèo rời làng quê ra rạp hát phố thị, hình thành chèo văn minh rồi chèo cải lương. Tác giả phân tích các khuynh hướng đánh giá khác nhau về Nguyễn Đình Nghị, từ việc khẳng định ông là người đổi mới đầu tiên của sân khấu chèo thế kỷ XX cho đến những ý kiến phê bình sự lai tạp nghệ thuật kịch phương Tây làm mất tính ước lệ truyền thống.

Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những xu hướng cách tân kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

Chương 2 luận giải bối cảnh chuyển đổi xã hội Việt Nam sau các cuộc khai thác thuộc địa của Pháp:

  • Biến động văn hóa - xã hội: Cơ cấu "tứ dân" (sĩ, nông, công, thương) tan rã; hình thành các tầng lớp mới (tư sản, tiểu tư sản, trí thức Tây học, thị dân). Chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán sau các mốc bãi bỏ thi cử (1917) và văn bản hành chính (1932); hệ thống báo chí phát triển mạnh từ Gia Định báo (1865), Bảo hộ Nam dân (1888) đến 308 tờ báo vào năm 1938.
  • Sự ra đời của các loại hình nghệ thuật mới: Văn xuôi quốc ngữ (Thầy Lazarô Phiền 1887, Tố Tâm 1925), phong trào Thơ Mới (1932 với Phan Khôi), Tân nhạc (1938 với Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Tuyên), Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925) và Điện ảnh (Kim Vân Kiều 1924, Đồng tiền kẽm tậu được ngựa 1924).
  • Sự hình thành kịch nói: Khởi đầu từ các buổi diễn của vợ chồng nghệ sĩ Deschamps (Hải Phòng 1884, Hà Nội 1885), khánh thành Nhà hát Lớn Hà Nội (1911 với vở Chuyến đi của ông Perrichon), Nguyễn Văn Vĩnh dịch Người bệnh tưởng của Molière (1920), và các kịch bản của Tô Giang, Phạm Ngọc Khôi, Trần Tuấn Khải (1920-1921).

Bốn xu hướng cách tân kịch bản chèo cải lương được xác lập:

  1. Xu hướng bác học hóa: Nâng cao chất lượng văn bản kịch bản, cá thể hóa quyền tác giả, gia tăng điển tích văn học và hoàn thiện niêm luật lời ca.
  2. Xu hướng tiếp cận chủ nghĩa hiện thực: Đưa các vấn đề xã hội đương thời, thói hư tật xấu của tầng lớp thị dân, quan trường thuộc địa vào nội dung vở diễn.
  3. Xu hướng hài hóa: Chuyển đổi từ các lớp trò hài ngắn xen kẽ sang xây dựng toàn bộ vở chèo mang kết cấu hài kịch hoàn chỉnh.
  4. Xu hướng gia tăng xung đột kịch: Tiếp thu kỹ thuật kịch cổ điển Pháp, đẩy mạnh mâu thuẫn trực tiếp và hành động kịch thay cho lối trần thuật dàn trải.

Chương 3: Nhân vật, cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

Chương 3 đi sâu vào cấu trúc tự sự của kịch bản chèo:

  • Nhân vật:
    • Nhân vật người kể chuyện: Chuyển từ người kể chuyện ước lệ dân gian (tiếng đế, lời giáo trò mở màn) sang người dẫn chuyện gián tiếp thông qua đối thoại và chỉ dẫn sân khấu của tác giả.
    • Nhân vật trung tâm: Chèo cổ xây dựng nhân vật theo mô hình tính cách định hình (sinh, đào, lão, mụ); chèo cải lương đưa lên sân khấu các nhân vật mang tính cách xã hội đương thời (thầy phán, bà thông, me Tây, công chức).
    • Vai hề: Chèo cổ chủ yếu có hề áo ngắn, hề áo dài; Nguyễn Đình Nghị đưa vào hàng loạt "hề tính cách" mô phỏng nguyên mẫu đời thực bằng phương pháp tả chân.
  • Cốt truyện: Chèo cổ vận hành theo cốt truyện tích diễn tuyến tính dựa trên truyện thơ, cổ tích, dã sử (Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ); chèo cải lương xây dựng cốt truyện kịch tính, kết hợp nhiều tuyến xung đột, có mở đầu, thắt nút, cao trào và mở nút rõ rệt theo mô hình kịch nói.

Chương 4: Kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

  • Kết cấu: Chèo cổ có kết cấu mở, liên tục theo lớp lang diễn xướng sân đình không chia hồi màn; chèo cải lương chuyển sang kết cấu đóng, chia cảnh, chia màn cố định phù hợp với sân khấu hộp rạp có phông màn cơ học.
  • Ngôn ngữ: Chèo cổ sử dụng ngôn ngữ văn vần, biền ngẫu, đậm chất ca dao, dân ca; chèo cải lương đan xen ngôn ngữ thoại văn xuôi sinh hoạt đời thường, kết hợp làn điệu chèo với các điệu ca dân gian cải biên.
  • Không gian và thời gian nghệ thuật: Chuyển đổi từ không gian 3 mặt ước lệ, phiếm chỉ và thời gian tâm lý/tự sự liên tục của chèo sân đình sang không gian tả thực cụ thể (phòng khách, đường phố, công sở) và thời gian vật lý đo đếm được theo độ dài màn diễn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án khẳng định tính chất văn học của kịch bản chèo, xác lập kịch bản kịch hát là một bộ phận không thể tách rời trong tiến trình văn học sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  2. Xác định bản chất cuộc cách tân của Nguyễn Đình Nghị: Đó là quá trình tiếp biến giữa kịch cổ điển phương Tây và kịch hát dân tộc. Mặc dù đưa phương pháp tả thực vào làm biến đổi tính ước lệ, chèo cải lương vẫn duy trì cấu trúc tự sự dân tộc làm nền tảng nội sinh cốt lõi.
  3. Đánh giá bước ngoặt chuyển dịch phương thức sáng tạo từ sáng tác tập thể, khuyết danh, truyền miệng sang phương thức sáng tác cá thể hóa, xác lập quyền tác giả và văn bản kịch bản cố định.

Tổng hợp so sánh kịch bản chèo cổ và chèo cải lương

Tiêu chí Kịch bản Chèo cổ (Truyền thống) Kịch bản Chèo cải lương (Nguyễn Đình Nghị)
Phương thức sáng tác Tập thể, khuyết danh, truyền miệng, chu trình mở Cá thể hóa, có tên tác giả, xác lập bản quyền văn bản
Căn tính nghệ thuật Nông nghiệp - làng xã - nghiệp dư Đô thị - kinh tế thị trường - chuyên nghiệp
Không gian sàn diễn Sân khấu 3 mặt trải chiếu ở sân đình, không phông màn Sân khấu hộp rạp đóng khung, có phông màn, cánh gà
Nguyên tắc thẩm mỹ Ước lệ, cách điệu, mô hình hóa tính cách Kết hợp ước lệ với tả chân, tả thực tâm lý xã hội
Kết cấu kịch bản Cốt truyện chuỗi, trần thuật liên tục, phân theo lớp Kết cấu kịch bản chia hồi, cảnh, lớp rõ ràng theo kịch Tây
Nhân vật kịch Mô hình hóa định hình (Sinh, Đào, Lão, Mụ, Hề) Nhân vật tính cách xã hội đương thời, hề tả chân
Ngôn ngữ kịch bản Thơ lục bát, song thất lục bát, văn biền ngẫu Xen lẫn văn xuôi đời thường, lời thoại kịch và dân ca cải biên
Tính chất xung đột Xung đột đạo đức luân lý, dàn trải, tính tích diễn Xung đột kịch trực tiếp, gia tăng kịch tính và mở nút cụ thể

Kiến nghị và bài học thực tiễn

  • Nhận thức rõ mối quan hệ giữa yếu tố "nội sinh" và "ngoại sinh": Việc cách tân nghệ thuật truyền thống đương đại cần giữ vững cấu trúc tự sự và tính ước lệ cốt lõi của chèo, tránh khuynh hướng "gieo vừng ra ngô", biến chèo thành kịch nói cắm bài hát.
  • Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy lịch sử sân khấu và lý luận biên kịch kịch hát dân tộc tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu lịch sử đầu thế kỷ XX bị thất lạc nhiều (đặc biệt là các văn bản chèo văn minh giai đoạn 1913-1924 và các bản in gốc của Hí phường phả lục), luận án chủ yếu tập trung khảo sát văn bản của Nguyễn Đình Nghị mà chưa thể bao quát toàn bộ mọi soạn giả chèo cải lương cùng thời.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát văn bản tác phẩm của các soạn giả khác trong phong trào chèo cải lương như Nguyễn Quang Oánh, Đỗ Thân, Phan Chu Sĩ, Nguyễn Thúc Khiêm, Trương Huyền nhằm hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về diện mạo văn học kịch hát Việt Nam giai đoạn 1900-1945.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung phân tích thi pháp kịch bản kịch hát, hệ thống tư liệu thư mục lịch sử sân khấu từ thế kỷ X đến năm 1945.
  • Tác giả biên kịch sân khấu truyền thống: Nhận diện rõ ranh giới giữa bảo tồn nguyên tắc ước lệ truyền thống và kỹ thuật dung nạp xung đột kịch hiện đại.
  • Nhà quản lý văn hóa và lý luận phê bình: Cung cấp cơ sở khoa học để thẩm định các đề án bảo tồn, cách tân chèo và nghệ thuật truyền thống trong bối cảnh giao lưu quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn nhóm quan điểm về nguồn gốc chèo truyền thống gồm những gì và dựa trên cứ liệu nào?

  • Nhóm 1 (Ngoại lai): Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư, cho rằng chèo do tù binh Lý Nguyên Cát truyền dạy từ đời Trần (Đào Duy Anh, Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong).
  • Nhóm 2 (Từ chữ "trào"): Dựa vào tính chất gây cười răn đời, cho rằng tên chèo đọc chệch từ chữ "trào" (Nguyễn Thúc Khiêm, Trần Huyền Trân).
  • Nhóm 3 (Nghi lễ và chèo đò): Dựa vào ca vũ tang lễ và động tác gạt mái chèo đưa linh hồn qua sông (Vũ Khắc Khoan, Trần Việt Ngữ, Đặng Văn Lung).
  • Nhóm 4 (Dân gian bản địa): Dựa vào trò nhại và dân ca múa hát hình thành từ thời Đinh với bà Phạm Thị Trân (Hà Văn Cầu, Trần Bảng, Hoàng Kiều).

2. Tác phẩm Hí phường phả lục của Lương Thế Vinh có vị trí như thế nào trong lý luận chèo?

Hí phường phả lục (khắc gỗ năm 1501) là công trình lý luận sân khấu cổ truyền đầu tiên của Việt Nam. Sách tổng kết các nguyên tắc biểu diễn: nguyên tắc "Tứ tương" (Thượng hạ tương phù, Tả hữu tương ứng, Phì sấu tương chế, Nội ngoại tương quan), luật "Hô ứng tương sinh" và quy tắc "Sáu chữ" về tiêu chuẩn diễn viên. Văn bản hiện lưu giữ dưới dạng bản chép tay của PGS. Hà Văn Cầu sau khi bản in tại Nhà hát Chèo Việt Nam bị hư hại.

3. Vì sao luận án tập trung khảo sát kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị?

Đầu thế kỷ XX, chèo văn minh (1913-1924) biến đổi không đáng kể và nhanh chóng suy tàn. Chèo cải lương (1924-1945) trở thành một phong trào sâu rộng, trong đó soạn giả Nguyễn Đình Nghị là người khởi xướng và để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ (60 kịch bản, 34 tác phẩm đã in thành sách), đại diện tiêu biểu cho bước ngoặt cách tân kịch bản chèo theo hướng hiện đại hóa.

4. Nguyễn Đình Nghị đã đưa những yếu tố mới nào vào kịch bản chèo?

Nguyễn Đình Nghị đưa vào kịch bản chèo kỹ thuật chia hồi/cảnh của kịch cổ điển phương Tây, gia tăng xung đột kịch tính, tiếp cận chủ nghĩa hiện thực với các đề tài thị dân đương thời, đưa ngôn ngữ thoại văn xuôi vào kịch bản, phát triển các vở hài kịch trọn vẹn và chuyển vai hề sang hình thức "hề tính cách" tả thực.

5. Khái niệm "căn tính" của kịch bản chèo theo PGS. Hà Văn Cầu được phân định ra sao?

PGS. Hà Văn Cầu phân định kịch bản chèo qua 2 căn tính:

  • Căn tính nông nghiệp - làng xã - nghiệp dư: Gắn với kịch bản trước Cách mạng Tháng Tám, mang tính cộng đồng khép kín, tư duy tự cấp và tính ổn định nề nếp.
  • Căn tính công nghiệp - đô thị - chuyên nghiệp: Gắn với kịch bản đô thị và sau 1945, phát huy tư duy duy lý, tính chuyên môn hóa cao và khả năng giao lưu tiếp biến văn hóa rộng rãi.

Kết luận

Luận án "Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX - truyền thống và biến đổi" đã khảo cứu toàn diện sự chuyển dịch của kịch bản chèo từ hình thức tự sự sân đình dân gian sang hình thức kịch bản sân khấu đô thị dưới tác động của giao lưu văn hóa Đông - Tây. Công trình khẳng định giá trị văn học độc lập của kịch bản chèo, làm rõ bản chất cuộc cách tân của Nguyễn Đình Nghị là sự kết hợp giữa kỹ thuật kịch phương Tây với nền tảng cấu trúc tự sự dân tộc. Đây là tài liệu khoa học có hệ thống, đóng góp nguồn cứ liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử sân khấu và định hướng bảo tồn nghệ thuật truyền thống Việt Nam.