Luận Án Về Biến Đổi Kịch Bản Chèo Truyền Thống Đầu Thế Kỷ XX

Khám phá luận án về kịch bản chèo đầu thế kỷ XX, phân tích sự kết hợp giữa truyền thống và biến đổi trong nghệ thuật chèo Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Nghiên Cứu Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

Đầu Thế Kỷ XX

164
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

0.3. Mục đích nghiên cứu của luận án

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

0.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

0.6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

0.7. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1. CHƯƠNG 1: GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY VÀ NHỮNG XU HƯỚNG CÁCH TÂN KỊCH BẢN CHÈO ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Giao lưu văn hóa Đông - Tây và quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam

1.2. Sự xuất hiện của chủ thể văn hóa mới

1.3. Sự ra đời, phát triển của báo chí và các loại hình văn học - nghệ thuật

1.4. Đổi mới sân khấu truyền thống và sự ra đời của kịch hiện đại

1.5. Sự ra đời và phát triển của kịch nói, cải lương. Đổi mới sân khấu truyền thống

1.6. Các xu hướng cách tân trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

1.6.1. Xu hướng bác học hóa trong kịch bản chèo cải lương

1.6.2. Xu hướng tiếp cận chủ nghĩa hiện thực trong kịch bản chèo cải lương

1.6.3. Xu hướng hài hóa trong kịch bản chèo cải lương

1.6.4. Xu hướng gia tăng xung đột kịch trong kịch bản chèo cải lương

1.7. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT, CỐT TRUYỆN TRONG KỊCH BẢN CHÈO ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1. Nhân vật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

2.2. Nhân vật người kể chuyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

2.3. Nhân vật trung tâm trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

2.4. Vai hề trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

2.5. Cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

2.6. Cốt truyện trong kịch bản chèo truyền thống

2.7. Cốt truyện trong kịch bản chèo cải lương

2.8. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: KẾT CẤU, NGÔN NGỮ, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG KỊCH BẢN CHÈO ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1. Kết cấu kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

3.2. Kết cấu kịch bản chèo truyền thống

3.3. Kết cấu kịch bản chèo cải lương

3.4. Ngôn ngữ kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

3.5. Ngôn ngữ kịch bản chèo cổ

3.6. Ngôn ngữ kịch bản chèo cải lương

3.7. Không gian, thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

3.7.1. Không gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

3.7.2. Thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

3.8. Tiểu kết

TUYỂN TẬP CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kịch bản chèo

Kịch bản chèo, một thể loại nghệ thuật dân gian, đã trải qua nhiều biến đổi từ hình thức dân gian sang sân khấu chuyên nghiệp. Kịch bản chèo truyền thống được hình thành từ những tác phẩm khuyết danh, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX, sự giao thoa văn hóa Đông - Tây đã tạo ra những thay đổi lớn trong cách sáng tác và biểu diễn. Biến đổi văn hóa này không chỉ ảnh hưởng đến nội dung mà còn đến hình thức thể hiện của kịch bản chèo. Theo nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền, "Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã có nhiều thể loại được ghi nhận, nhưng kịch bản chèo vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu." Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về di sản văn hóa này.

1.1. Đặc điểm của kịch bản chèo cổ

Kịch bản chèo cổ thường mang tính tập thể, khuyết danh và được truyền miệng qua các thế hệ. Nghệ thuật chèo không chỉ đơn thuần là một hình thức giải trí mà còn là phương tiện phản ánh đời sống xã hội, tâm tư nguyện vọng của người dân. Các nhân vật trong kịch bản chèo cổ thường là những hình mẫu gần gũi với đời sống, thể hiện rõ nét tính cách và số phận của con người trong xã hội phong kiến. Sự tồn tại của kịch bản chèo cổ cho thấy giá trị văn hóa và nghệ thuật của nó trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

II. Biến đổi và phát triển của kịch bản chèo đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, kịch bản chèo đã trải qua nhiều cuộc cách tân, đặc biệt là dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Biến đổi văn hóa này dẫn đến sự ra đời của kịch bản chèo cải lương, một thể loại mới kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Sự xuất hiện của các chủ thể văn hóa mới đã tạo ra một lớp công chúng mới, đòi hỏi nghệ thuật chèo phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu thưởng thức. Theo nghiên cứu, "Chèo cải lương đã trở thành một phong trào, một cuộc cách mạng về nghệ thuật chèo," cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của thể loại này trong bối cảnh xã hội đang thay đổi.

2.1. Xu hướng cách tân trong kịch bản chèo

Các xu hướng cách tân trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX bao gồm xu hướng bác học hóa, tiếp cận chủ nghĩa hiện thực và gia tăng xung đột kịch. Nghệ thuật biểu diễn chèo cải lương đã có sự thay đổi rõ rệt, từ việc sử dụng các yếu tố truyền thống đến việc tiếp nhận các yếu tố hiện đại. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn tạo ra những hình thức biểu diễn mới, hấp dẫn hơn cho khán giả. Sự kết hợp giữa nghệ thuật chèo và các yếu tố ngoại lai đã tạo nên một diện mạo mới cho kịch bản chèo, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

III. Giá trị và ý nghĩa của kịch bản chèo trong đời sống văn hóa

Kịch bản chèo không chỉ là một sản phẩm nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu và bảo tồn kịch bản chèo có ý nghĩa lớn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là việc gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật mà còn là việc duy trì các giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội mà chúng mang lại. Theo các nhà nghiên cứu, "Chèo hiện đại cần phải bảo tồn những yếu tố nội sinh của chèo cổ," điều này cho thấy sự cần thiết phải có một chiến lược bảo tồn hợp lý trong bối cảnh hội nhập văn hóa hiện nay.

3.1. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu kịch bản chèo

Nghiên cứu về kịch bản chèo có thể cung cấp những kiến thức quý giá cho việc giảng dạy và sáng tác nghệ thuật. Nghệ thuật chèo không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một phương tiện giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử dân tộc. Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại vào việc phân tích kịch bản chèo sẽ giúp nâng cao chất lượng sáng tác và biểu diễn, đồng thời tạo ra những sản phẩm nghệ thuật có giá trị hơn trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những xu hướng cách tân kịch bản chèo đầu thế kỷ XX Chương 3: Nhân vật và cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX Chương 4: Kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử chèo cổ và việc xác định kịch bản sân khấu với tƣ cách là một thể loại văn học dân tộc Nghệ thuật gồm 7 loại hình cơ bản là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, âm nhạc, sân khấu và điện ảnh. Trong hệ thống 7 loại hình nghệ thuật, văn học giữ vị trí quan trọng bởi nó đƣợc sử dụng để thể hiện nhiều loại hình nghệ thuật khác nhƣ sân khấu, âm nhạc, điện ảnh… Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời. Với tƣ cách là những thể loại thuộc loại hình nghệ thuật sân khấu, sân khấu truyền thống Việt Nam đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố quan hệ mật thiết với nhau là kịch bản văn học và nghệ thuật diễn xƣớng.

Tuy nhiên, nếu nghệ thuật diễn xƣớng thuộc về sân khấu, là con đẻ của bộ môn nghệ thuật học (nhƣ âm nhạc, vũ đạo, trình thức v.v…) thì kịch bản sân khấu với tƣ cách một tác phẩm văn học là một bộ phận của văn học sử. Ở Việt Nam, loại hình sân khấu có mấy thể loại gồm chèo, tuồng, cải lƣơng, kịch nói, kịch dân ca… Ngoài một số tiểu hình sân khấu nhƣ múa rối, các trò diễn hí dân gian, sân khấu truyền thống ngƣời Việt có hai hình thức chủ đạo là tuồng (hay hát bội) và chèo, đƣợc phân tách làm hai dòng dân gian (chèo) và bác học (tuồng). Nhƣ vậy, sân khấu Việt Nam từ khi hình thành đã là một sân khấu kịch hát sau phát triển thành tuồng và chèo. Cả hai hình thức này tồn tại cho tới ngày nay.

Về cơ bản, văn học sân khấu cổ truyền vẫn là một nền văn học khuyết danh. Đƣợc kết hợp từ ngôn ngữ nhiều loại hình, thể loại nghệ thuật khác nhau nhƣ âm nhạc, múa, văn học, sân khấu. nên sân khấu kịch hát là sân khấu tổng hợp. Suốt chiều dài lịch sử gần một thiên niên kỷ (938 - 1884), Việt Nam vẫn tồn tại bất biến mô hình nhà nƣớc phong kiến.

Theo quan niệm của hệ tƣ tƣởng Nho giáo, xã hội phong kiến chỉ có bốn nghề, theo thứ tự từ cao xuống thấp là “Sĩ, Nông, Công, Thƣơng”. Hát xƣớng không nằm trong bốn nghề đó nên bị xếp vào “vô loài” (hoặc vô loại)… Hai thể loại dân tộc: tuồng và chèo ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội phong kiến. Trƣớc đây, chèo đƣợc biểu diễn trong cung đình. Chèo từng đƣợc trọng dụng khi vua quan nhà Lý đều mê hát chèo.

Nhƣng đến thời nhà Lê, khi các ông vua chọn Nho học làm quốc giáo, lấy tƣ tƣởng Nho giáo làm tƣ tƣởng chính thống thì hát xƣớng bị coi rẻ. Các sáng tạo dân gian bị coi thƣờng. Chèo từng bị nhà Lê kỳ thị, coi “nhà phƣờng chèo con hát” ngang với “kẻ phản nghịch, ngụy quan”. Bộ luật Hồng Đức thời Lê cấm các nghệ sĩ hát chèo và con cái 9 họ đi thi.

Vì vậy, nhiều thế kỷ kéo dài, chèo cổ phải rời bỏ chốn phồn hoa, đô thị trở về diễn ở sân đình, ở các làng quê. Do thái độ kỳ thị nhiều thế kỷ trƣớc đó nên dù có lịch sử lâu đời, dƣới thời phong kiến hầu nhƣ không có những trƣớc tác nghiên cứu về sân khấu, đặc biệt là chèo. Theo tài liệu của Nhà hát chèo Việt Nam, ngƣời sáng lập ra chèo là bà Phạm Thị Trân - một vũ ca tài ba thời nhà Đinh vào thế kỷ 10 và kinh đô Hoa Lƣ - Ninh Bình xƣa đƣợc coi là đất tổ của sân khấu chèo. Sử sách cũ ghi rằng, từ thời Lý, hát chèo ở Thăng Long đã rất phát triển.

Chèo có mặt trong các lễ tết, những cuộc vui ở kinh thành. Đặc biệt các tầng lớp vua, quan, quí tộc rất mê hát chèo. Theo sách Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tháng 6/1028, vua Lý Thánh Tông sai gọi phƣờng chèo đến múa hát mừng sinh nhật nhà vua. Sau, lễ sinh nhật của các vua Lý đƣợc tổ chức thành ngày hội lớn ở kinh thành Thăng Long, bao giờ cũng có phƣờng chèo, phƣờng hát biểu diễn, kèn sáo, múa hát tƣng bừng.

Bia Sùng Thiện diên linh (năm 1121) chép tỉ mỉ về đội múa chèo của Thiên vƣơng nhƣ sau: “… Ở giữa bậc dƣới, những cô gái tiến hƣơu vàng, nhạc quan đứng thành hàng dƣới sân nhảy hát một lúc…”. Cuối đời Lý (năm 1182), sử sách còn ghi chép lại một trò nhại trực tiếp châm biếm tính hống hách của Đỗ An Thuận - viên thái sử thời đó. Sách An Nam chí lược ghi chép về cảnh sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nhộn nhịp trong cung vua Trần cho thấy, vào ngày “tất niên” (hết năm), vua Trần ra ngự ở cửa Đoan Cung để bách quan lạy mừng. Các phƣờng chèo, phƣờng hát tới diễn mừng vua ở đấy.

Từ Đạo Hạnh ở thời Lý, Trần Nhật Duật ở thời Trần đều là những ông quan đam mê hát chèo. Từ Đạo Hạnh đƣợc coi là tác giả của bài “Giáo trò” quen thuộc mà các phƣờng chèo Thăng Long - Hà Nội và nhiều nơi khác còn lƣu truyền: Trình làng trình chạ Thƣợng hạ Tây Đông Tứ cảnh hòa trung Nghe tôi giáo trống Trƣờng không phong động Cũng bởi trống tôi Làng đã vào ngồi Tôi xin diễn tích… Sang thời Lê, do chính sách vọng ngoại, chèo bị nhà Lê kỳ thị. Sách Việt sử thông giám cương mục ghi thời Hồng Đức (1470-1496), trong 24 điều dạy dân của vua Lê Thánh Tông có hai điều răn: 10 Điều 1: Cha mẹ dạy con phải đúng khuôn phép, không đƣợc để buông tuồng đắm đuối vào cờ bạc, rƣợu chè, tập nghề hát xƣớng, hại đến phong tục. Điều 16: Khi chèo hát, lúc hội hè, trai gái đến chơi xem, không đƣợc đứng ngồi lẫn lộn, để ngăn ngừa thói dâm ô”.

Bộ luật Hồng Đức ghi rõ cấm con trai các nhà xƣớng ca không đƣợc đi dự thi, con gái không đƣợc lấy con những nhà quan chức quyền quý. Điều 322 Bộ luật Hồng Đức viết, quan chức lấy con nhà xƣớng ca làm vợ hay thiếp bị phạt đánh 70 trƣợng và giáng chức; con cháu quan chức lấy con gái nhà xƣớng ca cũng bị phạt đánh 60 trƣợng và nhất thiết bắt ly dị. Sách Lịch sử Việt Nam tập 1, xuất bản năm 1971 ghi nhận: “Cuốn Hý phường phả lục của Lƣơng Thế Vinh xuất bản năm 1501 có thể coi đó là tác phẩm lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền. Tác giả đã tổng kết kinh nghiệm và nêu lên những nguyên tắc có tính chất lý luận về nghệ thuật biểu diễn, diễn viên, múa hát và đánh trống”.

Hí phường phả lục đƣợc xác định là công trình nghiên cứu chèo cổ của Trạng nguyên Lƣơng Thế Vinh với bản in khắc gỗ năm 1501. Hí phường phả lục đã ghi lại các khoán ƣớc của phƣờng chèo, kịch bản và diễn xuất, cách đánh trống chèo, phƣơng pháp múa hát, với nhiều nguyên tắc nhƣ nguyên tắc “Tứ tƣơng” trong múa chèo, luật “Hô ứng tƣơng sinh” trong giao lƣu nhân vật sân khấu và quy tắc “Sáu chữ” về tiêu chuẩn diễn viên dùng cho các phƣờng chèo. Các nội dung này sau đƣợc PGS Hà Văn Cầu trích dẫn trong các tác phẩm của ông nhƣ sau: Hệ thống động tác trong nghệ thuật diễn xuất sân khấu kịch hát truyền thống vốn tồn tại nhƣ một tổng thể các ký hiệu - động tác, một hệ thống ngôn ngữ biểu đạt. Nguyên tắc tứ tƣơng là một trong những biểu hiện tính hệ thống của động tác trong sân khấu kịch hát truyền thống.

Hệ thống động tác bị chi phối bởi nguyên tắc: Thƣợng hạ tƣơng phù: động tác phải có trên - dƣới, gốc - ngọn, đầu - đuôi, tiến - lui, để tạo nên một chỉnh thể. Tả hữu tƣơng ứng: động tác có phải - trái, trƣớc - sau kết hợp, tạo nên sự hài hòa. Phì sấu tƣơng chế: Sự hài hòa tạo nên bởi sự tƣơng phản giữa động tác dày và mỏng, rộng và hẹp. Nội ngoại tƣơng quan: tƣơng quan giữa nội tâm - ngoại hình nhân vật, giữa con ngƣời và thiên nhiên.

Những nguyên tắc tạo hình trong nghệ thuật diễn xuất mang đậm màu sắc triết lý. Nguyên tắc tứ tƣơng này cũng có thể gặp ngay trong Hý khúc Trung Quốc. Cái đẹp từ sự cân đối: trƣớc - sau, phải - trái, trên - dƣới, từ sự hài hòa bên trong - bên ngoài, vật chất - tinh thần v.v… trong hệ thống động tác diễn xuất sân khấu, thể 11 hiện cách nhìn vũ trụ - con ngƣời trong tính tổng hợp hữu cơ các quan hệ của nó. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa ai nhìn thấy văn bản này nên thời gian qua đã dấy nên sự tồn nghi về sự có mặt của Hí phường phả lục.

TS Trần Đình Ngôn xác nhận sách Hí phường phả lục là thật với nhiều nhân chứng nhìn thấy nó gồm GS. Trần Bảng, nhà nghiên cứu Hoàng Kiều và PGS. Bản in khắc gỗ Hí phường phả lục sƣu tầm đƣợc ở Thái Bình, trên đó ghi rõ năm xuất bản sách là năm Cảnh Thống Tân Dậu 1501. Sau này, Nhà hát Chèo Việt Nam đã dịch Hí phường phả lục, in roneo.

Trần Bảng là ngƣời duyệt sách nên ông đã đọc cả hai bản bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ. Do trƣớc đây chƣa có phƣơng tiện photocopy nên chỉ có mình PGS. Hà Văn Cầu chép tay bản Hí phường phả lục. Cụ Cầu đã chép hai bản, một bản cụ giữ, còn một bản đem tặng GS.

Trần Quốc Vƣợng. Còn bản gốc và bản dịch Hí phường phả lục Nhà hát chèo Việt Nam lƣu giữ sau bị mối mọt xông hết. Sau Hí phường phả lục, gần 300 năm sau, danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) mới viết Vũ Trung tùy bút với đôi dòng rải rác nhắc đến hoạt động sân khấu. Nhƣ vậy, hệ thống lý luận của chèo cổ thời phong kiến thực chất chỉ có Hí phường phả lục.

Sau này, Lê Dƣ dựa vào nguồn tƣ liệu ít ỏi này để viết Ca vũ và âm nhạc nước nhà, Đào Duy Anh dựa vào để viết Việt Nam văn hóa sử cương và Dƣơng Quảng Hàm dựa vào để viết Việt Nam văn học sử yếu. Dƣơng Quảng Hàm là ngƣời viết bộ văn học sử hoàn chỉnh đầu tiên bao quát đƣợc tiến trình văn học Việt Nam từ sơ khai cho đến đƣơng thời (năm 1943) của lịch sử văn học sử Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận Án Về Biến Đổi Kịch Bản Chèo Truyền Thống Đầu Thế Kỷ XX" khám phá sự phát triển và biến đổi của kịch bản chèo trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi này, từ truyền thống đến hiện đại, đồng thời nhấn mạnh vai trò của kịch bản chèo trong việc phản ánh đời sống xã hội và văn hóa của người dân. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật chèo mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên Cứu Sự Biến Đổi Văn Hóa Làng Nghề Truyền Thống Tại Hà Nội Hiện Nay, nơi phân tích sự thay đổi trong các làng nghề truyền thống, và Luận Án Tiến Sĩ Về Biến Đổi Và Kế Thừa Truyền Thống Trong Kịch Bản Chèo Của Trần Đình Ngôn, một nghiên cứu sâu sắc về sự kế thừa và phát triển trong kịch bản chèo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến đổi trong nghệ thuật truyền thống Việt Nam.