Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40) với đề tài "Ông bà bóng trong thực hành múa bóng rỗi của người Việt Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Trần Thanh Tuấn thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đoàn Thị Tuyến và TS. Nguyễn Đệ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thực hành múa bóng rỗi là một loại hình diễn xướng dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu/thờ Bà của người Việt ở Nam Bộ, hình thành từ quá trình giao lưu, tiếp biến và dung hợp văn hóa giữa các tộc người (Việt, Chăm, Khmer, Hoa) trong điều kiện tự nhiên - xã hội vùng sông nước. Các ông bà bóng đóng vai trò là chủ thể thực hiện nghi lễ thờ phụng và mua vui cho các vị nữ thần nhằm cầu may mắn, bình an và thịnh vượng cho cộng đồng.
Trong lịch sử, từng có giai đoạn nhận thức xã hội và quản lý đánh đồng thực hành này với hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, khiến người thực hành phải hoạt động lén lút, bị tịch thu đồ nghề hoặc đưa đi cải tạo. Trong hơn hai thập kỷ qua, sự đổi mới chính sách văn hóa (tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc) đã thừa nhận nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện cho múa bóng rỗi phục hồi công khai; một số người thực hành đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.
Về phương diện học thuật, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào việc mô tả bản thân tín ngưỡng thờ Bà, khảo tả kịch bản diễn xướng (chặp Địa Nàng, hát rỗi) hoặc cấu trúc lễ hội. Khoảng trống nghiên cứu lớn mà tác giả chỉ ra là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về chính chủ thể thực hành — tức các câu chuyện cuộc đời, căn nguyên đến với nghề, quá trình học nghề, hoạt động mưu sinh, chiến lược ứng phó và những tương tác xã hội của các ông bà bóng trong bối cảnh đương đại.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời các ông bà bóng, tập trung vào quá trình học nghề, mưu sinh và trải nghiệm sống, nhằm cung cấp luận cứ khoa học về vị trí, vai trò, các chiều tương tác và đóng góp của chủ thể này đối với việc duy trì thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Mô tả dân tộc học các câu chuyện cuộc đời của ông bà bóng như: cơ duyên, hoàn cảnh đến với nghề, quá trình học nghề, làm nghề, mưu sinh và trải nghiệm sống.
- Phân tích và lý giải về căn nguyên đến với nghề múa bóng rỗi của ông bà bóng và đồng thời nêu các “chiến lược” nhằm duy trì và phát triển nghề của các chủ thể này trong thực tiễn.
- Phân tích và chỉ ra những đóng góp của ông bà bóng trong việc gìn giữ và phát huy thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính: Sáu người thực hành múa bóng rỗi (bóng tuồng) thuộc hai thế hệ khác nhau, được tác giả tiếp cận và theo dõi trong hơn 10 năm (từ năm 2012 đến 2023). Tác giả sử dụng nghệ danh để bảo đảm tính bảo mật thông tin:
| STT |
Nghệ danh |
Độ tuổi |
Địa bàn cư trú |
Ghi chú |
| 1 |
Ngọc Cúc |
26 tuổi |
TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương |
Thế hệ trẻ |
| 2 |
Ngọc Tân |
34 tuổi |
Quận 8, TP. Hồ Chí Minh |
Thế hệ trẻ |
| 3 |
Ngọc Hoa |
42 tuổi |
Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh |
Thế hệ trung niên |
| 4 |
Út Nhỏ |
42 tuổi |
Huyện Châu Thành, tỉnh Long An |
Thế hệ trung niên |
| 5 |
Út Mai |
55 tuổi |
Huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang |
Thế hệ đi trước |
| 6 |
Ngọc Long |
63 tuổi |
TP. Tân An, tỉnh Long An |
Thế hệ đi trước |
(Ghi chú: Trong số 6 đối tượng chính, có 3 cá nhân đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú).
Ngoài ra, tác giả mở rộng khảo sát các ông bà bóng tại các tỉnh thành khác gồm: Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Bến Tre, Đồng Tháp. Về mặt thuật ngữ, do đặc điểm giới tính bộc lộ tính nữ nổi trội trong không gian thiêng và thói quen xưng hô của cộng đồng, tác giả sử dụng thuật ngữ "bà bóng" hoặc "cô bóng" xuyên suốt luận án để phản ánh đúng tiếng nói của chủ thể.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại bốn địa bàn chính (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Tiền Giang) cùng các không gian thực hành lưu động liên tỉnh của đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn khoảng 7 năm trở lại đây (tính đến thời điểm hoàn thành luận án năm 2023), thời điểm thực hành múa bóng rỗi bùng phát mạnh mẽ và đối diện nhiều biến đổi xã hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được phân chia thành 4 nhóm nội dung chính:
1. Những nghiên cứu về múa bóng rỗi Nam Bộ
- Về nguồn gốc: Huỳnh Ngọc Trảng qua các công trình (1983, 1990, 1992, 1993) khẳng định múa bóng Nam Bộ có nguồn gốc trực tiếp từ múa bóng vùng cực Nam Trung Bộ và gián tiếp từ múa nghi lễ Chăm, sau đó được Việt hóa và phát triển trong môi trường diễn xướng tuồng. Huỳnh Văn Tới (trong công trình về văn hóa dân gian Đông Nam Bộ) xác định 4 tiết mục cơ bản (Khai tràng, Chầu mời, Thỉnh tổ, Chặp Địa - Nàng/Hát bóng rỗi), khẳng định đây là nghệ thuật diễn xướng dân gian gắn với cúng tế, không phải mê tín dị đoan. Huỳnh Thanh Bình đối chiếu trình thức múa bóng rỗi với nghi lễ Chăm và Bà La Môn Ấn Độ.
- Về đặc điểm nghệ thuật: Mai Mỹ Duyên (2007, 2017) xác định 4 đặc trưng của múa bóng rỗi (Yếu tố giới, Tính trực cảm, Tính nhân sinh, Tính chuyên nghiệp). Nguyễn Thị Hải Phượng (2010, 2013) nghiên cứu Chặp Địa Nàng dưới góc độ Văn hóa học và so sánh các nghi thức thờ nữ thần. Các tác giả khác như Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thị Nguyệt, Phan Thị Yến Tuyết đều khẳng định múa bóng rỗi là một nghề và là loại hình diễn xướng dân gian đặc trưng.
- Về giá trị: Kỷ yếu hội thảo tại Tiền Giang (2007) và Đồng Nai (2017) với các bài viết của Trần Diễm Thùy (khảo sát ở miền Tây Nam Bộ), Vũ Đình Trung (trường hợp miễu Bà Cây Quéo, Đồng Nai) làm rõ giá trị tri ân, bản sắc địa phương trong thực hành bóng rỗi.
2. Những nghiên cứu về bà bóng Nam Bộ
- Các ghi chép lịch sử thời phong kiến như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1972) và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, 1973) ghi nhận phong tục chuộng đồng bóng, cúng lễ dùng cô đồng múa hát tại Định Tường, An Giang.
- Tác phẩm Xứ trầm hương của Quách Tấn (2002) mô tả kỹ thuật múa bóng của các vũ nữ Chăm tại lễ vía Bà.
- Nhà nghiên cứu Sơn Nam (Nói về Miền Nam, Cá tính Miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam, tái bản 2007, 2009) mô tả nghệ thuật múa thăng bằng đồ chơi của các bà bóng và chỉ ra các bà bóng nổi danh thường thuộc nhóm "ái nam ái nữ". Mai Mỹ Duyên (2014) hệ thống hóa bốn tiêu chuẩn nghề nghiệp của nghệ nhân bóng rỗi (giọng rỗi tốt, kỹ thuật múa nghi lễ, kỹ thuật múa đồ chơi và sự khéo léo làm đồ thủ công như mâm vàng).
3. Những nghiên cứu về người thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo
- Học giả quốc tế (James A.R. Leach, 1962; Evans Pritchard, 1956; Fiona Bowie; Landon, 1992) xem shaman là trung gian giữa con người và thần linh, có năng lực biến đổi tâm lý, xuất thần để giải quyết các nhu cầu của cộng đồng.
- Tại Việt Nam: Ngô Đức Thịnh (2004, 2010) phân tích hiện tượng lên đồng, căn đày, khía cạnh tâm lý trị liệu và yếu tố giới trong Đạo Mẫu; Phan Thị Yến Tuyết (2010) phân tích tri thức bản địa và vai trò của người thực hành nghi lễ (thầy pháp người Việt, arak người Khmer, Ông Bổn người Hoa); Đoàn Thị Tuyến (2010/2014) làm rõ sự phục hồi của nghi lễ Then gắn với trách nhiệm cộng đồng của người làm Then; Nguyễn Thị Hiền (2010, 2020) và Vũ Thị Tú Anh (2016) phân tích căn nguyên tâm linh và quyền lực của phụ nữ trong Đạo Mẫu.
4. Các nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử cuộc đời
- Điểm qua lịch sử phát triển phương pháp từ công trình kinh điển của Thomas và Znaniecki (The Polish Peasant in Europe and America, 1918-1920), trường phái Chicago (Robert Park, Clifford Shaw, Sutherland) đến giai đoạn phục hưng từ thập niên 1970 (Bogdan, Thompson, Bertaux & Kohli).
- Tại Việt Nam: Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Châm (2012) về phụ nữ Việt Nam lấy chồng tại Vạn Vĩ (Trung Quốc), Nguyễn Thị Hiền (2010) về trường hợp chữa "bệnh âm" ở Bắc Bộ, và Nguyễn Đức Lộc cùng cộng sự (2018) về cuộc đời học giả Dương Ngọc Dũng dưới góc nhìn nhân học đối thoại.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án kế thừa các nhận định về nguồn gốc và hình thức nghệ thuật, đồng thời khắc phục hạn chế của các công trình trước (vốn chỉ dừng lại ở khảo tả kịch bản hoặc phân tích chung về tín ngưỡng) bằng việc đặt trọng tâm nghiên cứu vào con người thực hành — các bà bóng với tư cách là chủ thể văn hóa, làm rõ lịch sử cuộc đời, tính chất nghề nghiệp, chiến lược mưu sinh và năng lực tự quyết trong bối cảnh xã hội chuyển đổi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm thao tác
- Quan điểm tiếp cận: Tiếp cận liên ngành Nhân học và Nghiên cứu văn hóa. Luận án quán triệt nguyên tắc nhìn nhận hiện tượng văn hóa trong chính bối cảnh của nó, diễn giải từ điểm nhìn của người trong cuộc (emic), không định kiến đúng/sai, cao/thấp, lạc hậu/tiến bộ.
- Lý thuyết về Chủ thể tự quyết (Agency): Dựa trên tiến trình phát triển từ Immanuel Kant đến Pierre Bourdieu. Luận án vận dụng quan điểm của Bourdieu về mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc xã hội và hành động cá nhân: cấu trúc tác động đến hành vi, nhưng con người không thụ động mà có chiến lược ứng phó thực tiễn (practical strategy), tái cấu trúc xã hội bằng vốn văn hóa và kinh nghiệm cá nhân. Tác giả tham chiếu nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2020) và Vũ Thị Tú Anh (2016) để luận giải việc các bà bóng chủ động chọn nghề, sáng tạo nghi thức, sân khấu hóa và định vị bản thân chứ không đơn thuần chịu sự chi phối thụ động từ hoàn cảnh.
- Khái niệm "Bóng" và "Bà bóng": Luận án tổng hợp 4 cách hiểu trong giới nghiên cứu và dân gian: (1) người lưỡng tính; (2) người sống nơi có ánh sáng, phân biệt với cõi âm; (3) nghệ nhân múa hát trong nghi lễ cúng miễu; (4) người làm nghề phù phép/múa hát theo ghi nhận của Huình Tịnh Của (Đại Nam quấc âm tự vị). Luận án phân biệt rõ ba dạng thức: bóng tuồng (diễn xướng, tạp kỹ), bóng rí và bóng xác; đối tượng nghiên cứu tập trung là bóng tuồng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính và điền dã dân tộc học:
- Quan sát tham dự: Tiến hành tập trung vào tháng Chạp và 3 tháng đầu năm Âm lịch (mùa cao điểm cúng lễ) tại các lễ cúng tạ trang tư gia, lễ vía Bà tại miễu, các hội thi/liên hoan diễn xướng dân gian và các buổi sinh hoạt nội bộ của nhóm bóng.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 6 bà bóng là đối tượng nghiên cứu chính; người thân gia đình (cha mẹ, vợ, con, thầy dạy nghề); đối tác nghề nghiệp (ban quản trị đình/miễu, chủ tư gia); người dân tham dự lễ cúng (5 đến 7 người tại mỗi điểm khảo sát); cùng một số người thực hành khác tại TP. Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bình Dương, Đồng Nai, Bến Tre, Đồng Tháp. Dữ liệu phỏng vấn được gỡ băng và lập thành Nhật ký thực địa.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác tài liệu lưu trữ, văn bản Hán Nôm, sách nghiên cứu địa chí, các văn bản quy phạm pháp luật, cùng các bản chép tay bài bản rỗi và tư liệu truyền nghề do các nghệ nhân lưu giữ.
- Phương pháp lịch sử cuộc đời (Life history): Tái hiện tiểu sử cá nhân của 6 đối tượng chính qua quá trình theo chân điền dã hơn 10 năm, làm sáng tỏ căn duyên nghề nghiệp, quá trình tập luyện gian khổ, trải nghiệm mưu sinh và các mối quan hệ xã hội của họ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương này thực hiện tổng quan có hệ thống các công trình trong và ngoài nước liên quan đến múa bóng rỗi, bà bóng, người thực hành tôn giáo tín ngưỡng và phương pháp lịch sử cuộc đời; đồng thời xác lập khung lý thuyết chủ thể tự quyết (Agency) và làm rõ các khái niệm công cụ.
Về địa bàn nghiên cứu, tác giả phác thảo bức tranh tự nhiên - xã hội vùng đất Nam Bộ (gồm miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ). Dựa trên tư liệu của Nguyễn Chí Bền và các nhà nghiên cứu lịch sử, luận án chỉ ra 4 lớp cư dân Việt di cư đến vùng đất này:
- Lưu dân khai phá tránh chiến tranh Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII) cùng những người khai hoang theo chính sách dinh điền của chúa Nguyễn, tù binh, binh lính lập đồn điền.
- Nông dân Bắc Bộ nghèo khổ vào làm phu đồn điền cao su thời Pháp thuộc.
- Người dân di cư từ miền Bắc và miền Trung sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954.
- Lực lượng dân cư đến định cư sau năm 1975.
Chương 1 cũng phân tích cấu trúc làng xã Nam Bộ: làng hình thành dọc theo kênh rạch hoặc trục lộ giao thông, tính chất cư trú phân tán, thiếu các thiết chế khép kín như lũy tre làng, giáp, họ ở Bắc Bộ, tạo nên tính cách cởi mở, năng động, sớm thích nghi với kinh tế hàng hóa. Đời sống tín ngưỡng Nam Bộ có tính đa dạng cao, kết hợp giữa Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng dân gian (thờ Bà Chúa Xứ, Thành hoàng, Cá Ông, Neak Tà, Thiên Hậu...), tạo môi trường dung dưỡng cho thực hành múa bóng rỗi.
Chương 2: Khái quát về thực hành múa bóng rỗi của người Việt ở Nam Bộ
Chương 2 mô tả không gian văn hóa và trình thức diễn xướng của múa bóng rỗi:
- Không gian miễu Bà: Được xem là "sân khấu" thiêng liêng của múa bóng rỗi, nơi quy tụ cộng đồng cư dân và phản ánh truyền thống thờ Mẫu/thờ Bà (Bà Chúa Xứ, Ngũ Hành Nương Nương, Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thủy Long, Bà Hỏa Tinh...).
- Nguồn gốc và trình thức: Khẳng định múa bóng rỗi có sự tiếp biến trực tiếp từ miền Trung và ảnh hưởng gián tiếp từ nghệ thuật múa Chăm. Trình tự một chương trình múa bóng rỗi tiêu biểu gồm các tiết mục: Khai tràng, Chầu mời, Thỉnh tổ, Hát bóng rỗi (hát rỗi ca ngợi công đức thánh thần, hát chúc tụng tín chủ), Múa dâng lễ vật (múa mâm vàng) và Diễn chặp Địa Nàng (trò diễn dân gian mang tính hài hước giữa chú Địa và nàng Tiên).
- Đặc điểm nghệ thuật:
- Giàu nữ tính: Thể hiện qua trang phục rực rỡ, điệu bộ, cử chỉ mềm mại, bất kể người biểu diễn là nam hay nữ.
- Trực quan sinh động: Sử dụng đạo cụ bắt mắt, màu sắc rực rỡ (áo xiêm ngũ sắc, mâm vàng kết hoa, đèn lồng).
- Kết hợp kỹ năng tạp kỹ dân gian: Thể hiện qua các màn múa thăng bằng đồ chơi (dùng miệng cắn chân bàn, dùng trán/mũi/cằm giữ cây dài đặt đĩa xoay, ve chai, xe đạp, dao kiếm...).
- Tính lưỡng hợp tâm linh và giải trí: Vừa thực hiện chức năng cúng tế tạ ơn thánh thần, vừa thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, giải tỏa căng thẳng cho người xem sau chu kỳ lao động.
- Chương này cũng phân tích nhân thân bà bóng trong mối tương quan với ba buổi thực hành nghi lễ điển hình được khảo sát tại miễu Bà.
Chương 3: Cuộc đời bà bóng: hành trình với nghề, mưu sinh và trải nghiệm sống
Dựa trên phương pháp lịch sử cuộc đời, chương 3 làm sáng tỏ đời sống nội tâm và thực tế nghề nghiệp của 6 nhân vật chính:
- Cơ duyên và học nghề: Căn nguyên đến với nghề thường xuất phát từ sự đam mê văn nghệ từ nhỏ, xu hướng tính dục đồng giới/chuyển giới, hoặc quan niệm dân gian về "căn duyên", "nghiệp vận" với Mẫu. Hành trình học nghề đòi hỏi sự khổ luyện nghiêm ngặt từ kỹ năng thanh nhạc (hát rỗi đúng làn điệu, giữ hơi), kỹ thuật vũ đạo, kỹ năng uốn dẻo - giữ thăng bằng đồ chơi, cho đến kỹ nghệ làm thủ công mâm vàng, đồ mã.
- Câu chuyện mưu sinh: Luận án chỉ ra thực tế "nghề không đủ nuôi thân". Hoạt động múa bóng mang tính thời vụ cao (cao điểm từ tháng Chạp đến hết tháng 3 Âm lịch, mùa mưa hầu như không có lịch diễn). Thu nhập từ tiền bồi dưỡng cúng miễu không ổn định, phải chia cho ban nhạc và đạo cụ. Các bà bóng phải áp dụng nhiều chiến lược duy trì: làm thêm nghề phụ (may vá, trang điểm, buôn bán nhỏ, làm mâm vàng gia công), liên kết thành các nhóm lưu động, tương trợ lẫn nhau để giữ nghề.
- Trải nghiệm sống và tổn thương: Các bà bóng thường xuyên chịu định kiến xã hội khắt khe do biểu hiện giới tính khác biệt và quá khứ bị gán nhãn mê tín dị đoan. Tác giả ghi nhận những tổn thương tâm lý, rào cản trong đời sống tình cảm cá nhân, cũng như cách ứng xử khéo léo, nhẫn nhịn của họ trong giao tiếp với tín chủ, ban quản trị miễu để được xã hội thừa nhận.
Chương 4: Bà bóng, nghề múa bóng rỗi ở Nam Bộ và những chiều tương tác
Chương này phân tích các chiều kích tương tác giữa bà bóng với môi trường văn hóa - xã hội:
- Tác động của chính sách và biến đổi nhận thức: Phân tích sự chuyển dịch từ giai đoạn bài trừ sang giai đoạn bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể theo tinh thần đường lối của Đảng; sự công nhận danh hiệu Nghệ nhân ưu tú giúp nâng cao vị thế xã hội của bà bóng.
- Tính chủ động và sự xác lập đẳng cấp: Trở thành bà bóng không hoàn toàn do số phận áp đặt mà là sự chủ động lựa chọn để được sống thật với bản dạng giới và khẳng định năng lực cá nhân. Luận án phân tích cách thức bà bóng xây dựng thương hiệu cá nhân, tạo dựng uy tín ("đẳng cấp") bằng tài năng diễn xướng điêu luyện và đạo đức làm nghề.
- Đóng góp của bà bóng đối với nghề:
- Người "giữ ngọc": Bảo tồn các bài bản rỗi cổ, lưu giữ kho tàng văn học dân gian truyền khẩu.
- Chủ thể "sân khấu hóa": Đưa múa bóng rỗi ra khỏi không gian miễu để tham gia các hội đồng diễn, liên hoan nghệ thuật quần chúng.
- Chủ thể tạo tính "hiện đại": Cải tiến trang phục, bổ sung âm nhạc mới, sáng tạo đạo cụ biểu diễn đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ đương đại.
- Chủ thể lan tỏa văn hóa: Góp phần quảng bá nét đẹp văn hóa dân gian Nam Bộ đến với các tầng lớp nhân dân và du khách.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án bổ sung và làm sâu sắc thêm việc vận dụng lý thuyết Chủ thể tự quyết (Agency) trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian tại Việt Nam; chứng minh rằng những người thực hành tín ngưỡng thuộc nhóm yếu thế về giới và xã hội có năng lực chủ động thích nghi, sáng tạo và định hình lại cấu trúc văn hóa địa phương.
- Cung cấp một khung phân tích toàn diện, hệ thống về mối quan hệ giữa bản dạng giới, căn duyên tâm linh và nghề nghiệp diễn xướng dân gian.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bộ tư liệu điền dã dân tộc học phong phú, ghi chép chân thực lịch sử cuộc đời của hai thế hệ nghệ nhân bóng rỗi tại Nam Bộ, bao gồm lời ca bài rỗi truyền khẩu và kỹ thuật trình diễn.
- Đem lại cái nhìn khách quan, khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và tôn giáo, giúp xóa bỏ định kiến xã hội đối với người thực hành múa bóng rỗi.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cơ quan quản lý văn hóa các cấp cần tiếp tục thực hiện công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học để đề nghị công nhận Múa bóng rỗi Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- Hoàn thiện chính sách đãi ngộ, xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú cho các nghệ nhân bóng rỗi có nhiều cống hiến; hỗ trợ bảo hiểm y tế và điều kiện sinh hoạt cho nghệ nhân cao tuổi.
- Tạo không gian diễn xướng lành mạnh tại các lễ hội truyền thống, hội diễn văn hóa quần chúng; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, phân biệt rõ giữa nghệ thuật diễn xướng dân gian và các hành vi lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát sâu trên 6 trường hợp nghiên cứu chính (đều thuộc dạng thức bóng tuồng) tại 4 tỉnh, thành phố (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Tiền Giang). Do tính chất đa dạng của các tiểu vùng văn hóa Nam Bộ, các phát hiện này chưa bao quát toàn bộ đặc điểm của người thực hành bóng rí, bóng xác hoặc các nhóm bóng tại các tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau và biên giới Tây Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các tiểu vùng văn hóa Tây Nam Bộ khác (An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh) để so sánh tính dị biệt vùng miền.
- Đi sâu nghiên cứu hai dạng thức còn lại là bóng rí và bóng xác trong mối liên hệ với nghi lễ chữa bệnh dân gian và ma thuật nguyên thủy.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học văn hóa, đặc biệt về phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời và kỹ thuật điền dã dân tộc học.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp tư liệu thực chứng về tín ngưỡng thờ Mẫu Nam Bộ, nghệ thuật diễn xướng dân gian và vấn đề giới trong thực hành nghi lễ.
- Đối với nhà quản lý văn hóa và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy chế quản lý lễ hội, chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân dân gian.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả sử dụng danh xưng "bà bóng" thay vì "ông bà bóng" xuyên suốt luận án?
Tác giả lý giải rằng dù người thực hành là nam hay nữ (trong thực tế nam giới chiếm số lượng nhiều hơn), khi bước vào không gian thiêng của miễu Bà để làm người hầu cận, họ đều bộc lộ tính nữ nổi trội qua trang phục, cử chỉ và giọng điệu. Trong đời thường và nghi lễ, người dân đều gọi họ là "bà bóng/cô bóng" và chính họ cũng tự xưng là "cô/bà/em". Việc sử dụng thuật ngữ "bà bóng" nhằm thể hiện sự tôn trọng quan điểm và tiếng nói của chính người trong cuộc (emic perspective).
2. Sáu trường hợp nghiên cứu chính trong luận án được lựa chọn dựa trên tiêu chí nào?
Sáu người thực hành được lựa chọn dựa trên 3 tiêu chí: (1) Thuộc dạng thức bóng tuồng; (2) Có quá trình gắn bó, tương tác điền dã liên tục với tác giả trong hơn 10 năm (từ 2012 đến 2023); (3) Đại diện cho hai thế hệ làm nghề (thế hệ trẻ từ 26-34 tuổi và thế hệ lớn tuổi từ 40 đến trên 60 tuổi), trong đó có 3 cá nhân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.
3. Nguồn gốc của múa bóng rỗi Nam Bộ được xác định như thế nào trong luận án?
Dựa trên sự kế thừa nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng và các sử liệu, luận án xác định múa bóng rỗi Nam Bộ có nguồn gốc trực tiếp từ múa bóng vùng cực Nam Trung Bộ của người Việt và có nguồn gốc gián tiếp từ múa nghi lễ của người Chăm. Quá trình di cư và cộng cư tại Nam Bộ đã giúp loại hình này tiếp biến thêm các yếu tố diễn xướng tuồng và nghệ thuật tạp kỹ dân gian.
4. Bốn đặc trưng cơ bản của nghệ thuật múa bóng rỗi được điểm luận là gì?
Kế thừa công trình của Mai Mỹ Duyên, luận án chỉ ra 4 đặc trưng: (1) Yếu tố giới (tính nữ nổi trội); (2) Tính trực cảm (đạo cụ rực rỡ, động tác trực quan); (3) Tính nhân sinh (gắn liền với đời sống lao động, cầu mong bình an, tài lộc); (4) Tính chuyên nghiệp (yêu cầu kỹ thuật cao về giọng rỗi, múa dâng lễ và tạp kỹ thăng bằng đồ chơi).
5. Chiến lược duy trì nghề nghiệp của các bà bóng trước khó khăn kinh tế là gì?
Do nghề múa bóng mang tính thời vụ cao và tiền bồi dưỡng không đủ trang trải cuộc sống quanh năm ("nghề không đủ nuôi thân"), các bà bóng áp dụng các chiến lược: làm thêm nghề phụ (trang điểm, may vá, gia công mâm vàng, buôn bán), thành lập nhóm bóng lưu động để chia sẻ sô diễn, chủ động cải tiến tiết mục và ứng dụng mạng xã hội để quảng bá nghề.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thanh Tuấn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các chủ thể thực hành múa bóng rỗi trong tín ngưỡng thờ Bà ở Nam Bộ từ góc độ Văn hóa học và Nhân học. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học và lịch sử cuộc đời trên sáu trường hợp nghệ nhân tiêu biểu, luận án đã làm rõ căn duyên, quá trình học nghề, hoạt động mưu sinh và trải nghiệm sống của các bà bóng. Công trình khẳng định vai trò chủ thể tự quyết của người thực hành trong việc bảo tồn, sân khấu hóa và thích ứng di sản diễn xướng dân gian trước những biến đổi của xã hội đương đại. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho việc hoạch định chính sách văn hóa và bảo tồn di sản phi vật thể tại Nam Bộ.