Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật Âm nhạc với đề tài "Điệu thức năm âm trong dân ca người Việt" do nghiên cứu sinh Lê Anh Tuấn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Minh Khang, chuyên ngành Lý luận âm nhạc (Mã số: 62 21 02 01), bảo vệ tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 2012.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Điệu thức năm âm (pentatonic mode) giữ vai trò là nền tảng cốt lõi trong sự hình thành và phát triển của các thể loại âm nhạc dân gian cũng như âm nhạc chuyên nghiệp truyền thống của người Việt. Giá trị của hệ thống điệu thức này không chỉ dừng lại ở phương diện thực hành diễn tấu mà còn bao hàm hệ thống lý luận về thẩm mỹ, tính dân tộc và phương thức biểu hiện nghệ thuật. Về mặt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã trải qua giai đoạn nghìn năm Bắc thuộc với ba thời kỳ chính (111 TCN - 39 SCN thời Tây Hán; 43 - 544 thời Đông Hán; 603 - 939 thời Tùy - Đường) và một trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Trong tiến trình lịch sử đó, việc tiếp thu và tiếp biến văn hóa (acculturation) đã diễn ra liên tục qua ba thời đại văn hóa: Đông Sơn, Đại Việt và Hồ Chí Minh.

Mặc dù điệu thức năm âm đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, song việc hệ thống hóa một cách toàn diện các quan niệm lý thuyết, đồng thời xác lập các nguyên lý cấu trúc trục âm, âm kết và phân loại các dạng điệu thức trên một diện rộng các bài bản dân ca người Việt ba miền Bắc - Trung - Nam, cũng như khảo sát sự phát triển của chúng trong âm nhạc mới vẫn là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết tường minh.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Góp phần làm rõ thêm những quan niệm về sự hình thành và phát triển điệu thức năm âm của các nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam.
  2. Nghiên cứu cấu trúc các trục âm và những âm kết của điệu thức năm âm trong dân ca người Việt.
  3. Nghiên cứu một số dạng điệu thức năm âm trong cấu trúc làn điệu dân ca người Việt và trong các chủ đề của âm nhạc mới như ca khúc, thính phòng giao hưởng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống điệu thức năm âm trong các làn điệu dân ca của người Việt (dân tộc Kinh, một trong 54 thành phần dân tộc của Việt Nam) và sự vận dụng trong các chủ đề âm nhạc mới.
  • Phạm vi tư liệu và không gian: Khảo sát 125 bài dân ca người Việt thuộc nhiều thể loại khác nhau, đại diện cho ba vùng miền: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Toàn bộ các bài dân ca này đều được trích xuất từ các tuyển tập, công trình nghiên cứu đã được các nhà xuất bản tại Việt Nam ấn hành chính thức.
  • Tiêu chí chọn lọc mẫu: Luận án loại bỏ các bài dân ca chỉ có cấu trúc 3 âm hoặc 4 âm; loại bỏ các bài không đủ độ tin cậy về mặt sưu tầm, ký âm; đồng thời không đưa các bài thuộc dạng dân ca cải biên vào diện phân tích để đảm bảo tính nguyên bản của thang âm điệu thức cổ truyền.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành khảo cứu và tổng hợp lịch sử nghiên cứu điệu thức năm âm qua hai khối tư liệu học thuật chính:

Khối nghiên cứu quốc tế

  • Trường phái Nga và Liên Xô cũ:
    • R.I. Gruber (1960) trong Tổng quát lịch sử âm nhạc thế giới (Tập 1) xác định điệu thức ngũ cung hình thành trong lý thuyết âm nhạc Trung Hoa từ khoảng thế kỷ thứ IV trước Công nguyên.
    • V.M. Đônzanxki (1952) trong Từ điển âm nhạc định nghĩa điệu thức năm âm dựa trên cấu trúc các quãng hai trưởng và ba thứ.
    • I. Kendus (1978) trong Từ điển bách khoa toàn thư về Âm nhạc (Tập IV) phân loại điệu thức năm âm thành 4 nhóm: không có nửa cung (điệu thức đúng), có nửa cung, hỗn hợp và bình quân.
    • A.S. Ogôleves (1894-1967) gọi điệu thức không có nửa cung là "điệu thức tự nhiên".
    • G. Katua (1861-1926) dùng thuật ngữ "điệu thức trong suốt".
    • A. Kaxtanxki (1856-1926) xác lập khái niệm "điệu thức của những chuỗi ba âm" (tricorde).
    • P. Xôcanxki (1832-1887) phân tích các giai đoạn phát triển qua khái niệm "thời đại quãng bốn" ($c-f-g-c$) và "thời đại quãng năm" (chuỗi bốn âm tetracorde).
    • F. Rubxôp (1962) nhấn mạnh thang âm là sự trừu tượng hóa từ đường nét giai điệu và liên hệ chặt chẽ với ngữ điệu tiếng nói.
    • N. Gacbudop (1880-1955) chứng minh cơ sở âm thanh học của điệu thức năm âm thông qua sự kết hợp của các tricorde gồm một quãng hai trưởng và một quãng ba thứ.
    • Ia. Grisman (1960), H. Riemann, I.V. Xpaxobin (1952) và I. Chiu lin (1966) nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của điệu thức năm âm trong nhạc dân gian Nga và phương Tây.
  • Nghiên cứu tại các quốc gia phương Đông:
    • Kiều Kiến Trung cùng nhóm tác giả (2002) trong Âm nhạc Trung Quốc phân tích hệ thống Luật Lữ, ngũ cung (Cung, Thương, Giốc, Trủy, Vũ) gắn với thuyết Ngũ hành và mười hai chi/tháng.
    • Sangal Amiyanath (1959) và B. Vinagrađôp (1976) phân tích hệ thống thang âm Raga của Ấn Độ dựa trên 22 đơn vị vi âm (sruti / cronti) và cấu trúc 7 bậc: Sa, Ri, Ga, Ma, Pa, Dha, Ni.
    • Sanzo-Xotaro (1935), Katsumi Sunega và Xixayri (1975) khảo sát 5 loại điệu thức năm âm và 6 thang âm trong Nhã nhạc Cung đình Gagaku Nhật Bản (Itikosy, Kozo, Taixikito, Khozo, Banxikito, Oxikito).
    • Lykhegu (1957) giới thiệu các điệu thức trong Nhã nhạc và dân ca Triều Tiên.
    • M. Bukofzer (1939) và M. Hood (1954) nghiên cứu hệ thống thang âm năm âm bình quân Slendro và thang âm 7 âm Pelog của âm nhạc Indonesia (Java, Bali).

Khối nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nguyễn Thụy Loan (1978) với công trình Thử dẫn giải về một lý thuyết điệu thức của người Việt qua bài bản tài tử cải lương trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật (số 5, 6/1978), làm sáng tỏ tính đối xứng và tuần hoàn của hai chuỗi ba âm (tricorde).
  • Nguyễn Xinh (1978) trong bài viết Về điệu thức dân ca Việt Nam (Tạp chí Âm nhạc số 2/1978) chỉ ra mối liên hệ giữa 6 thanh điệu tiếng Việt với việc hình thành trục quãng 4 làm điểm tựa điệu thức.
  • Nguyễn Đăng Hòe (1979) trong Bước đầu tìm hiểu hát Ghẹo Vĩnh Phúc hệ thống hóa 5 kiểu gam 5 nốt tương ứng với các điệu Cung, Trủy, điệu có Biến cung, điệu Oán và điệu Nam/Vũ.
  • Tú Ngọc (1981, 1994) qua các công trình Bước đầu tìm hiểu hát Xoan Vĩnh Phúc và cuốn sách Dân ca người Việt (Chương VII) nghiên cứu thang âm không bán âm và vai trò của thang âm điệu thức trong việc phân định các tầng dân ca.
  • Phạm Minh Khang (1984, 1985, 2003, 2004) với các công trình tại Liên Xô (1984, 1985) và bài báo Về thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống Việt Nam (2004) khảo sát mối quan hệ giữa âm nhạc Lâm Ấp - Phù Nam, thang âm Ấn Độ và điệu Oán, phân tích các trục quãng và biên độ xê dịch của các bậc âm.
  • Nhóm tác giả Tô Vũ, Lư Nhất Vũ, Thế Bảo, Nguyễn Văn Hoa, Kiều Tấn, Vũ Hồng Thịnh, Bùi Lẫm (1993) trong Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền nam Việt Nam khảo sát thang âm của người Việt, Chăm, Khmer, Xtiêng và đàn đá.
  • Đào Việt Hưng (1999) nghiên cứu thang 4 âm, 5 âm và sự giao thoa điệu thức trong dân ca Bắc Trung Bộ.
  • Vũ Nhật Thăng (1998) trong Thang âm nhạc Cải lương - Tài Tử ứng dụng phương pháp toán học và âm thanh học bồi âm để xác định các bậc thang âm.
  • Hoàng Thọ, Thanh Lựu, Lê Hàm (2000) trong Âm nhạc dân gian Xứ Nghệ phân tích thang âm 3, 4, 5 âm trong dân ca Nghệ Tĩnh.
  • Nguyễn Trọng Ánh (2000) trong Âm nhạc Quan Họ phân loại 4 dạng điệu thức chính (tương ứng Cung, Thương, Trủy, Vũ) và các dạng điệu Oán.
  • Hoàng Kiều (2001) trong Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền gắn năm điệu thức với triết lý Ngũ hành (Cung Huỳnh - Hỏa, Cung Nao - Kim, Cung Pha - Mộc, Cung Bắc - Thổ, Cung Nam - Thủy), tương đồng với cách gọi truyền khẩu của NSND Vũ Tuấn Đức (Huỳnh: Đô, Nao: Rê, Pha: Mi, Bắc: Son, Nam: La).
  • Hoàng Đạm (2003) trong Hòa tấu biến hóa lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt đưa ra khái niệm cấu trúc "khép kín" và "mở rộng" của điệu thức Oán.

Khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa các quan điểm trên, luận án tập trung làm sáng tỏ cơ chế vận hành thực tế của trục âm, phân định rành mạch các loại âm kết (ổn định, nửa ổn định, không ổn định), đồng thời kiểm chứng trên tập mẫu thống kê 125 bài dân ca người Việt thuộc ba miền và chỉ ra sự tiếp nối của các dạng điệu thức này trong nền âm nhạc mới Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

  1. Lý thuyết cấu trúc chuỗi ba âm (Tricorde) và chuỗi bốn âm (Tetracorde): Thang năm âm hình thành từ sự liên kết các chuỗi ba âm đối xứng gồm quãng hai trưởng và quãng ba thứ, hoặc sự mở rộng các trục quãng 4 đúng và quãng 5 đúng.
  2. Khái niệm trục âm và chức năng các bậc âm:
    • Trục âm: Được tạo thành từ một hoặc hai âm cơ bản đóng vai trò làm điểm tựa vững chắc cho tuyến giai điệu vận động.
    • Âm ổn định (Âm chủ): Là âm tựa chính của trục âm, nơi giai điệu thường ngưng nghỉ, nhấn mạnh hoặc kết thúc. Trong trục quãng 4, âm ổn định nằm ở trên (âm ngọn); trong trục quãng 5, âm ổn định nằm ở dưới (âm gốc).
    • Âm nửa ổn định: Là âm tựa phụ thuộc trục âm (âm gốc của trục quãng 4 hoặc âm ngọn của trục quãng 5).
    • Âm không ổn định: Các âm nằm ngoài trục âm, có xu hướng vận động hút về các âm ổn định hoặc nửa ổn định.
  3. Phân loại âm kết trong làn điệu:
    • Âm kết ổn định: Kết thúc bài đúng vào âm tựa chính (âm chủ).
    • Âm kết nửa ổn định: Kết thúc ở âm tựa phụ của trục âm.
    • Âm kết không ổn định: Kết thúc ở một âm nằm ngoài cấu trúc trục âm (thường xuất hiện ở một số thể loại đặc thù như Hát ru, Ví).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ cấu trúc giai điệu, bước đi của các quãng, vị trí các phách mạnh/nhẹ và hướng tiến hành tuyến âm thanh trong từng bài dân ca cụ thể.
  • Phương pháp chứng minh: Dẫn giải các dẫn chứng thực tế từ bản phổ ký âm để xác thực các luận điểm lý thuyết về trục âm và điệu thức.
  • Phương pháp thống kê: Phân loại, lập bảng biểu định lượng về số lượng âm, trục âm, dạng âm kết trên tập mẫu 125 bài dân ca ba miền.
  • Phương pháp tổng hợp: Quy nạp các đặc điểm cấu trúc riêng lẻ thành các mô hình điệu thức năm âm mang tính quy luật của dân ca người Việt.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu gồm 125 bản ký âm bài bản dân ca người Việt chuẩn xác được lựa chọn từ các công trình nghiên cứu, chuyên khảo và tuyển tập âm nhạc dân gian đã xuất bản tại Việt Nam, kết hợp cùng các tổng phổ tác phẩm thanh nhạc, khí nhạc, thính phòng và giao hưởng Việt Nam thế kỷ XX - XXI.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về sự hình thành và phát triển điệu thức năm âm

Chương I tập trung hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về điệu thức năm âm trên thế giới và tại Việt Nam, thiết lập nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án.

Tác giả phân tích nguồn gốc hình thành thang năm âm từ các quãng tự nhiên sơ khai (quãng bốn đúng, quãng năm đúng, quãng tám đúng) phù hợp với cơ quan phát thanh và ngữ điệu tiếng nói con người thời cổ đại. Luận án phân tích chi tiết hệ thống lý thuyết âm nhạc cổ đại Trung Hoa với hệ thống 12 Luật Lữ tương ứng với 12 tháng và 12 địa chi:

Luật Lữ Tên Âm Tháng Địa Chi
Hoàng Chung Cung 11 Tý
Đại Lữ - 12 Sửu
Thái Thốc Thương 1 Dần
Giáp Chung - 2 Mão
Cổ Tẩy Giốc 3 Thìn
Trọng Lữ - 4 Tỵ
Nhụy Tân Biến Trủy 5 Ngọ
Lâm Chung Trủy 6 Mùi
Di Tắc - 7 Thân
Nam Lữ Vũ 8 Dậu
Vô Xạ - 9 Tuất
Ứng Chung Biến Cung 10 Hợi

Đối với âm nhạc truyền thống Ấn Độ, luận án phân tích thang âm 7 bậc trong hệ thống Raga dựa trên 22 đơn vị vi âm (sruti / cronti), đồng thời thiết lập mối tương quan so sánh với hệ thống ngũ cung và hai biến âm của phương Đông:

Bậc âm Ấn Độ Đơn vị Cronti Tương ứng hệ thống Trung Hoa
Sa 4 cronti Cung
Ri 3 cronti Thương
Ga 2 cronti Giốc
Ma 4 cronti Biến Trủy
Pa 4 cronti Trủy
Dha 3 cronti Vũ
Ni 2 cronti Biến Cung

Chương này cũng tổng thuật các thang âm trong Nhã nhạc Cung đình Gagaku Nhật Bản (6 thang âm), âm nhạc Triều Tiên, các thang âm Slendro và Pelog của Indonesia. Đồng thời, tác giả khẳng định tính độc lập, phi phái sinh của điệu thức năm âm trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, bác bỏ quan điểm xem điệu thức năm âm là "thời kỳ tiền sử" hay "sự thiếu hụt" của điệu thức bảy âm phương Tây.

Chương II: Trục âm và những âm kết trong cấu trúc làn điệu

Chương II đi sâu vào phân tích cơ chế cấu tạo của trục âm và các dạng âm kết trên cơ sở khảo sát thực chứng 125 bài dân ca người Việt.

1. Các quy luật cấu trúc trục âm

  • Làn điệu tầm âm hẹp (trong phạm vi một quãng 8 đúng): Trục âm gồm 2 âm tựa tạo thành quan hệ quãng 4 hoặc quãng 5.
    • Trục quãng 4: Âm ngọn là âm ổn định (âm chủ), âm gốc là âm nửa ổn định. Giai điệu thường kết ở âm ngọn.
    • Trục quãng 5: Âm gốc là âm ổn định (âm chủ), âm ngọn là âm nửa ổn định. Giai điệu thường kết ở âm gốc.
  • Làn điệu mở rộng (vượt quá quãng 8 đúng): Trục âm gồm 3 âm tựa tạo thành hệ thống trục kép quãng 4 - quãng 5 hoặc quãng 5 - quãng 4.
  • Hiện tượng đa trục âm: Xuất hiện ở các tầng dân ca muộn, khi làn điệu chuyển dịch điệu thức hoặc thay đổi chủ âm, dẫn tới việc chuyển đổi hệ thống âm tựa trong cùng một bài bản.

2. Kết quả phân tích các bài bản dân ca tiêu biểu theo vùng miền

Vùng miền Tên bài dân ca Thể loại / Xuất xứ Cấu trúc trục âm Âm kết bài Tính chất âm kết
Bắc Bộ Cơm vàng Quan họ Bắc Ninh Quãng 4 ($D - G$) $Sol$ Âm kết ổn định
Bắc Bộ Hỡi anh xinh Hát Dậm Hà Nam Quãng 4 ($A - D$) $La$ Âm kết nửa ổn định
Bắc Bộ Hoa thơm Dân ca Bắc Bộ Quãng 5 ($E - B$) $Mi$ Âm kết ổn định
Bắc Bộ Giáo trống Dân ca Bắc Bộ Quãng 4 ($E - A$) $La$ Âm kết ổn định
Bắc Bộ Làm dàn Dân ca Bắc Bộ Quãng 4 ($G - C$) $Sol$ Âm kết nửa ổn định
Bắc Bộ Hái hoa Dân ca Bắc Bộ Quãng 5 ($G - D$) $Sol$ Âm kết ổn định
Trung Bộ Hò cập bến Hò Thanh - Nghệ - Tĩnh Quãng 4 / Quãng 5 Ổn định Âm kết ổn định
Trung Bộ Nhổ mạ Múa đèn Đông Anh (Thanh Hóa) Quãng 4 ($D - G$) $R\hat{e}$ Âm kết nửa ổn định
Trung Bộ Ví phường cấy Hát Ví Hà Tĩnh Quãng 4 ($A - D$) $R\hat{e}$ Âm kết ổn định
Trung Bộ Ví phường vải Hát Ví Hà Tĩnh Quãng 4 ($E - A$) $R\hat{e}$ Âm kết không ổn định
Trung Bộ Ví đò đưa sông Lam Hát Ví Nghệ Tĩnh Quãng 4 ($E - A$) $D\hat{o}$ Âm kết không ổn định
Trung Bộ Chuồn chuồn Dân ca Trung Bộ Quãng 4 $Sol$ Âm kết ổn định
Trung Bộ Ru em Hát ru Trung Bộ Quãng 4 $R\hat{e}$ Âm kết nửa ổn định
Nam Bộ Lý ngựa ô (bài 2) Lý Nam Bộ Quãng 4 ($C - F$) $Fa$ Âm kết ổn định
Nam Bộ Hát đưa em (bài 1) Hát ru Nam Bộ Quãng 5 ($D - A$) $Sol$ Âm kết không ổn định
Nam Bộ Bắc Kim thang Dân ca Nam Bộ Quãng 4 ($D - G$) $Sol$ Âm kết ổn định
Nam Bộ Con chim manh manh Dân ca Nam Bộ Quãng 4 ($E - A$) $La$ Âm kết ổn định
Nam Bộ Hát đưa em (bài 2) Hát ru Nam Bộ Quãng 5 ($D - A$) $Sol$ Âm kết không ổn định

Đặc điểm riêng biệt của thể loại Ví miền Trung: Tuyến giai điệu vận động xoay quanh trục quãng 4 gồm hai âm tựa kết hợp với một âm ở quãng ba thứ cao hơn âm chủ; các bậc âm còn lại chỉ xuất hiện rất ít ở phách yếu dưới dạng âm thêu hoặc âm lướt (ví dụ trong bài Ví phường vải, âm $Sol$ chỉ xuất hiện 1 lần; bài Ví đò đưa sông Lam, âm $Sol$ xuất hiện 3 lần, âm $R\hat{e}$ xuất hiện 2 lần dạng âm thêu).

Chương III: Một số dạng điệu thức năm âm trong cấu trúc làn điệu

Chương III phân loại và mô tả chi tiết các mô hình điệu thức năm âm xuất hiện trong cấu trúc làn điệu dân ca người Việt. Dựa trên tương quan cao độ giữa các bậc âm và vị trí của các quãng ba thứ trong hàng âm, tác giả xác định các dạng điệu thức năm âm không có nửa cung điển hình và các biến thể điệu thức có yếu tố bán âm hoặc biến âm gắn liền với đặc trưng phương ngữ và phong cách biểu hiện âm nhạc của từng vùng miền văn hóa.

Chương IV: Một số dạng điệu thức năm âm trong cấu trúc chủ đề âm nhạc mới Việt Nam

Chương IV khảo sát phương thức kế thừa và phát triển của điệu thức năm âm trong nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam thế kỷ XX và XXI. Tác giả phân tích sự chuyển hóa của các thang năm âm dân gian khi đi vào cấu trúc chủ đề của các tác phẩm âm nhạc mới ở hai lĩnh vực:

  • Thể loại ca khúc: Sự kết hợp giữa điệu thức năm âm với tư duy hòa thanh hiện đại, kỹ thuật chuyển điệu thức và mở rộng hàng âm.
  • Thể loại khí nhạc, thính phòng và giao hưởng: Sử dụng thang âm năm âm làm chất liệu chủ đề cho các hình thức phức điệu, biến tấu và cấu trúc sonata, tạo nên ngôn ngữ âm nhạc dân tộc đương đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về sự hình thành và phát triển của điệu thức năm âm từ các trường phái âm nhạc học quốc tế (Nga, Xô Viết, châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Indonesia) và các học giả Việt Nam.
  2. Xác lập hệ thống khái niệm chuẩn xác về cơ chế vận hành của trục âm (trục đơn quãng 4, quãng 5; trục kép quãng 4-5, 5-4) và chức năng của các bậc âm (ổn định, nửa ổn định, không ổn định) trong cấu trúc làn điệu dân ca người Việt.
  3. Làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa ngữ điệu tiếng nói (thanh điệu tiếng Việt) với việc định hình các trục quãng và sự hút dẫn điệu thức.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp kết quả khảo sát thống kê, phân tích cấu trúc trên tập mẫu 125 bài dân ca người Việt đại diện ba miền Bắc, Trung, Nam, xác định rõ các dạng trục âm và quy luật phân bố âm kết.
  2. Chỉ ra các nét đặc thù về điệu thức của từng thể loại (Quan họ, Hát Dậm, Hát Ví, Hát Ru, Lý...) và từng vùng miền văn hóa.
  3. Chứng minh tính kế thừa liên tục và sự phát triển của điệu thức năm âm trong cấu trúc chủ đề của các tác phẩm ca khúc, khí nhạc và giao hưởng thính phòng Việt Nam hiện đại.

Kiến nghị và đề xuất

  • Ứng dụng các kết quả nghiên cứu về trục âm và điệu thức năm âm vào công tác giảng dạy lý thuyết âm nhạc truyền thống tại các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.
  • Khuyến khích các nhạc sĩ khai thác cấu trúc trục âm và thang năm âm cổ truyền để phát triển các thủ pháp sáng tác khí nhạc, giao hưởng mang bản sắc dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào dân tộc Việt (Kinh) trên địa bàn ba miền Bắc, Trung, Nam; chưa bao quát toàn diện hệ thống thang âm điệu thức của 53 dân tộc thiểu số khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các bài dân ca cấu trúc 3 âm, 4 âm và các bản ghi âm/ký âm chưa được thẩm định chắc chắn đã bị loại khỏi mẫu khảo sát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang hệ thống thang âm, điệu thức của các dân tộc thiểu số tại vùng Tây Bắc, Việt Bắc và Tây Nguyên.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về các dạng "điệu thức năm âm hỗn hợp" và các kỹ thuật phối khí, hòa âm dành riêng cho hệ thống điệu thức ngũ cung trong âm nhạc giao hưởng đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Âm nhạc học, Lý luận âm nhạc, Sáng tác: Tham khảo khung lý thuyết phân tích trục âm, thang âm điệu thức dân gian và kỹ thuật phân tích làn điệu.
  • Giảng viên tại các học viện âm nhạc, trường đại học văn hóa nghệ thuật: Sử dụng làm giáo trình tham khảo giảng dạy các học phần Âm nhạc dân gian Việt Nam, Phân tích tác phẩm và Lý thuyết âm nhạc cơ bản.
  • Nhạc sĩ sáng tác: Khai thác các mô hình trục âm và cấu trúc điệu thức năm âm làm chất liệu phát triển chủ đề cho các tác phẩm thanh nhạc, khí nhạc và thính phòng giao hưởng.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên lý xác định âm ổn định và âm nửa ổn định trong trục quãng 4 và trục quãng 5 được luận án quy định như thế nào?

Trong cấu trúc trục âm của dân ca người Việt:

  • Đối với trục quãng 4: Âm ngọn (ở trên) là âm ổn định chính (âm chủ), âm gốc (ở dưới) là âm nửa ổn định. Tuyến giai điệu thường kết thúc ở âm ngọn.
  • Đối với trục quãng 5: Âm gốc (ở dưới) là âm ổn định chính (âm chủ), âm ngọn (ở trên) là âm nửa ổn định. Tuyến giai điệu thường kết thúc ở âm gốc.

2. Âm kết trong cấu trúc làn điệu dân ca người Việt được phân loại thành những dạng nào?

Luận án phân loại âm kết thành ba dạng rõ rệt:

  • Âm kết ổn định: Kết thúc tại âm tựa chính (âm chủ) của trục âm.
  • Âm kết nửa ổn định: Kết thúc tại âm tựa phụ thuộc trục âm (không phải âm chủ).
  • Âm kết không ổn định: Kết thúc tại một âm nằm ngoài thành phần trục âm (thường xuất hiện ở các bài hát ru hoặc hát ví do tính chất lướt của giai điệu).

3. Thể loại hát Ví ở miền Trung có đặc điểm gì nổi bật về cấu trúc trục âm và tuyến giai điệu?

Trong thể loại hát Ví (như Ví phường cấy, Ví phường vải, Ví đò đưa sông Lam), giai điệu vận động xoay quanh một trục quãng 4 gồm hai âm tựa kết hợp với một âm ở quãng ba thứ cao hơn âm chủ. Các bậc âm còn lại xuất hiện rất ít ở các phách nhẹ đóng vai trò là âm thêu hoặc âm lướt.

4. Bốn nhóm điệu thức năm âm theo hệ thống phân loại của I. Kendus (1978) gồm những loại nào?

Bốn nhóm điệu thức năm âm gồm:

  1. Điệu thức năm âm không có nửa cung (điệu thức đúng).
  2. Điệu thức năm âm có nửa cung.
  3. Điệu thức năm âm hỗn hợp.
  4. Điệu thức năm âm bình quân (chia đều quãng tám, ví dụ thang âm Slendro của Indonesia).

5. Tiêu chuẩn lựa chọn và sàng lọc 125 bài dân ca làm mẫu nghiên cứu của luận án là gì?

Các bài dân ca được chọn phải là bài của người Việt thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam đã được xuất bản chính thức. Tác giả sàng lọc loại bỏ các bài có cấu trúc 3 âm hoặc 4 âm, loại bỏ các bài ký âm thiếu độ tin cậy và không đưa vào các bài dân ca đã qua cải biên.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Điệu thức năm âm trong dân ca người Việt" của Lê Anh Tuấn là công trình nghiên cứu lý luận âm nhạc có hệ thống về thang âm điệu thức cổ truyền của người Việt. Bằng việc kết hợp giữa cơ sở lý luận âm nhạc học quốc tế và thực tiễn âm nhạc bản địa, tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc trục âm, quy luật vận động của các bậc âm tựa và phân loại chính xác các dạng âm kết trên mẫu 125 bài dân ca ba miền. Công trình không chỉ khẳng định tính độc lập và bản sắc của điệu thức năm âm truyền thống mà còn chỉ ra tiềm năng phát triển của hệ thống này trong các cấu trúc chủ đề âm nhạc mới của Việt Nam.