Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Văn bản, tác giả, độc giả từ cái nhìn liên văn bản Liên văn bản (LVB - intertextuality) là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX. Theo nghĩa rộng nhất khái niệm này có thể được xác định như là “sự tương tác của các văn bản” [24,tr.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào các lập trường triết học và nghiên cứu của nhà khoa học mà nội dung cụ thể của nó có thể biến đổi Đứng ở phía là các tác giả hiểu LVB như một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn); cách hiểu như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó. Trong cách tiếp cận này không có gì mới ngoài thuật ngữ được dùng để biểu thị các hiện tượng văn học vốn cũng cổ xưa như chính văn học. Chẳng hạn, khi tìm hiểu các tác phẩm văn học ở phương Đông và phương Tây, tất yếu sẽ bộc lộ dấu vết của liên văn bản. Tác phẩm nào cũng có dáng dấp của thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, các thể loại của văn học dân gian với ý thức trong trường ngôn ngữ, tư duy bằng mã ngôn ngữ xuyên trong không gian và thời gian chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
Trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta thấy dáng dấp của thể loại sử thi, xây dựng hình tượng nhân vật điển hình về hình thức lẫn hành động, thường là những nhân vật anh hùng có ý nghĩa lịch sử đó là nhân vật Tnú. Như vậy, ý thức liên văn bản luôn sẵn có trong quá trình sáng tạo chung, hành trình sáng tác nói riêng của nhân loại, biểu hiện rất nhiều những dấu vết của các công trình quá khứ một cách rõ nét. 8 Liên văn bản là một lý thuyết văn học có phạm vi rộng lớn. Nên chính vì vậy khi nghiên cứu chúng ta chỉ tìm hiểu về một trong những khía cạnh nhỏ của liên văn bản.
Ở đây, chúng tôi tìm hiểu kĩ về khái niệm văn bản và các khái niệm khác liên quan đến văn bản như tác giả, độc giả. Ở cả phương Đông và phương Tây, văn bản được tạo nên bởi rất nhiều yếu tố, kết hợp với nhau một cách rất chặt chẽ về mặt lý luận. Vì vậy, tính liên văn bản vì vậy được hiểu là đặc tính bản thể luận của mọi văn bản. Về cơ bản, tính liên văn bản là quan hệ tương tác, các văn bản có sự “nương nhờ” lẫn nhau, được thực hiện trong tư duy hình thành nội dung văn bản của tác giả và tiếp cận, tiêu thụ văn bản của người đọc.
Nó chống lại mọi định kiến về cội nguồn, sự độc sáng, tính tự trị, tính biệt lập của các tác giả, văn bản và độc giả. Theo Bakhtin, đứng ở một khía cạnh khác, LVB được hiểu như là “thuộc tính bản thể của mọi văn bản (“bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản”, R. Barthes), tức là giữa các văn bản không có sự độc lập, không có ranh giới riêng khiến ta không thể phân biệt được các văn bản của cá nhân các tác giả, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa văn bản và độc giả, và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực”. Như vậy LVB mô tả không phải hiện tượng văn học, mà một quy luật khách quan nào đấy phụ thuộc vào sự tồn tại, tư duy phát triển của con người.
Do đã có sự xóa nhòa về ranh giới, liên văn bản cũng tạo nên sự hiện hữu, đồng hành cùng tồn tại trong các văn bản hiện thời của các văn bản truyền thống và các văn bản khác. Mặc dù các văn bản bị xóa nhòa về ranh giới nhưng nhiều loại tư tưởng khác nhau cùng tồn tại trong văn học và đặc biệt là sự đối thoại của các tư tưởng này trong văn học của các tác giả với các tư tưởng khác được khuyến khích thể hiện công khai chứ không phải là cái nhìn kín đáo, phiến diện, theo ý đồ chủ quan của tác giả nữa. Trong thực tế, một tác phẩm văn học ra đời luôn chịu sự tác động của thời đại, của nền văn hóa trong thời đại đó. Điều này lí giải cho vấn 9 đề trong cùng một thời đại mà kết cấu hay kết thúc của một số tác phẩm văn học rất giống nhau, hay cách giải quyết vấn đề của tác giả tương đối giống nhau.
Trong giai đoạn văn học hiện thực 1930-1945, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa nên các tác giả không “tìm ra lối thoát” cho các nhân vật của mình. Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố cũng có kết cục đen tối như bầu trời đêm cuối tác phẩm, Lão Hạc trong “Lão Hạc” của Nam Cao vì quá nghèo đói bần cùng nên phải kết thúc cuộc đời bằng cách ăn bả chó để chết… Như vậy, ở những tác phẩm cùng thời luôn có sự tương đồng trong cách nghĩ, cách viết của tác giả mà liên văn bản gọi đó là sự “xóa nhòa ranh giới”. Người viết - hay còn gọi là tác giả, là những người sản sinh ra văn bản và văn bản được ví như “những đứa con tinh thần” của tác giả. Về mặt hình thức, tác giả là những người tạo ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học.
Về thực chất, “tác giả là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới”[24, tr. Đây là cách định nghĩa phổ biến trong tìm hiểu văn học hiện đại. Tác giả vẫn luôn là chủ thể trực tiếp tạo nên hình thức và nội dung của tác phẩm, đó là quá trình sáng tạo riêng biệt. Tuy nhiên, dưới điểm nhìn của các nhà văn học hậu hiện đại, trong tâm thế liên văn bản thường trực, thì sự nhìn nhận về tác giả, hay người viết, cũng bao trùm những sắc thái mới.Barthes, cũng có thể xem người viết như một kẻ truyền đạt và người đọc là kẻ thụ nhận, vai trò của hai chủ thể trên là song song và không thể thay thế trong quá trình hình thành ý nghĩa văn bản.
Tác giả, được xem như “cha đẻ” của các văn bản, hình thành các quy ước ngữ nghĩa, các diễn ngôn văn hóa, các kí hiệu triết học. Trong sự xâm lấn của trào lưu và nhận thức luận hậu hiện đại, tác giả đã hoàn toàn mất đi vai trò độc tôn trong việc ấn định ý nghĩa cho văn bản. Điều này đi ngược lại quan điểm khi tìm hiểu, nghiên cứu văn bản, chỉ cần khai thác được hàm ý cụ thể của tác giả khi sáng tạo tác phẩm là sẽ phân tích được toàn bộ nội dung tác phẩm. Cụ thể hơn, chính văn bản không bị gò ép, cố định theo ý 10 niệm của tác giả, nó được thể hiện nội lực vận động theo đúng quy luật phát triển.
Bản thân nó tuân theo những quy luật tự trị và người viết chỉ là một phần trong việc quyết định và chuyển dịch ngữ nghĩa của văn bản. Hơn nữa, theo liên văn bản, một văn bản không tồn tại một tác giả cố định với một ý nghĩa được đinh sẵn mà có sự giao cắt không ngừng giữa các ranh giới và các mạng lưới văn bản từ đó đã khiến nảy sinh vô số những luồng tư tưởng của nhiều các tác giả khác nhau trong một văn bản, tức là, đọc một văn bản của một tác giả nhưng ta bắt gặp bóng dáng của rất nhiều luồng tư tưởng khác của những tác giả khác có thể không cùng thời, không cùng phong cách. Trong Công trình Lý thuyết văn chương đương đại của John Lye, cho rằng, tác giả, trong quá trình viết, luôn chịu sự tác động của bốn loại văn cảnh, tức là, nội dung và ý nghĩa của các văn bản được tạo nên không do hoàn toàn chủ quan tác giả mà bị chi phối của những yếu tố khách quan tác động. Đầu tiên, đó là văn cảnh thẩm mỹ, tức là những biểu tượng, hình ảnh liên quan về mặt hình thức, cái đẹp.
Vốn được coi là những văn cảnh nghệ thuật nói chung, với các phương tiện sáng tạo văn bản, khi tiếp cận văn bản, người đọc có thể cảm nhận được tính thẩm mỹ và phong cách thời đại mà tác giả đã kế thừa hay lựa chọn. Tiếp theo là những điều kiện văn hóa và kinh tế xã hội của việc tạo lập và tiếp nhận văn bản đó. Trong một văn bản, tất cả hình tượng, ngôn ngữ, ý nghĩa đều mang dấu ấn của văn hóa và xã hội. Với những tác phẩm văn học giai đoạn 1930- 1945, với một tình hình đất nước khó khăn, chìm đắm trong nạn đói và sự bóc lột của tầng lớp thống trị về sưu thuế.
Nhân dân phần số đông là dân trí thấp, mù chữ, nghèo đói, bị kìm kẹp về vật chất và tinh thần, nên chính vì vậy các yếu tố về ngôn ngữ, hình ảnh, tư duy cũng bị ảnh hưởng tới điều đó. Thứ ba là các bối cảnh gắn với lịch sử cá nhân, sự diễn giải và ý nghĩa của nó đối với người viết như một cá nhân lẫn một chủ thể sáng tạo. Điều này thể hiện rõ nhất đối với các nhà văn, nhà thơ có cuộc đời đầy sóng gió và biến cố. Họ luôn thể hiện bóng dáng lịch sử cá nhân của mình trong các văn bản, tạo ra một khía cạnh tìm hiểu cho người đọc 11 khi tiếp cận văn bản của họ.
Ví dụ khi tiếp cận tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử, ta có thể thấy rõ về lịch sử cá nhân ở đây. Cuộc gặp gỡ với người con gái xứ Huế Hoàng Thị Kim Cúc đã khiến ông để nhớ để thương. Nhưng sau đó ông mắc bệnh phong và điều trị bệnh ở Quy Nhơn. Vào một ngày đẹp trời, ông nhận được tấm bưu ảnh có hình thôn Vĩ Dạ kèm theo mấy lời hỏi thăm của Hoàng Thị Kim Cúc- người con gái mà ông đã yêu bằng một tình yêu đơn phương vô vọng và ông đã sáng tác tác phẩm ấy.
Tác phẩm ấy đã mang đậm dấu ấn về lịch sử cá nhân của tác giả.