Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chuyên sâu về tác phẩm Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo của Lý Văn Phức

Luận án tiến sĩ phân tích văn bản tác phẩm "Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo" của Lý Văn Phức, khám phá giá trị văn học và ý nghĩa lịch sử sâu sắc.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

275
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.3. Định hướng nghiên cứu của đề tài

1.4. Các thuật ngữ sử dụng trong luận án

2. CHƯƠNG 2: LÝ VĂN PHỨC VÀ CHUYẾN ĐI SỨ YÊN KINH (TRUNG QUỐC) NĂM 1841

2.1. Tình hình xã hội, quan hệ bang giao Việt Nam – Trung Quốc nửa đầu thế kỉ XIX

2.2. Giới thiệu chung về cuộc đời và tác phẩm của Lý Văn Phức

2.3. Chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841

3. CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT VĂN BẢN CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC

3.1. Tình hình văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo

3.2. Khảo sát dị văn trong 14 bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo

3.3. Tổng hợp tình hình văn bản và sơ đồ biểu thị mối liên hệ giữa các bản sao của văn bản CNTVT

4. CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ CỦA CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO

4.1. Giá trị nội dung

4.2. Giá trị nghệ thuật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Mai Hương tập trung vào nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo của Lý Văn Phức. Đây là công trình khoa học chuyên sâu, nhằm khám phá giá trị văn học và lịch sử của tác phẩm này. Luận án không chỉ phân tích văn bản mà còn đặt tác phẩm trong bối cảnh văn học cổ điểnlịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XIX. Qua đó, tác giả đã làm rõ vai trò của Lý Văn Phức trong nền văn học và ngoại giao triều Nguyễn.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của luận án tiến sĩ là khảo sát toàn diện văn bản Hán Nôm của Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo, xác định các dị bản và đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Luận án cũng nhằm làm sáng tỏ chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 của Lý Văn Phức, qua đó hiểu rõ hơn về bối cảnh sáng tác và ý nghĩa lịch sử của tác phẩm.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp phân tích văn bản, nghiên cứu học thuật, và thông diễn học để khảo sát 14 bản Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo. Phương pháp định lượng được áp dụng để thống kê các dị văn, giúp xác định bản tin cậy nhất. Ngoài ra, luận án còn kết hợp nghiên cứu liên ngành để làm nổi bật giá trị lịch sử, văn hóa của tác phẩm.

II. Nghiên cứu văn bản

Nghiên cứu văn bản là trọng tâm của luận án, tập trung vào việc khảo sát 14 bản Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo hiện còn. Tác giả đã tiến hành đối chiếu, so sánh các dị bản để xác định mối liên hệ giữa chúng. Qua đó, luận án đã làm rõ quá trình truyền bản và sự biến đổi của văn bản qua thời gian. Điều này không chỉ giúp hiểu sâu hơn về tác phẩm mà còn góp phần bảo tồn di sản văn học cổ điển Việt Nam.

2.1. Khảo sát dị văn

Luận án đã khảo sát chi tiết các dị văn trong 14 bản Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo, bao gồm sự khác biệt về nhan đề, nội dung, và thi tự. Kết quả cho thấy sự đa dạng trong quá trình sao chép và truyền bản, đồng thời xác định được bản tin cậy nhất để phiên dịch và công bố.

2.2. Giá trị văn bản học

Qua việc khảo sát, luận án đã làm nổi bật giá trị văn bản học của Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo. Tác phẩm không chỉ là một tài liệu văn học quý giá mà còn là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, và quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc thế kỷ XIX.

III. Tác phẩm Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo

Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Lý Văn Phức, được sáng tác trong chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841. Tác phẩm phản ánh tâm tư, tình cảm của tác giả trước cảnh vật và con người Trung Quốc, đồng thời thể hiện tinh thần dân tộc và ý thức ngoại giao của một sứ thần triều Nguyễn. Luận án đã phân tích sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, khẳng định vị trí của nó trong dòng thơ đi sứ Việt Nam.

3.1. Giá trị nội dung

Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo mang đậm dấu ấn cá nhân của Lý Văn Phức, thể hiện qua những bài thơ miêu tả cảnh vật, con người và những suy tư về thời cuộc. Tác phẩm còn là tài liệu quý giá để nghiên cứu quan hệ ngoại giao và văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIX.

3.2. Giá trị nghệ thuật

Về mặt nghệ thuật, Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo thể hiện tài năng thơ ca của Lý Văn Phức qua cách sử dụng ngôn ngữ tinh tế, hình ảnh sống động, và kết cấu chặt chẽ. Tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sáng tạo, góp phần làm phong phú thêm nền văn học cổ điển Việt Nam.

IV. Lý Văn Phức và lịch sử văn học

Lý Văn Phức là một nhân vật quan trọng trong lịch sử văn học và ngoại giao triều Nguyễn. Ông không chỉ là một sứ thần tài ba mà còn là một tác gia văn học với nhiều tác phẩm giá trị. Luận án đã làm rõ vai trò của ông trong việc giao lưu văn hóa và ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời khẳng định đóng góp của ông đối với nền văn học dân tộc.

4.1. Đóng góp văn học

Lý Văn Phức để lại một di sản văn học đồ sộ, bao gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm. Các tác phẩm của ông không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm cá nhân mà còn là tài liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, và quan hệ ngoại giao thế kỷ XIX.

4.2. Vai trò ngoại giao

Với tư cách là một sứ thần, Lý Văn Phức đã thể hiện tinh thần dân tộc và sự khéo léo trong quan hệ ngoại giao. Những bài học từ chuyến đi sứ của ông vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản tác phẩm chu nguyên tạp vịnh thảo của lý văn phức

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I, Tiểu sử giới thiệu nhiều thông tin: tên tự, tên hiệu, ngày tháng năm sinh, quê quán, lược thuật nhiều sự nghiệp quan trường, các chức quan Lý Văn Phức đã giữ, những thăng giáng ông đã trải qua. Những thông tin này đều thống nhất với tài liệu mà chúng tôi đã khảo sát được. Đặc biệt ở đây có những chi tiết tác giả Hoa Bằng chú thích thêm về Lý Văn Phức rất thú vị: Tên tự của ông là Lân Chi “láng giềng với cây chi”, một giống thuộc loài lan, vì tên ông có nghĩa là thơm “Phức”, nên mới đặt tự cho hợp với danh như vậy” [5, tr. Hay về ngày sinh của ông, ngày mồng 1 tháng 10 “Theo bài Thập nguyệt, sóc, tiện đản, cảm thành ở tập Kính hải tục ngâm” 10 [5, tr.

Chương này có chi tiết về ngoại hình của Lý Văn Phức do chính ông tự miêu tả trong bài tự ông viết cho tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo:“… Nghĩ mình chưa đầy 60, thế mà râu tóc đã bạc phơ, cặp mắt đã mờ yếu, như thể ông lão 70 vậy!” [5, tr. Những chi tiết này đều rất giá trị, giúp người đọc hiểu thêm về con người, tiểu sử Lý Văn Phức, thêm cơ sở để giải mã những sáng tác văn chương của ông. Chương II trình bày 5 nét tính cách mà tác giả Hoa Bằng đánh giá là nổi bật ở con người Lý Văn Phức: thanh đạm, khiêm tốn, tín ngưỡng, tình bạn, đấu tranh. Mỗi nét cá tính đều được minh chứng qua những sáng tác của Lý Văn Phức hoặc những sự kiện, câu chuyện cụ thể.

Về tình bạn, Lý Văn Phức “cư xử rất tốt với bạn hữu. Khi đi sứ ra ngoại quốc, ông cùng hai bạn, là Đỗ Tuấn Đại và Trần Tú Dĩnh, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, hàng hơn nửa năm trong chỗ đồng sự, trước sau không có một lời nào tồn thương hòa khí…” [5, tr. Các ông vừa là đồng sự cùng nhau công cán ở Áo Môn, vừa là bạn văn cùng nhau xướng họa, ngâm vịnh thơ ca rồi biên chép thành tập. Lý Văn Phức là quan chuyên ngoại giao, cá tính đấu tranh cũng thể hiện ở những câu chuyện ngoại giao.

Đó là câu chuyện ngày 20 tháng 8 năm Tân Mão (1831), khi Lý Văn Phức cương quyết phản đối việc quan nước bạn đề ở công quán dòng chữ “Việt Nam Di sứ công quán” và làm bài Di biện luận để giải thích, lập luận cho ý chí của mình. Bản lĩnh của nhà nho chân chính ở Lý Văn Phức cùng đức tính cương trực chính là yếu tố làm nên phẩm chất của vị quan ngoại giao xuất sắc, khẳng định và bảo vệ được vị thế của nước Việt Nam trước phong kiến Trung Quốc. Hoa Bằng dẫn câu chuyện cũng trong chuyến đi công cán Áo Môn năm 1831. Ngày 23 tháng 8, Tôn Nhĩ Chuẩn, tổng đốc Thanh ở Phúc Kiến hỏi về tên húy của vua nhà Nguyễn để làm tờ tấu lên vua Thanh.

Năm lần bảy lược, dùng đủ mọi cách thuyết phục, gặn hỏi Lý Văn Phức nhưng Tôn Nhĩ Chuẩn đều thất bại. Lý Văn Phức thì trả lời rằng: “Xưa, trước mặt con mà gọi tên tự của cha, dẫu đứa trẻ cũng không chịu phục thay, huống chi bây giờ, trước mặt thần tử mà hỏi tên cái của quân phụ thì ai chịu trả lời?” [5, tr. Những câu chuyện như vậy phác họa phần nào hình ảnh con người một nhà nho chân chính, có tài năng, có bản lĩnh ở Lý Văn Phức. Tuy nhiên, những chi tiết như vậy chỉ nên có tính chất tham khảo, không 11 thể xuất phát từ những đặc điểm cá tính con người Lý Văn Phức để đánh giá giá trị văn thơ ông.

Chương III Thời đại đã tổng lược lại tình hình xã hội, chính trị thời đại Lý Văn Phức sống và sáng tác. Những sự kiện lịch sử trong giai đoạn cuối Lê đến đầu triều Nguyễn: chiến tranh, thiên tai địch hạn (1787)… ảnh hưởng đến tư tưởng của ông, và xu hướng chuộng quốc văn ở thời kì này có lẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Phức. Ngoài tác phẩm chữ Hán những sáng tác bằng chữ Nôm của ông không ít và đạt thành tựu đáng kể. Hoa Bằng rất coi trọng những sáng tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và đánh giá cao vai trò của ông trong phong trào dùng tiếng mẹ đẻ làm thơ, viết văn.

Sách dành chương IV để bàn về các tác phẩm tiếng Việt của Lý Văn Phức. Chương này đề cập đến danh mục tác phẩm bằng chữ Nôm với 7 sáng tác: Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Sứ trình tiện lãm khúc, Tự thuật ký, Phụ châm tiện lãm, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán, Thiên tự văn diễn âm…, cụ thể là giới thiệu ba bài ký Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán. Kết lại chương này, Hoa Bằng nhận định “Qua mấy tác phẩm trên, ta nhận thấy tác giả Lý Văn Phức là người kính cẩn, giữ gìn, trung hiếu, đáng làm tiêu biểu cho lớp người nho học thuần túy ở đương thời. Bấy giờ mới là đầu thế kỷ XIX, thế mà tác giả đã biết yêu chuộng tiếng mẹ, để ý viết nhiều thể văn: lục bát có, song thất có và biền ngẫu cũng có.

Mà thể văn nào tác giả cũng thành công trong sự chải chuốt và chặt chẽ”[5, tr. Rõ ràng đánh giá này cho thấy sự coi trọng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và khẳng định bút lực dồi dào, đa dạng của ông. Chương V Tư tưởng, thông qua các tác phẩm chữ Hán và Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng tìm hiểu về tư tưởng ở nhà nho Lý Văn Phức. Tác giả cho rằng điểm nổi bật trong tư tưởng Lý Văn Phức là “sùng bái thánh hiền Trung Quốc”, từ đó dẫn đến thái độ thận trọng và không tiếp nhân văn hóa phương Tây: miệt thị văn tự Tây Dương.

Ông gọi tiếng Anh là “phiên ngữ”, gọi những người này là “Di địch”. Từ nội dung của Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng cho rằng Lý Văn Phức là người có tư tưởng “tin trời”, quan niệm về đạo hiếu “gia đình là đơn vị trung tâm của xã hội, mà cha con là đạo rất trọng trong ngũ luân” [5, tr. Rõ ràng thông qua một tác phẩm đi đến kết luận như vậy về tư tưởng tác giả là khiên 12 cưỡng và phiến diện. Ở chương VI tác giả tiếp tục thông qua Nhị thập tứ hiếu để nhận định về giá trị nghệ thuật thơ văn Lý Văn Phức.

Cụ thể, nghệ thuật thơ văn ông: sát với thực tế, thành thực, mộc mạc, đối chỉnh, thực cổ nhi hóa (Việt hóa điển cũ) và có tính phổ biến. Chi tiết hơn Hoa Bằng minh chứng: sát với thực tế “vì ông (Lý Văn Phức) có óc thực tế, lại giàu kinh nghiệm trong nhiều chuyến đi ra hải ngoại, nên văn ông chủ quan, thiết thực, chú trọng về ý hơn lời” [5, tr. 40]; thành thực “tính ông thành thực, văn ông cũng thành thực” [5, tr. 40]; mộc mạc “với các tác phẩm Nôm thì nghệ thuật của ông chỉ có vẻ mộc mạc vững vàng, chứ không diễm lệ, chi phấn” [5, tr.

41]; cuối cùng tác giả nhấn mạnh nghệ thuật của Lý Văn Phức trong các sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt Nhị thập tứ hiếu diễn âm. Có thể những đánh giá này mang tính chủ quan và theo khuynh hướng phân tích từ chính tính cách con người nhà thơ nhiều hơn là căn cứ trên tác phẩm văn chương, nhưng nó phản ánh một phần đặc điểm nghệ thuật thơ văn của Lý Văn Phức. Chương VII Nhị thập tứ hiếu diễn âm trình bày các nội dung: Nguyên tác chữ Hán là ai? Những động cơ và trường hợp nào đã đưa Lý Văn Phức đến chỗ làm Nhị thập tứ hiếu diễn âm? Lý Văn Phức diễn Nhị thập tứ hiếu ra quốc âm vào bao giờ và có những ai góp công sửa chữa? Cuối cùng, Hoa Bằng kết luận rằng tác phẩm này “chính là con đẻ của hoàn cảnh xã hội và đáp ứng theo nhu yếu của thời đại bấy giờ” [5, tr. Chương VIII Trích giảng hai truyện trong Nhị thập tứ hiếu diễn âm là: Đánh hổ cứu cha và Đội gạo nuôi mẹ.

Mỗi phần trích giảng đều được trình bày chi tiết, chặt chẽ theo các mục: xuất xứ, thể tài, bố cục, cốt truyện, chú giải, hiệu đính, phê bình. Chương IX là tổng kết. Mặc dù lượm lặt qua các chương viết, có thể tìm hiểu nhiều chi tiết thú vị mà Lý Văn Phức tự viết về cuộc đời, sự nghiệp làm quan, sáng tác thơ văn và những đoạn phân tích chi tiết cụ thể nội dung thơ văn, nhưng nội dung chính của cuốn sách này là nói về Nhị thập tứ hiếu diễn âm. Tiểu sử và những thăng trầm trong chốn quan trường của Lý Văn Phức được hệ thống hóa một cách công phu, đầy đủ trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu Lý Văn Phức và Tây hành kiến văn kỷ lược của tác giả Nguyễn Thị Ngân chuyên ngành Hán Nôm bảo vệ năm 2009.

Tác giả luận án căn cứ vào nhiều thư tịch lịch sử và 13 văn tịch Hán Nôm để dựng lại phả hệ gia đình, dòng họ Lý Văn Phức. Con đường làm quan sớm được trọng dụng nhưng cũng nhiều thăng trầm. Thông qua các bảng biểu, tác giả luận án đưa ra một cách nhìn toàn diện về cuộc đời Lý Văn Phức từ khi sinh ra, đi học, thi đỗ, làm quan, đặc biệt là sự nghiệp đi sứ cùng những con đường đi sứ đông tây của ông. Tác giả có những nhận định xác đáng về ảnh hưởng của gia đình, những biến động thời đại đến con người và sáng tác thơ văn của Lý Văn Phức.

Trong luận án, Nguyễn Thị Ngân đã đưa ra một bảng danh mục tác phẩm của Lý Văn Phức, đó là: 17 tập viết bằng chữ Hán bao gồm cả thơ, ký, phú… 14 tác phẩm viết bằng chữ Nôm bao gồm các thể loại ký, truyện, diễn ca, khúc ngâm … 6 tác phẩm về văn hóa lịch sử khác gồm có gia phả, sử ký… và 7 tác phẩm được cho là soạn chung với các tác giả khác. Mỗi tác phẩm đều được chú thích về tình trạng văn bản và giới thiệu đôi nét về nội dung hoặc hoàn cảnh sáng tác. Luận án đã lập một bảng danh mục 26 tác phẩm Lý Văn Phức sáng tác trong các chuyến đi nước ngoài, có chú về thể loại, năm sáng tác và văn tự. Danh mục này đã cho thấy một cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của một vị quan ngoại giao có tài thơ văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên Tạp Vịnh Thảo của Lý Văn Phức là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác phẩm văn học cổ điển của Việt Nam. Luận án tập trung phân tích văn bản, ngôn ngữ, và ý nghĩa văn hóa trong tác phẩm của Lý Văn Phức, một nhà văn nổi tiếng thời kỳ trung đại. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm mà còn góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về văn học trung đại Việt Nam, đồng thời hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ văn học trong bối cảnh lịch sử.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến văn học trung đại, hãy khám phá thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản thuyên thích sách Mạnh Tử ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, hoặc Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam. Để mở rộng kiến thức về ngôn ngữ văn học, bạn có thể tham khảo Luận án ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn đi sâu hơn vào các khía cạnh đa dạng của văn học và ngôn ngữ Việt Nam.