Tổng quan về luận án

Công trình khoa học "Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Mai Hương thực hiện (chuyên ngành Hán Nôm, mã số 9.04, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Khắc Mạnh và TS. Vương Thị Hường tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2018) là một nghiên cứu tiên phong, giải quyết toàn diện các vấn đề văn bản học và giá trị học thuật của tập thơ sứ trình cuối cùng do danh sĩ Lý Văn Phức trước tác.

Bối cảnh khoa học của đề tài gắn liền với yêu cầu cấp thiết về xử lý, chỉnh lý di sản thư tịch cổ Hán Nôm trong xu thế giao lưu văn hóa và bang giao quốc tế. Lý Văn Phức (1785–1849) là một vị quan ngoại giao lỗi lạc và là tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XIX với 32 tác phẩm chữ Hán và Nôm đồ sộ. Tuy nhiên, trong khi các trước tác như Tây hành kiến văn kỷ lược, Mân hành thi thoại, hay Sứ trình tiện lãm khúc đã được khảo sát ở những mức độ khác nhau, thì Chu Nguyên tạp vịnh thảo (CNTVT - 周原雜詠草 / 周原襍咏草) – tập thi văn ghi lại chuyến đi sứ Yên Kinh năm Tân Sửu 1841 – vẫn là một khoảng trống lớn chưa từng có công trình nào nghiên cứu văn bản học một cách hệ thống.

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) được xác định cụ thể: Toàn bộ 14 dị bản hiện tồn của CNTVT phân tán tại các trung tâm lưu trữ lớn chưa từng được thống kê, định lượng, giám định dị văn, truy nguyên phả hệ truyền bản hay xác lập thiện bản khả tín để phục vụ biên dịch và công bố.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học:

  1. Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Diện mạo văn bản học của 14 dị bản CNTVT hiện tồn có cấu trúc, số lượng và quy luật dị văn như thế nào?
    • Giả thuyết 1 (H1): Các dị bản CNTVT tồn tại các thế hệ sao chép phân tầng, chịu tác động trực tiếp của quy luật kỵ húy triều Nguyễn và sự sai lệch tam sao thất bản qua các thời kỳ.
  2. Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mối quan hệ thế hệ bản sao giữa các dị bản là gì và bản nào đủ độ khả tín để xác lập làm bản nền (thiện bản)?
    • Giả thuyết 2 (H2): Qua việc biện giải 17 bài thơ lõi xuất hiện đồng thời trong 14 bản, có thể xác lập được sơ đồ phả hệ (stemma codicum) và chỉ ra một bản sao gốc gần với nguyên tác nhất.
  3. Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Tác phẩm CNTVT đóng góp những giá trị tư tưởng, lịch sử và nghệ thuật mới nào cho dòng văn học sứ trình thế kỷ XIX?
    • Giả thuyết 3 (H3): CNTVT không chỉ kết tinh nghệ thuật thi ca bang giao mà còn là minh chứng đỉnh cao cho ý thức tự tôn dân tộc và tư tưởng "Hoa - Di biện luận" trong bối cảnh đối ngoại Đông Á.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp chặt chẽ giữa lý thuyết Văn bản học Hán Nôm hiện đại (Trịnh Khắc Mạnh), lý thuyết văn bản cổ điển phương Đông, kết hợp Thông diễn học (Hermeneutics) và Lý thuyết Thi pháp học lịch sử.

Đóng góp đột phá định lượng của luận án: Khảo sát thành công 14 dị bản (12 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, 1 bản tại Thư viện Viện Văn học); phát hiện bản Hoàng Hoa tạp vịnh (A.1308) chính là một dị bản quan trọng của CNTVT; xử lý hàng trăm dị văn qua 17 bài thơ trung tâm; định vị niên đại, lịch trình chuyến đi sứ 1841 và phiên dịch, chú giải hoàn chỉnh 1 bài tựa cùng 62 bài thơ chữ Hán đặc sắc.


Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về Lý Văn Phức và văn bản học Hán Nôm trải qua nhiều giai đoạn với các dòng nghiên cứu lớn:

  1. Dòng nghiên cứu thư mục học và tiểu sử lịch sử: Bắt đầu từ chính sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên [111, 112] và Đại Nam chính biên liệt truyện [113], ghi nhận Lý Văn Phức là bậc danh thần ngoại giao tài ba: "Văn Phức có tiếng là văn học, làm quan thường bị vấp, rồi lại được khôi phục. Trước sau hơn 30 năm. Phần nhiều phải làm việc khó nhọc ở đường biển, sóng gió kinh khủng..." [113]. Thế kỷ XX, Trần Văn Giáp (1971) trong Lược truyện các tác gia Việt Nam thống kê 12 tác phẩm [21]; Dương Thái Minh (1972) nâng lên 20 tác phẩm [47]; Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu (1993) ghi nhận 21 tác phẩm với 50 văn bản [56]; Trần Hải Yến (2004) hệ thống hóa 16 tác phẩm tiêu biểu [126]; và Phạm Văn Ánh (2017) công bố danh mục hoàn thiện gồm 27 tập tác phẩm với khoảng 1.075 bài thơ chữ Hán [3].
  2. Dòng nghiên cứu chuyên khảo và phân tích thi pháp: Dương Quảng Hàm (1945) đặt nền móng với Lý Văn Phức: Tiểu sử - Văn chương [30]; Hoa Bằng (1953) xuất bản chuyên luận Lý Văn Phức, phân tích tư tưởng nhà nho, đạo hiếu và diễn Nôm [5]; Nguyễn Thị Ngân (2009) bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về Tây hành kiến văn kỷ lược [55].

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại ở hai quan điểm đối lập: Một khuynh hướng (như Hoa Bằng) thiên về đánh giá các tác phẩm chữ Nôm (diễn ca gia huấn, truyện thơ) và xem tư tưởng Lý Văn Phức thuần túy là sự phục tùng Nho giáo truyền thống; khuynh hướng thứ hai (Nguyễn Đổng Chi, 1981; Trần Ích Nguyên, 2013) khẳng định Lý Văn Phức là nhà tư tưởng bang giao có tinh thần dân tộc quật cường qua quan điểm "Hoa Di chi biện", đồng thời mở rộng biên độ văn học sang mảng ký sự hải ngoại và thơ chữ Hán.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế:

  • Trần Ích Nguyên (Đài Loan, 2013) trong Việt Nam Hán tịch văn hiến thuật luận đã phân tích sâu sắc tư tưởng bang giao của Lý Văn Phức qua Mân hành thi thoại và khảo sát hải trình Đông Nam Á [59]. Tuy nhiên, công trình này chưa đi sâu khảo sát văn bản học chi tiết đối với tập thơ CNTVT.
  • Claudine Salmon (Pháp, 1994, 2004)Dương Đại Vệ (Trung Quốc, 2014) tập trung khai thác các chuyến đi Tây Dương (1830) và mối quan hệ Thanh – Việt dưới góc độ lịch sử hàng hải và giao lưu văn hóa khu vực [165].
  • Yu Insu (Hàn Quốc, 2011) phân tích cơ chế tuyển chọn sứ thần và văn hóa ứng đối thi ca của sứ thần Việt Nam và Triều Tiên tại Bắc Kinh [129].

Luận án của Đỗ Thị Mai Hương định vị chính xác khoảng trống: Chuyển dịch trọng tâm từ nghiên cứu nội dung đơn thuần sang chuyên sâu Văn bản học (Textual Criticism), giải mã toàn diện cấu trúc truyền bản của tập thơ sứ trình Yên Kinh 1841 – tác phẩm mang tính tổng kết sự nghiệp văn chương và ngoại giao của Lý Văn Phức.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án phát triển và mở rộng lý thuyết Văn bản học Hán Nôm của PGS. Trịnh Khắc Mạnh, cụ thể hóa các phạm trù: "Văn bản" (sự thống nhất giữa cấu trúc ký hiệu và ý đồ tác giả), "Tác phẩm", "Bản nền/Bản cơ sở", và "Dị bản/Dị văn" [46]. Đồng thời, nghiên cứu kiểm chứng lý thuyết văn bản của D.S. Likhachev và I. Galperin trong không gian thư tịch Á Đông cổ trung đại: "Văn bản là bản tin biểu đạt bằng ngôn ngữ ý đồ của người sáng tạo ra nó".

       [ Nguyên tác thất truyền (1841) ]
[ Nhóm A: Bản hoàn chỉnh ]    [ Nhóm B: Bản giản lược ]
(A.304, R.2188, AB.132...)    (A.1308 - Hoàng Hoa tạp vịnh...)
            [ Khảo dị 17 bài thơ lõi ]
      (Sai khác: Nhan đề, Thi tự, Chữ kỵ húy)

Hệ thống mệnh đề lý thuyết được thiết lập:

  • Mệnh đề 1 (P1): Sự hình thành dị bản trong thơ đi sứ thời Nguyễn tỷ lệ thuận với tần suất sao chép phục vụ học thuật tư nhân và quy chế quản lý trước tác của triều đình.
  • Mệnh đề 2 (P2): Chữ kỵ húy miếu hiệu triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) và triều Thanh là chỉ dấu định tuổi và phân tầng thế hệ truyền bản chính xác hơn cấu trúc hình thức bài thơ.
  • Mệnh đề 3 (P3): Thi pháp thơ sứ trình thế kỷ XIX phản ánh bước chuyển hệ hình từ tư duy Nho giáo chính thống sang ý thức tự chủ văn hóa đa cực.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích tích hợp 3 trụ cột lý thuyết:

  1. Lý thuyết Văn bản học cấu trúc - lịch sử: Phân tích hình thái văn tự, đối chiếu văn bản học định lượng và định tính.
  2. Lý thuyết Thông diễn học (Hermeneutics): Giải mã tầng nghĩa ẩn dụ trong điển cố ngoại giao và ngữ cảnh liên văn bản Đông Á.
  3. Thuyết Không gian văn hóa Đông Á (Sinosphere Contextualism): Đặt văn bản vào tọa độ bang giao Việt Nam – Trung Hoa – Triều Tiên – Lưu Cầu.

Điều kiện biên (Boundary conditions): Đối tượng nghiên cứu giới hạn chặt chẽ trong 14 bản chép tay CNTVT hiện lưu trữ tại 3 cơ quan lưu trữ quốc gia ở Hà Nội, lấy mốc lịch sử năm 1841 làm trục thời gian quy chiếu.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng lập trường Triết học diễn giải kết hợp Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn bản học (Philological Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính phân tích cổ văn tự với định lượng thống kê tần suất dị văn.

Thiết kế đa cấp độ (Multi-level design):

  • Cấp độ vi mô: Từng nét chữ, âm đọc, chữ kỵ húy, sai khác từ ngữ trong từng dòng thơ.
  • Cấp độ trung gian: So sánh kết cấu bài, thứ tự sắp xếp, xuất nhập thi phẩm giữa 14 dị bản.
  • Cấp độ vĩ mô: Đối chiếu tư liệu văn bản với chính sử (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) và tác phẩm nhật trình liên đới (Sứ trình chí lược thảo).

Mẫu nghiên cứu xác thực: Toàn bộ 14 đơn vị văn bản hiện tồn, gồm 12 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (A.304, A.1308, A.1757, A.2258, A.2636, A.2685, A.2953, VHv.184, VHv.217, VHv.2471...), 1 bản tại Thư viện Viện Văn học (DH.671) và 1 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (R.2188 / AB.132).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình được thực hiện qua 4 bước chuẩn hóa:

  1. Sưu tầm và phân loại văn bản: Lập phiếu mô tả thư tịch chi tiết (khổ sách, số tờ, số dòng, tình trạng vật lý, con dấu sở hữu như dấu Viện Viễn Đông Bác Cổ EFEO).
  2. Chọn mẫu đối chiếu hạt nhân: Trích xuất 17 bài thơ xuất hiện đồng thời trên cả 14 bản (Bảng 3.4) làm mẫu chuẩn khảo dị.
  3. Tam giác đạc (Triangulation): Đối chiếu chéo giữa dữ liệu văn bản (Data triangulation) - Phương pháp văn bản học và thông diễn học (Methodological triangulation) - Thẩm định độc lập từ các chuyên gia Hán Nôm (Investigator triangulation).
  4. Độ tin cậy và giá trị: Đánh giá độ tin cậy qua tính nhất quán của chữ húy (như húy tên vua Minh Mệnh, Thiệu Trị) và trật tự biên chép.

Data và phân tích

Phương pháp định lượng thống kê được thể hiện qua hệ thống 11 bảng biểu và sơ đồ phả hệ chi tiết trong luận án:

  • Bảng 3.1 & 3.2: Bảng mô tả định lượng 14 dị bản CNTVT.
  • Bảng 3.3: Tình hình xuất nhập và trật tự sao chép thi phẩm.
  • Bảng 3.5 - 3.7: Thống kê và phân loại tỷ lệ các loại sai khác (nhan đề, thi tự, nội văn thi hàm).
  • Bảng 3.11: Thống kê chi tiết tình hình viết húy.

Kỹ thuật phân tích văn bản học so sánh kết hợp kiểm tra độ vững chắc (Robustness check): Khảo sát sự tương đồng giữa bản A.304 (bản chép chữ Khải thư chuẩn mực gồm 67 tờ, có bài tựa của Lê Văn Đức năm 1842 và bài tựa của Lý Văn Phức) với các bản khác để xác lập bản nền tối ưu.


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Phát hiện và phục nguyên văn bản: Xác định bản Hoàng Hoa tạp vịnh (ký hiệu A.1308, 26 tờ, ~85 bài thơ) thực chất là dị bản sao chép trực tiếp từ CNTVT nhưng bị người đời sau đổi nhan đề. Chứng cứ từ lời dẫn bài Để Yên Kinh (ngày 24 tháng 7) hoàn toàn trùng khớp với lịch trình trong Sứ trình chí lược thảo.
  2. Xác lập thế hệ bản sao và thiện bản: Luận án chứng minh hệ thống truyền bản CNTVT chia làm hai nhóm chính: nhóm bản giữ cấu trúc nguyên vẹn có bài tựa (tiêu biểu là A.304, R.2188) và nhóm bản tuyển sao lược bớt. Bản A.304 được chứng minh là thiện bản có độ tin cậy cao nhất để làm bản nền phục nguyên tác phẩm.
  3. Đặc thù chuyến đi sứ năm 1841: Khác với 10 chuyến đi công cán, hiệu lực trước đó sang Đông Nam Á, Nam Á, Quảng Đông hay Phúc Kiến, chuyến đi Yên Kinh năm 1841 là chuyến đi duy nhất Lý Văn Phức giữ trọng trách Chánh sứ trong một sứ bộ chính thức sang triều đình nhà Thanh, tạo nên bước ngoặt lớn trong cảm thức trước tác của ông.
  4. Tư tưởng bang giao kiên định và bản sắc văn hóa: Tác phẩm là sự tiếp nối và kết tinh của tư tưởng "Hoa Di chi biện" mà Lý Văn Phức từng đanh thép tuyên bố trong Di biện luận (1831): "Việt Nam vốn dòng Thánh đế họ Thần Nông, là tộc Hoa Hạ, không phải Di vậy. Đạo học theo thầy Khổng, Mạnh, Trình, Chu. Pháp độ theo đời Chu, Hán, Đường, Tống..." [110]. Thơ văn CNTVT thể hiện vị thế bình đẳng văn hiến giữa Đại Nam và Trung Hoa.
  5. Nỗi niềm trần thế và đạo hiếu của sứ thần: Qua việc phân tích các bài thơ Nguyên đán nhị nhật bi thuậtThập nguyệt tứ nhật bi thuật, luận án bộc lộ góc khuất tâm trạng bi thương, day dứt khôn nguôi của tác giả về chữ hiếu khi xa quê hương:

    "尘刼极知春景好 / 春来游子每潸然" (Trần kiếp cực tri xuân cảnh hảo / Xuân lai du tử mỗi san nhiên)

    "客地何年空咏孝 / 终天此日不成哀 / 三更入梦西湖月 / 万里伤心北岭梅" (Khách địa hà niên không vịnh hiếu / Chung thiên thử nhật bất thành ai / Tam canh nhập mộng Tây hồ nguyệt / Vạn lý thương tâm Bắc lĩnh mai).

Implications đa chiều

  • Ý nghĩa lý luận: Chuẩn hóa quy trình giám định văn bản học đối với loại hình thi tập sứ trình phức tạp có nhiều dị bản trong kho tàng Hán Nôm.
  • Ý nghĩa phương pháp luận: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp văn bản học truyền thống với công cụ thống kê định lượng và tiếp cận liên ngành (văn học sử, bang giao học, địa lý văn hóa).
  • Ý nghĩa thực tiễn & Chính sách đối ngoại: Cung cấp tư liệu lịch sử xác thực về nghệ thuật ngoại giao "nhu cương kết hợp", bài học về giữ vững quốc thể và bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu quốc tế hiện nay.
  • Ý nghĩa giáo dục: Cung cấp bản dịch học thuật chuẩn xác cho 62 bài thơ và 1 bài tựa, phục vụ giảng dạy văn học trung đại và lịch sử bang giao ở bậc đại học và sau đại học.

Limitations và Future Research

  1. Giới hạn phạm vi khảo sát: Luận án chỉ khảo sát 14 dị bản hiện diện tại Việt Nam (Hà Nội), chưa thể tiếp cận các bản sao chép tiềm năng lưu lạc tại các thư viện nước ngoài (như Pháp, Trung Quốc, Đài Loan).
  2. Vấn đề nguyên bản: Bản thảo gốc do chính tay Lý Văn Phức viết (chính thủ bản) hiện vẫn thất truyền; mọi kết luận dựa trên việc tái lập từ hệ thống bản sao đời sau.
  3. Giới hạn dung lượng dịch thuật: Luận án mới tập trung biên dịch, khảo dị sâu 62 bài thơ và 1 bài tựa tiêu biểu, chưa thể phiên dịch toàn bộ các bài phụ lục và văn bản liên quan.

Chương trình nghiên cứu tương lai:

  • Mở rộng đối sánh CNTVT với các tập thơ sứ trình cùng thời của sứ thần Triều Tiên (Yên hành lục) cùng đến Bắc Kinh năm 1841.
  • Ứng dụng công nghệ xử lý ảnh số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI OCR chữ Hán Nôm) để giám định tự dạng dị bản ở quy mô lớn.
  • Nghiên cứu toàn diện sự nghiệp trước tác chữ Hán của Lý Văn Phức trong mối tương quan với văn học khu vực Đông Á thế kỷ XIX.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Trở thành công trình tham chiếu bắt buộc cho các nghiên cứu về Lý Văn Phức, văn học bang giao triều Nguyễn và văn bản học Hán Nôm.
  • Chuyển giao văn hóa - xã hội: Xã hội hóa nguồn tư liệu Hán Nôm quý giá, đưa các giá trị di sản tư tưởng bang giao thế kỷ XIX tiếp cận cộng đồng học thuật trong và ngoài nước.
  • Hợp tác quốc tế: Đóng góp dữ liệu quan trọng cho các chương trình nghiên cứu văn hiến Yên hành Đông Á (như tùng thư Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành hợp tác với Đại học Phúc Đán) [123].

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới nghiên cứu Hán Nôm: Nắm bắt phương pháp luận khảo dị, giám định văn bản và quy trình phục nguyên thư tịch cổ.
  • Giảng viên & Sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Tiếp cận tư liệu giảng dạy chính xác, toàn diện về thơ văn bang giao trung đại.
  • Nhà nghiên cứu Lịch sử & Ngoại giao: Khai thác các dữ liệu bang giao, địa chính trị và ứng xử ngoại giao thời Nguyễn.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
    • Luận án mở rộng lý thuyết Văn bản học Hán Nôm của Trịnh Khắc Mạnh sang xử lý loại hình thi tập bang giao đa dị bản, xây dựng thành công sơ đồ thế hệ bản sao (stemma codicum) dựa trên ma trận khảo dị 17 bài thơ lõi và quy luật kỵ húy.
  2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
    • So với các công trình trước (Hoa Bằng, 1953; Dương Quảng Hàm, 1945) vốn chỉ tiếp cận văn học sử đơn thuần hoặc trích đoạn, luận án áp dụng phương pháp định lượng thống kê toàn bộ sai khác ở nhan đề, thi tự, thi hàm, kết hợp phương pháp thông diễn học liên văn bản.
  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu văn bản là gì?
    • Chứng minh bản Hoàng Hoa tạp vịnh (A.1308) không phải là tác phẩm độc lập mà chính là dị bản sao chép trực tiếp từ CNTVT bị thất lạc danh tính tác giả.
  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập văn bản khả thi không?
    • Có. Quy trình khảo dị - biện ngụy - chọn bản nền (A.304) được chuẩn hóa minh bạch với các tiêu chí định lượng rõ ràng tại Chương 3.
  5. Định hướng nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
    • Mở rộng tầm khảo sát ra không gian thư tịch Đông Á, đặt CNTVT trong mạng lưới tương tác thi ca giữa các đoàn sứ bộ Đại Nam, Triều Tiên, Lưu Cầu và trí thức Mãn Thanh giữa thế kỷ XIX.

Kết luận

  1. Khảo sát toàn diện di sản văn bản: Luận án là công trình đầu tiên tập hợp, mô tả và định lượng chi tiết 14 dị bản của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo lưu trữ tại các viện nghiên cứu và thư viện lớn của Việt Nam.
  2. Xác lập thiện bản vững chắc: Bằng phương pháp khảo dị khoa học qua 17 bài thơ hạt nhân và phân tích chữ kỵ húy, công trình đã xác lập bản A.304 làm bản nền chuẩn mực để công bố tác phẩm.
  3. Giải mã bước ngoặt bang giao 1841: Làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử, vị thế Chánh sứ và tâm thế sáng tác của Lý Văn Phức trong chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841.
  4. Khẳng định tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật: Khắc họa trọn vẹn chân dung Lý Văn Phức – một nhà ngoại giao kiên định với tư tưởng tự tôn văn hiến "Hoa Di chi biện", một nghệ sĩ tài hoa của dòng thơ sứ trình trung đại.
  5. Đóng góp dịch thuật học thuật: Cung cấp bản dịch nghĩa, chú giải công phu 1 bài tựa và 62 bài thơ Hán văn, làm phong phú kho tàng thư tịch Hán Nôm được xã hội hóa.
  6. Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành Đông Á: Đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu so sánh văn học sứ trình Việt Nam với các nước đồng văn trong khu vực thế kỷ XIX.