Chương I, Tiểu sử giới thiệu nhiều thông tin: tên tự, tên hiệu, ngày tháng năm sinh, quê quán, lược thuật nhiều sự nghiệp quan trường, các chức quan Lý Văn Phức đã giữ, những thăng giáng ông đã trải qua. Những thông tin này đều thống nhất với tài liệu mà chúng tôi đã khảo sát được. Đặc biệt ở đây có những chi tiết tác giả Hoa Bằng chú thích thêm về Lý Văn Phức rất thú vị: Tên tự của ông là Lân Chi “láng giềng với cây chi”, một giống thuộc loài lan, vì tên ông có nghĩa là thơm “Phức”, nên mới đặt tự cho hợp với danh như vậy” [5, tr. Hay về ngày sinh của ông, ngày mồng 1 tháng 10 “Theo bài Thập nguyệt, sóc, tiện đản, cảm thành ở tập Kính hải tục ngâm” 10 [5, tr.
Chương này có chi tiết về ngoại hình của Lý Văn Phức do chính ông tự miêu tả trong bài tự ông viết cho tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo:“… Nghĩ mình chưa đầy 60, thế mà râu tóc đã bạc phơ, cặp mắt đã mờ yếu, như thể ông lão 70 vậy!” [5, tr. Những chi tiết này đều rất giá trị, giúp người đọc hiểu thêm về con người, tiểu sử Lý Văn Phức, thêm cơ sở để giải mã những sáng tác văn chương của ông. Chương II trình bày 5 nét tính cách mà tác giả Hoa Bằng đánh giá là nổi bật ở con người Lý Văn Phức: thanh đạm, khiêm tốn, tín ngưỡng, tình bạn, đấu tranh. Mỗi nét cá tính đều được minh chứng qua những sáng tác của Lý Văn Phức hoặc những sự kiện, câu chuyện cụ thể.
Về tình bạn, Lý Văn Phức “cư xử rất tốt với bạn hữu. Khi đi sứ ra ngoại quốc, ông cùng hai bạn, là Đỗ Tuấn Đại và Trần Tú Dĩnh, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, hàng hơn nửa năm trong chỗ đồng sự, trước sau không có một lời nào tồn thương hòa khí…” [5, tr. Các ông vừa là đồng sự cùng nhau công cán ở Áo Môn, vừa là bạn văn cùng nhau xướng họa, ngâm vịnh thơ ca rồi biên chép thành tập. Lý Văn Phức là quan chuyên ngoại giao, cá tính đấu tranh cũng thể hiện ở những câu chuyện ngoại giao.
Đó là câu chuyện ngày 20 tháng 8 năm Tân Mão (1831), khi Lý Văn Phức cương quyết phản đối việc quan nước bạn đề ở công quán dòng chữ “Việt Nam Di sứ công quán” và làm bài Di biện luận để giải thích, lập luận cho ý chí của mình. Bản lĩnh của nhà nho chân chính ở Lý Văn Phức cùng đức tính cương trực chính là yếu tố làm nên phẩm chất của vị quan ngoại giao xuất sắc, khẳng định và bảo vệ được vị thế của nước Việt Nam trước phong kiến Trung Quốc. Hoa Bằng dẫn câu chuyện cũng trong chuyến đi công cán Áo Môn năm 1831. Ngày 23 tháng 8, Tôn Nhĩ Chuẩn, tổng đốc Thanh ở Phúc Kiến hỏi về tên húy của vua nhà Nguyễn để làm tờ tấu lên vua Thanh.
Năm lần bảy lược, dùng đủ mọi cách thuyết phục, gặn hỏi Lý Văn Phức nhưng Tôn Nhĩ Chuẩn đều thất bại. Lý Văn Phức thì trả lời rằng: “Xưa, trước mặt con mà gọi tên tự của cha, dẫu đứa trẻ cũng không chịu phục thay, huống chi bây giờ, trước mặt thần tử mà hỏi tên cái của quân phụ thì ai chịu trả lời?” [5, tr. Những câu chuyện như vậy phác họa phần nào hình ảnh con người một nhà nho chân chính, có tài năng, có bản lĩnh ở Lý Văn Phức. Tuy nhiên, những chi tiết như vậy chỉ nên có tính chất tham khảo, không 11 thể xuất phát từ những đặc điểm cá tính con người Lý Văn Phức để đánh giá giá trị văn thơ ông.
Chương III Thời đại đã tổng lược lại tình hình xã hội, chính trị thời đại Lý Văn Phức sống và sáng tác. Những sự kiện lịch sử trong giai đoạn cuối Lê đến đầu triều Nguyễn: chiến tranh, thiên tai địch hạn (1787)… ảnh hưởng đến tư tưởng của ông, và xu hướng chuộng quốc văn ở thời kì này có lẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Phức. Ngoài tác phẩm chữ Hán những sáng tác bằng chữ Nôm của ông không ít và đạt thành tựu đáng kể. Hoa Bằng rất coi trọng những sáng tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và đánh giá cao vai trò của ông trong phong trào dùng tiếng mẹ đẻ làm thơ, viết văn.
Sách dành chương IV để bàn về các tác phẩm tiếng Việt của Lý Văn Phức. Chương này đề cập đến danh mục tác phẩm bằng chữ Nôm với 7 sáng tác: Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Sứ trình tiện lãm khúc, Tự thuật ký, Phụ châm tiện lãm, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán, Thiên tự văn diễn âm…, cụ thể là giới thiệu ba bài ký Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán. Kết lại chương này, Hoa Bằng nhận định “Qua mấy tác phẩm trên, ta nhận thấy tác giả Lý Văn Phức là người kính cẩn, giữ gìn, trung hiếu, đáng làm tiêu biểu cho lớp người nho học thuần túy ở đương thời. Bấy giờ mới là đầu thế kỷ XIX, thế mà tác giả đã biết yêu chuộng tiếng mẹ, để ý viết nhiều thể văn: lục bát có, song thất có và biền ngẫu cũng có.
Mà thể văn nào tác giả cũng thành công trong sự chải chuốt và chặt chẽ”[5, tr. Rõ ràng đánh giá này cho thấy sự coi trọng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và khẳng định bút lực dồi dào, đa dạng của ông. Chương V Tư tưởng, thông qua các tác phẩm chữ Hán và Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng tìm hiểu về tư tưởng ở nhà nho Lý Văn Phức. Tác giả cho rằng điểm nổi bật trong tư tưởng Lý Văn Phức là “sùng bái thánh hiền Trung Quốc”, từ đó dẫn đến thái độ thận trọng và không tiếp nhân văn hóa phương Tây: miệt thị văn tự Tây Dương.
Ông gọi tiếng Anh là “phiên ngữ”, gọi những người này là “Di địch”. Từ nội dung của Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng cho rằng Lý Văn Phức là người có tư tưởng “tin trời”, quan niệm về đạo hiếu “gia đình là đơn vị trung tâm của xã hội, mà cha con là đạo rất trọng trong ngũ luân” [5, tr. Rõ ràng thông qua một tác phẩm đi đến kết luận như vậy về tư tưởng tác giả là khiên 12 cưỡng và phiến diện. Ở chương VI tác giả tiếp tục thông qua Nhị thập tứ hiếu để nhận định về giá trị nghệ thuật thơ văn Lý Văn Phức.
Cụ thể, nghệ thuật thơ văn ông: sát với thực tế, thành thực, mộc mạc, đối chỉnh, thực cổ nhi hóa (Việt hóa điển cũ) và có tính phổ biến. Chi tiết hơn Hoa Bằng minh chứng: sát với thực tế “vì ông (Lý Văn Phức) có óc thực tế, lại giàu kinh nghiệm trong nhiều chuyến đi ra hải ngoại, nên văn ông chủ quan, thiết thực, chú trọng về ý hơn lời” [5, tr. 40]; thành thực “tính ông thành thực, văn ông cũng thành thực” [5, tr. 40]; mộc mạc “với các tác phẩm Nôm thì nghệ thuật của ông chỉ có vẻ mộc mạc vững vàng, chứ không diễm lệ, chi phấn” [5, tr.
41]; cuối cùng tác giả nhấn mạnh nghệ thuật của Lý Văn Phức trong các sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt Nhị thập tứ hiếu diễn âm. Có thể những đánh giá này mang tính chủ quan và theo khuynh hướng phân tích từ chính tính cách con người nhà thơ nhiều hơn là căn cứ trên tác phẩm văn chương, nhưng nó phản ánh một phần đặc điểm nghệ thuật thơ văn của Lý Văn Phức. Chương VII Nhị thập tứ hiếu diễn âm trình bày các nội dung: Nguyên tác chữ Hán là ai? Những động cơ và trường hợp nào đã đưa Lý Văn Phức đến chỗ làm Nhị thập tứ hiếu diễn âm? Lý Văn Phức diễn Nhị thập tứ hiếu ra quốc âm vào bao giờ và có những ai góp công sửa chữa? Cuối cùng, Hoa Bằng kết luận rằng tác phẩm này “chính là con đẻ của hoàn cảnh xã hội và đáp ứng theo nhu yếu của thời đại bấy giờ” [5, tr. Chương VIII Trích giảng hai truyện trong Nhị thập tứ hiếu diễn âm là: Đánh hổ cứu cha và Đội gạo nuôi mẹ.
Mỗi phần trích giảng đều được trình bày chi tiết, chặt chẽ theo các mục: xuất xứ, thể tài, bố cục, cốt truyện, chú giải, hiệu đính, phê bình. Chương IX là tổng kết. Mặc dù lượm lặt qua các chương viết, có thể tìm hiểu nhiều chi tiết thú vị mà Lý Văn Phức tự viết về cuộc đời, sự nghiệp làm quan, sáng tác thơ văn và những đoạn phân tích chi tiết cụ thể nội dung thơ văn, nhưng nội dung chính của cuốn sách này là nói về Nhị thập tứ hiếu diễn âm. Tiểu sử và những thăng trầm trong chốn quan trường của Lý Văn Phức được hệ thống hóa một cách công phu, đầy đủ trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu Lý Văn Phức và Tây hành kiến văn kỷ lược của tác giả Nguyễn Thị Ngân chuyên ngành Hán Nôm bảo vệ năm 2009.
Tác giả luận án căn cứ vào nhiều thư tịch lịch sử và 13 văn tịch Hán Nôm để dựng lại phả hệ gia đình, dòng họ Lý Văn Phức. Con đường làm quan sớm được trọng dụng nhưng cũng nhiều thăng trầm. Thông qua các bảng biểu, tác giả luận án đưa ra một cách nhìn toàn diện về cuộc đời Lý Văn Phức từ khi sinh ra, đi học, thi đỗ, làm quan, đặc biệt là sự nghiệp đi sứ cùng những con đường đi sứ đông tây của ông. Tác giả có những nhận định xác đáng về ảnh hưởng của gia đình, những biến động thời đại đến con người và sáng tác thơ văn của Lý Văn Phức.
Trong luận án, Nguyễn Thị Ngân đã đưa ra một bảng danh mục tác phẩm của Lý Văn Phức, đó là: 17 tập viết bằng chữ Hán bao gồm cả thơ, ký, phú… 14 tác phẩm viết bằng chữ Nôm bao gồm các thể loại ký, truyện, diễn ca, khúc ngâm … 6 tác phẩm về văn hóa lịch sử khác gồm có gia phả, sử ký… và 7 tác phẩm được cho là soạn chung với các tác giả khác. Mỗi tác phẩm đều được chú thích về tình trạng văn bản và giới thiệu đôi nét về nội dung hoặc hoàn cảnh sáng tác. Luận án đã lập một bảng danh mục 26 tác phẩm Lý Văn Phức sáng tác trong các chuyến đi nước ngoài, có chú về thể loại, năm sáng tác và văn tự. Danh mục này đã cho thấy một cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của một vị quan ngoại giao có tài thơ văn.