Chương 1: Khái quát vùng đất và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Trong chương này, chúng giới thiệu khái quát về vùng đất, lịch sử, con người vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó, chúng tôi giới thiệu một cách chung nhất về khái niệm, giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao; vài nét về TGSN trong ca dao ĐBSCL cùng thống kê số lượng tác phẩm ca dao sẽ nghiên cứu. Chương 2: Phân loại và miêu tả thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long.
Tiến hành phân loại TGSN thành 4 nhóm chính: nhóm hiện tượng tự nhiên liên quan đến TGSN, nhóm thực vật, nhóm động vật, nhóm đồ vật. Tiến hành 11 miêu tả các nhóm dựa trên đặc điểm, tính chất của từng sự vật, hiện tượng trong mỗi nhóm. Chương 3: Nghệ thuật thể hiện và giá trị của thế giới sông nước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Chúng tôi đi sâu, khám phá, đề cập đến một số nghệ thuật được sử dụng trong TGSN ca dao ĐBSCL: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, biểu trưng, công thức ngôn từ truyền thống; giá trị của TGSN vào việc lưu trữ giá trị văn hóa trong VHDG Việt Nam. Phụ lục - Phụ lục: Thống kê tổng số những bài ca dao liên quan đến TGSN ĐBSCL.
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Khái quát về vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long 1. Địa lí ĐBSCL được biết đến là một vùng đất đẹp và có thiên nhiên trù phú của nước ta. Vùng đất này nằm ở cực nam của dải đất hình chữ S, nơi đây mang nhiều giá trị cả về mặt vật chất và tinh thần biết bao đời nay.
ĐBSCL là một bộ phận của lưu vực sông Mê Kông có diện tích khoảng 40.000 km2, bao gồm một tỉnh trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Phần đất liền có hai mặt giáp biển: phía Tây giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam là biển Đông. Đây là vùng có địa lí rất tốt cho sự phát triển cả về mặt kinh tế, xã hội, với số lượng tỉnh thành lớn, vị trí tiếp giáp sông nước nhiều làm thêm sự đa dạng về mọi mặt. ĐBSCL là một trong những đồng bằng châu thổ phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới còn là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của cả nước.
Lịch sử hình thành Qua tìm hiểu công trình Diễn trình văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (2010) của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu, chúng tôi nhận thấy quá trình hình hành của vùng đất ĐBSCL qua nhiều thời kì lịch sử. Lịch sử hình thành vùng ĐBSCL nói riêng hay Nam Bộ nói chung trước kia là vùng lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp và có chung quá trình hình thành qua nhiều thời kì khác nhau. Căn cứ vào một số thư tịch cổ Trung Quốc, như Dị vật chí (thời Đôn Hán 25 – 220), Ngô Thư (thời Tam quốc: 22 – 280, Lương thư, Phù Nam thổ tục, muộn hơn như Tần thư, Tùy thư… và kết quả khảo cổ học hơn 100 năm qua thì vào khoảng đầu Công 13 nguyên phía nam nước Lâm Ấp xuất hiện một nước tên Phù Nam, vương quốc này rất rộng bao gồm cả Nam Lào, Nam Thái Lan, toàn bộ Campuchia, Nam Bộ, Nam Trung bộ của Việt Nam ngày nay. Về sau, vương quốc này phát triển thành đế chế, lãnh thổ ngày cảng mở rộng và hưng thịnh hơn.
Sau khi tồn tại dưới 1 thế kỷ, trải qua 14 triều đại đến năm 550 thì bị Chân Lạp xâm chiếm. Từ đó, Chân Lạp bắt đầu được hình thành. Người Chân Lạp hầu hết là tộc người Khmer, nói tiếng Nam Á. Chính vì vậy trước khi người Việt đến vùng đất ĐBSCL này lập nghiệp, chúng ta đã thấy có tộc người Khmer sinh sống tại đây.
Trong quá trình sinh sống, người Chân Lạp chỉ chú tâm vào phát triển vùng trung tâm truyền thống trước đây của mình là Lục Chân Lạp nên phần nhiều nơi đây vẫn còn hoang vu rừng rậm, hầu như không có người ở và được khai phá. Mãi sau này nhờ đến chúa Nguyễn mà người Việt chúng ta được đặt chân lên đất Thuỷ Chân Lạp và bắt đầu công cuộc khai hoang mở cõi. Lúc bấy giờ ngoài người Khmer đã có mặt từ trước thì có thêm người Việt, người Hoa và người Chăm cùng sinh sống. Vào thời Triều Nguyễn (vua Gia Long) thành lập vào năm 1802, ông tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn, đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lí trên quy mô cả nước.
Vua Minh Mạng vào năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên được gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay còn được gọi là Lục tỉnh. Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì đã có 4 tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ngoài ra còn có một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực miền Tây Nam Bộ, tương đương với một phần các tỉnh Long An và Tiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay. 14 Đến thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào tháng 12/1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một hiệp ước, thừa nhận 6 tỉnh Nam kỳ thuộc Việt Nam.
Đến năm 1858, Pháp tấn công Nam Bộ rồi lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kì, triều Nguyễn điều động quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp. Khi kháng chiến thất bại triều đình nhà Nguyễn đã ký các hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông và 3 tỉnh miền Tây. Mãi đến ngày 4/6/1949, trước thắng lợi liên tiếp của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tổng thống Pháp V.Ô- ri- ôn đã ký Bộ luật số 49- 733 trả lại Nam Kì cho chính quyền Bảo Đại. Như vậy đến năm 1949 vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn “nhượng” cho thực dân Pháp đã được trả lại cho Việt Nam bằng một văn bản có giá trị pháp lý, Chính phủ Pháp đã khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với Vương quốc Campuchia.
Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ được các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận. Cũng chính từ đó vùng đất ĐBSCL được hồi sinh, người dân cần cù lao động để có được một vùng đất như ngày nay. Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình ĐBSCL là vùng đất có địa hình bằng phẳng.
Nền đất ĐBSCL thuộc dạng đất yếu (bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha), có diện phân bố rộng rãi từ phía nam sông Vàm Cỏ Đông đến tận mũi cà mau (ngoại trừ các đồng bằng cao ở phía bắc Đồng Tháp Mười và các núi còn sót ở phía tây An Giang, Kiên Giang). Bề dày của đất yếu có khuynh hướng tăng dần từ bắc xuống nam, từ tây bắc xuống đông nam và về phía sông lớn. Bề dày nhỏ nhất được ghi nhận ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang một phần tứ giác Long Xuyên, phần lớn ở 15 Đồng Tháp Mười. Ở phía nam Cà Mau, phần lớn khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng duyên hải, bề dày của đất lớn hơn 20m.
Khí hậu Do vị trí địa lí khá đặc biệt nên ĐBSCL có nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt. Nhiệt độ trung bình năm từ 24- 27°C. Nhiệt và nắng là một trong những lợi thế ở ĐBSCL để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới và nhiều loại cây trồng, tạo nên sự đa dạng sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Ở ĐBSCL lượng mưa được phân bố theo mùa.
Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa khá lớn, chiếm tới 99% tổng lượng mưa cả năm. Trong khi đó mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa tại đây phân bố theo mùa một phần đem đến cho vùng những thuận lợi trong công tác canh nông hay phát triển các nghành thủy hải sản nhưng ngược lại cũng đem đến nhiều trở ngại cho vùng đất này. Mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ do khoảng 50% diện tích toàn đồng bằng, thuận lợi cho việc đánh bắt thủy, hải sản, phục vụ đời sống của người dân.
Mùa khô thường thiếu nước tưới cây cối, gây khó khăn cho sản xuất, nhất là trong khu vực bị mặn, phèn. Chính những điều đó làm tăng thêm tính thời vụ cũng như nhu cầu cấp nước cũng khó khăn và không đều ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất của người dân. Nguồn nước Với ba mặt giáp biển, cùng hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt mang nguồn nước dường như dàn trải khắp vùng đồng bằng, mà lớn nhất phải kể đến hai hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Vàm Cỏ. Hai hệ thống sông này được cung cấp nước chủ yếu bởi sông Mê Kông, nước từ sông Mê Kông phần lớn do lượng mưa cung cấp.
Lượng mưa tại ĐBSCL cũng biến đổi theo mùa nên lượng nước cũng biến đổi theo. Vào mùa 16 mưa lượng nước được cung cấp khá lớn nhưng gặp trở ngại vì gây thành bão lũ. Bên cạnh lượng nước được cung cấp trực tiếp từ sông ngòi kênh rạch trên bề mặt đất còn có những mạch nước ngầm được đánh giá có trữ lượng lớn, trên 84 triệu m3/ngày. Hiện nay tổng lượng nước đang khai thác sử dụng là 854 nghìn m3/1 ngày trong đó lượng nước ngầm mới chiếm hơn 12%.
Không những thế, tại vùng ĐBSCL còn có nguồn nước khá lớn, với nguồn nước này ảnh hưởng vừa tích cực và tiêu cực đến việc phát triển hệ sinh thái cũng như phát triển kinh tế vùng. ĐBSCL và vùng đất thường xuyên có nhiều bão lũ nhưng mỗi đợt bão lũ đi qua có thể cải tạo được nguồn nước, cung cấp thêm phù sa cho đất, vệ sinh đồng ruộng. Nguồn nước ngọt quan trọng này có thể cung cấp cho cuộc sống sinh hoạt, phục vụ cho công tác sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản và tạo nên một vùng sinh thái nước ngọt rộng lớn cho vùng đồng bằng. Nhìn chung những yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên đã góp phần hình hình một môi trường phát triển cho TGSN, để từ đó các sự vật hiện tượng thuộc TGSN đi vào ca dao với số lượng phong phú và đem đến những giá trị cho ca dao.