phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn (24 trang) Với chƣơng này, chúng tôi đƣa ra các khái niệm chính liên quan đến nội dung nghiên cứu, trình bày rõ cách hiểu, quan niệm về phim tƣ liệu, vai trò của phim tƣ liệu trong đời sống xã hội và cách phân loại phim tƣ liệu hiện nay của Viện Phim Việt Nam. Đồng thời, chƣơng 1 còn giới thiệu một cách tổng quan về đơn vị lƣu trữ, khai thác và phổ biến phim tƣ liệu lớn nhất cả nƣớc là Viện Phim Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng khai thác và phổ biến phim tƣ liệu Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (30 trang) Trong chƣơng 2, ngoài việc giới thiệu sơ lƣợc về thực trạng khai thác phổ biến phim tƣ liệu tại thành phố Hồ Chí Minh từ sau 30/04/1975, chúng tôi còn tập trung vào việc giới thiệu đặc điểm, nội dung, ý nghĩa và đánh giá hiệu quả của một số hình thức khai thác và phổ biến phim tiêu biểu tại thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2007 – 2015. 15 Chƣơng 3: Nâng cao hiệu quả khai thác và phổ biến phim tƣ liệu Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (26 trang) Chƣơng 3 chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm, trình bày những định hƣớng nhà nƣớc đối với sự nghiệp phát triển điện ảnh của dân tộc, định hƣớng của Viện Phim Việt Nam trong hoạt động khai thác phổ biến phim tƣ liệu.
Từ đó, đề xuất các giải pháp g n với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác và phổ biến phim tƣ liệu trong tƣơng lai. 16 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những khái niệm chính 1. Các khái niệm cơ bản của điện ảnh Khái niệm Điện ảnh Điện ảnh thƣờng đƣợc gọi là nghệ thuật thứ bảy.
Sáu nghệ thuật trƣớc đó đƣợc biết đến bao gồm hội họa, âm nhạc, múa, văn học, sân khấu và kiến trúc. Khi mới đƣợc phát minh, điện ảnh chỉ đƣợc coi là phƣơng tiện ghi lại cảnh sinh hoạt đời thƣờng, nhƣng một thời gian sau, các bộ phim đã đƣợc tạo ra với những ý đồ nhất định và nhanh chóng trở thành một loại hình nghệ thuật quan trọng. Điện ảnh không chỉ trở thành một hình thức giải trí cần thiết trong đời sống thƣờng nhật mà còn phát triển thành những hiện tƣợng văn hóa và đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện tuyên truyền. Nghệ thuật điện ảnh ra đời đƣợc xem là đã bổ sung và làm giàu thêm kho tàng nghệ thuật của nhân loại, thu hút một lƣợng khán giả đông đảo.
Điện ảnh là một khái niệm rộng bao gồm các cấp độ: là một bộ phim đƣợc tạo bởi từ những khung hình chuyển động (phim); là một phƣơng tiện kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một bộ phim (kỹ thuật điện ảnh); là một nghệ thuật hoàn chỉnh và cuối cùng nó là ngành công nghiệp và thƣơng mại liên quan đến các công đoạn sản xuất, quảng bá và phân phối phim ảnh (công nghiệp điện ảnh). Ở Việt Nam, điện ảnh còn đƣợc gọi là “xi-nê”, xuất phát từ "cinéma" (điện ảnh trong tiếng Pháp) vốn là từ rút gọn của "cinématographe". "Cinématographe" (xuất phát từ tiếng Hy Lạp κίνημα - kínēma có nghĩa là chuyển động, còn γράφειν - gráphein có nghĩa là ghi lại) là cái tên đƣợc Léon Bouly đặt cho chiếc máy ghi lại hình ảnh của ông trong đăng ký bằng sáng 17 chế số 219 350 năm 1892, một trong những mốc sự kiện khai sinh ra ngành điện ảnh. Điện ảnh đƣợc dùng để nói đến những bộ phim trình chiếu ở rạp, khác với những phim truyền hình.
Vì lý do đó, từ "màn bạc" hay "màn ảnh lớn" cũng đƣợc dùng để chỉ điện ảnh phân biệt với truyền hình, đƣợc gọi là màn ảnh nhỏ. Điện ảnh đƣợc gọi là "phim nhựa", phân biệt với phim video. Nhƣng thực tế, phim nhựa không phải là chất liệu duy nhất của điện ảnh. Có những phim dùng chất liệu video đã đƣợc làm lại để trình chiếu ở rạp và ngƣợc lại, một số phim truyền hình cũng sử dụng chất liệu phim nhựa.
Đặc biệt với sự phát triển của kỹ thuật số, có cả những phim điện ảnh và phim truyền hình đều dùng công nghệ này. Đứng ở góc độ văn học nghệ thuật truyền thống với điện ảnh, có thể định nghĩa “ i n nh ộ hi n ợng nh x hội ng h ng hú ộng n hứ ng những hình nh ộng ợ huỗi hợ i h nh dấu ấn n n ng ứ u ình h i và tru n hống nh ộ ộng ng ộ d n ộ ” [8, tr. Có thể hiểu một cách ng n gọn, đầy đủ về khái niệm điện ảnh theo định nghĩa tại Luật Điện ảnh của Quốc hội nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhƣ sau:“ i n nh i hình ngh hu ng hợ hể hi n ng hình nh ộng hợ i h nh ợ ghi n i u ng hi nhự ng ừ ĩ ừ i u ghi hình h ể h i n n ng húng h ng qu h ơng i n ỹ hu ”[22, tr. Khái niệm phim “Phi hiểu he nghĩ h ng dụng ộ i u ợ d ng ể ghi i hình nh h ng qu ng ụ hụ nh qu hi ” [22, Tr.
Phim nào cũng có cấu tạo tƣơng tự nhau, gồm hai phần cơ bản là đế phim làm bằng chất dẻo và phần mặt phủ lớp nhũ tƣơng gồm nhiều hóa chất, 18 khi ánh sáng tác động vào nhũ tƣơng sẽ kh c dấu tạo hình. Đem in tráng trong buồng tối với một số hóa chất thích hợp tạo thành phim âm bản. Cuối cùng trong nhiếp ảnh phim này đƣợc in lên giấy để thành tấm ảnh, trong điện ảnh thì sẽ in lên một bản phim nữa gọi là phim dƣơng bản. Phim dƣơng bản sẽ đƣợc đƣa qua máy chiếu phim, những chùm ánh sáng của máy phóng đại cho hình ảnh trên phim hiện lên màn ảnh.
Nhƣ vậy, phim là loại vật liệu dùng cho các máy chụp ảnh, quay phim ghi hình. Nét khác biệt cơ bản nhất là phim dùng trong điện ảnh còn có những khe rãnh ghi âm thanh quang học dùng để phát tiếng cho phim. Với cách hiểu nhƣ trên, có thể nói ng n gọn theo từ điển Tiếng Việt “Phi : V i u d ng ể hụ nh in nh u hi hụ hẩ ngh hu ghi trên uộn hi ể hi u n n nh”[ 44, tr. Hay nói cách khác,“N i n hi hiểu ấ ứ ộ ự ghi i những hình nh ộng n h ặ h ng h nh h nh he n ấ ỳ ộ i n : Phi i n nh ng ide ĩ ide h ặ ấ ỳ ộ h ơng h n h ợ ọi ng i i h ặ ợ h inh h ng hụ huộ h i gi n iể ỹ hu h h ơng i n n xuấ húng”[29, Tr.
Đối với đề tài này, tác giả luận văn tiếp cận khái niệm phim với cách hiểu “Phim hẩ i n nh g hi u n hi i i u hi h họ hi h hình”[22, tr. Cụm từ tác phẩm điện ảnh trong khái niệm này đƣợc hiểu “ n hẩ ngh hu ợ iểu hi n ng hình nh ộng hợ i h nh h ơng i n h he ngu n ng n ngữ i n nh” [22 tr. 19 Phi nhự (35mm) phim đƣợc sản xuất bằng phƣơng tiện kỹ thuật điện ảnh, đƣợc ghi trên vật liệu phim nhựa để chiếu trên màn ảnh thông qua máy chiếu phim. Phim vi- i-ô là phim sản xuất bằng phƣơng tiện kỹ thuật vi-đi-ô, đƣợc ghi trên băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác để phát thông qua thiết bị vi-đi-ô.
Phi u n hình là phim vi-đi-ô để phát trên sóng truyền hình. Băng phim, đĩa phim là sản phẩm của phim vi-đi-ô hoặc đƣợc in sang từ phim nhựa. Sản xuất phim Hoạt động điện ảnh là hoạt động bao gồm các công đoạn sản xuất phim, phát hành phim và phổ biến phim. Có thể nói sản xuất phim là công đoạn đầu tiên trong hoạt động điện ảnh và sau khi công đoạn này hoàn thành mới có sản phẩm để tiến hành các các hoạt động phát hành và phổ biến phim.
Về khái niệm sản xuất phim, tác giả thống nhất với cách hiểu “S n xuấ hi qu ình hẩ i n nh ừ h n n họ n hi h n h nh ộ phim [22 tr. Phát hành phim “Ph h nh hi qu ình u h ng hi h ng qu hình hứ n h hu xuấ hẩu nh hẩu [22, tr. Để một bộ phim có thể đƣợc trình chiếu rộng kh p và đem lại doanh thu cao, cần có một chiến lƣợc tiếp thị phát hành hiệu quả. Đây là khâu trung gian quan trọng trong chu i khép kín sản xuất – phát hành – phổ biến phim.
Các đơn vị phát hành (dis-tributors) và đại lý (agents) là những ngƣời thúc đẩy quá trình tiếp thị phim. Càc nhà sản xuất thƣờng không bán phim cho công ty phát hành hoặc đại lý mà chỉ cấp phép (liense) cho họ khai thác. Đôi khi các nhà phát hành mua đứt bộ phim, kể cả bản quyền. Tại bất cứ quốc gia nào cũng có các nhà phát hành, và vai trò của 20 họ là điều phối việc phát hành phim đến mọi phƣơng tiện truyền thông trong quốc gia đó.
Tuỳ theo thể loại và chất liệu, có thể phát hành phim theo các cách nhƣ sau: chiếu rạp, cho thuê trên thị trƣờng ngoài rạp, bán băng video – đĩa cho các tổ chức, video gia đình, truyền hình, các kênh khác… Phổ biến phim “Ph i n hi i hi n ng húng h ng qu hi u hi h ng n u n hình n ng in e ne h ơng i n nghe nhìn khác” [22, tr. Đây là nhiệm vụ quan trong đối với những cơ sở sản xuất phim hay cơ sở nhập khẩu phim, vì chính hiệu quả của công tác này là thƣớc đo quan trọng đánh giá sự thành bại về mặt kinh tế lẫn nghệ thuật. Công tác khai thác phổ biến phim còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với những tổ chức lƣu trữ điện ảnh, vì nó chính là lý do tồn tại để thực hiện mục đích phục vụ văn hoá, giáo dục, nghệ thuật của các cơ quan lƣu trữ. Lƣu chiểu phim là lƣu giữ theo quy định một số bản phim đã đƣợc phát hành.
Lƣu trữ phim là cất giữ những bộ phim một cách hệ thống, an toàn và tiện dụng. Sƣu tầm phim là hoạt động tìm kiếm, thu thập lại những thƣớc phim, tác phẩm điện ảnh. Khai thác phim Khai thác phim là một m c xích khá quan trọng trong công tác phát hành phim.