CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE TRUYỆN TIỂU LAM VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cái hài Cái hài là một trong bốn phạm trù mỹ học Heghen (cái đẹp, cái hài, cái bi và cái cao cả), dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng xã hội, hành vi con người, phong tục tập quán không phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ, không ăn khớp với sự phát triển khách quan xã hội, mâu thuẫn với lý tưởng thâm mỹ tiến bộ và do đó chúng bị lên án dưới hình thức cười nhạo. Tác giả “Bài giáng Mỹ học đại cương” [24] chỉ ra đối tượng của cái hài phải thuộc ba bình diện: Về chính trị: Nó là cái mat ý nghĩa, cái lỗi thời, cái lạc hậu, cái phản động.
Về mặt triết học: Nó là mặt trái, là cái phủ định. Vé mỹ học: Nó đôi lập với cái đẹp, cái trac tuyệt, bản chat của nó là cái x4u được ngụy trang một cách khéo léo. Vì thế, nó được nhận định như là kết quả của sự tương phản, sự bất đồng, sự mâu thuẫn: "giữa xấu và đẹp" (Aristote thời cổ đại Hy Lạp), "giữa cái nhỏ nhen và cái cao thượng" (I.Kant cuối thế ki 18), "giữa hình tượng và ý niệm" (P.Hegel), "giữa cái trọng đại và cái vô nghĩa" — "cơ sở của cái hài kịch" (Lupxo), "giữa đối cực của cái có giá trị và cái huênh hoang tự cho là có giá trị" (Florente), "giữa tất yếu và tự do" (Acto và Suyto), "giữa cái hợp lí và cái vô lí" (Scopenhao), "giữa cái sinh động và cái máy móc "(H. Điều đáng chú ý ở đây là chúng ta cần phân biệt giữa cái hài và cái buồn cười.
Không thé đồng nhất giữa cái hài với cái buồn cười. Trước bat cứ hiện tượng buồn cười nào trong cuộc sống ta cũng có thé bật ra tiếng cười. Khác với cái buồn cười, cái hài tạo nên tiếng cười có ý nghĩa xã hội, có tính chất trí tuệ. Cái buồn cười có thé “cù”, không có nội dung.
Còn tiếng cười do cái hài tạo ra bao giờ cũng là kết quả tất yếu của việc vạch ra được, nhìn thay được mâu thuẫn giữa bản chất và hiện 14 tượng, giữa bên ngoài và bên trong và được người ta tôn lên một cách thái quá, lấy đó làm tự hào, chuẩn mực [49, tr. Từ đó, có định nghĩa về cái hài như sau: “Cái hài là một bộ phận của cái xấu nhưng lại không đành phận xấu, cái bộ phận xấu này lại núp dưới bóng cái đẹp, và cái đẹp ở đây lại chính là nguồn sáng cực mạnh để phơi bày cái bộ phận xấu ấy ra và đuổi cỗ nó ra khỏi vương quốc mình để mọi người phân biệt đen trắng rõ ràng” [16, tr. Một định nghĩa khác của Tir điển thuật ngữ văn học [35, tr. 42, 43] cũng khá xác đáng: Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội — thẩm mỹ (chang hạn hình thức với nội dung, mục đích với phương tiện, bản chất và biểu hiện.
Trong đó, hoặc là chính bản thân mâu thuẫn hoặc là một trong những mặt của nó đối lập với những lý tưởng thâm mỹ cao đẹp. Nói tóm lại, cái hài là sự mâu thuẫn. Và tác giả có khẳng định thêm rằng, đối với cái hài, dù ở cung bậc nào của tiếng cười cũng cần có ba yếu tố tạo thành: 1. Bản chất mang tính hài của đối tượng mà ai cũng dễ dàng cảm nhận được; 2.
Sự cường điệu những đường nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng; 3. Sự sắc bén, ý nhị, hom hỉnh của người thể hiện nhằm làm tăng thêm hiệu quả của tiếng cười. Một điều đáng chú ý nữa là cần phải phân biệt giữa cái hài với chất hài. Nếu cái hài thuộc về quan niệm mỹ học thì chất hài là một thuật ngữ chứa đựng cả nội dung và nghệ thuật gây cười, là kiêu cười, phong cách cười.
Khai niệm về truyện tiếu lâm Trước hết ta cần xác định nguồn gốc tên gọi “tiếu lâm”. Theo như giai thoại mà Đặng Thai Mai kể trong bài “Ý nghia nhân sinh trong truyện cười nước ta ngày xưa ” ở trên thì có thể xác định được tên gọi “tiếu lâm” bắt đầu được biết đến vào thời Lê mạt. Và cụm từ “tiêu lâm” lúc này mang ý nghĩa là “rừng cười”. Theo Ti điển tiếng Việt định nghĩa thì cụm từ “tiéu lâm” có nghĩa là chuyện ké dân gian dùng hình thức gây cười để mua vui hoặc phê phán, đả kích [53, tr.
15 Trong Tit điển Văn học, khi xác định khái niệm truyện tiếu lâm, PGS Chu Xuân Diên viết: “Tiếu lâm (có nghĩa là rừng cười) là một trong những thể loại tự sự tiêu biểu cho dòng văn hài hước dân gian bao hàm những loại truyện khác nhau về tính chất của đối tượng phản ánh và do đó cả về tính chất hài hước. Ở truyện cười dân gian Việt Nam, đó là các loại truyện khôi hài và truyện trào phúng” [28, tr. Theo Dinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong “Văn học dân gian” thì “truyện tiếu lâm, xét cho kỹ không phải là một loại truyện cười riêng biệt. Cái tên ấy chẳng qua là dé gọi truyện cười nói chung, dầu là khôi hai, dầu là trào phúng.
Thế thì, lúc đầu danh từ truyện tiếu lâm có ý nghĩa rất rộng và cũng không nhất thiết có nghĩa là truyện “tục” như cách hiểu thông thường hiện nay. Nhưng theo quan niệm thông thường hiện nay thì truyện tiếu lâm là những truyện khôi hài và trào phúng mang yếu tố tục, chúng ta chấp nhận giới thuyết ấy” [18, tr. Như vậy, nếu xét theo quan điểm này thì truyện tiếu lâm sẽ được coi như là một cách gọi khác của truyện cười và được chia thành hai loại: truyện khôi hài và truyện trào phúng; nhưng lại xác định truyện tiếu lâm là những truyện khôi hài và trào phúng mang yếu tố dục, trong đó: Truyện khôi hài: là truyện có tiêng cười nhăm mục đích mua vui là chủ yếu, không có hoặc ít có tính chất phê phán, đả kích. Truyện trào phúng: chứa đựng tiếng cười có nội dung phê phán, đả kích mạnh mẽ.
Và truyện khôi hài và truyện trào phúng mang yêu tô tục có nghĩa là sử dụng các yêu tô tục để tạo ra tiêng cười hoặc đem đôi chiêu song song những cái thấp hèn với cái được cho là cao thượng trong xã hội phong kiến. Chúng tôi nghiêng v quan niệm khái niệm truyén tiéu lâm được nêu trong Từ điên tiêng Việt, nghĩa là xem truyện tiêu lâm đơn thuân là các câu chuyện ké dân gian dùng hình thức gây cười để mua vui giải trí hoặc phê phán đả kích. Phân loại truyện Tiếu lâm Việt Nam Theo những gì chúng tôi đã tìm hiểu thì việc sử dụng tên gọi truyện tiếu lâm hiện nay không còn được dùng chính thức nữa. Và việc đề cập phân loại truyện 16 tiếu lâm cũng chưa được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu.
Vì thế, muốn tìm ra cách phân loại truyện tiếu lâm thì chúng ta chỉ có thể xác định qua cách phân loại truyện cười mà thôi. Tuy nhiên, trong những cách phân loại truyện cười của các nhà nghiên cứu, chúng ta chỉ có thé thấy được truyện tiếu lâm được nhận diện là một loại truyện cười mang yếu tố tục mà thôi. Việc phân loại truyện cười thì thường được xác định theo hai tiêu chí, tiêu chí về nội dung phản ánh (phân làm truyện khôi hài, truyện trào phúng và truyện tiếu lâm), và tiêu chí phân loại theo kết cấu của truyện: truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi. Các tác giả giáo trình Lich sử văn học Việt Nam [52] của Đại học sư phạm chia truyện cười thành ba loại: truyện khôi hài, truyện trào phúng và truyện tiếu lâm.
Như vậy, theo như cách phân chia này thì truyện tiếu lâm thuộc một phần của truyện Cười. GS Dinh Gia Khánh và PGS Chu Xuân Diên trong giáo trình Văn hoc dan gian chủ trương chia làm hai loại: truyện khôi hài và truyện trào phúng nhưng lại xác định truyện tiếu lâm là những truyện khôi hài và trào phúng mang yếu tố tục. Trong Tir điển văn học, ở mục từ “văn học dân gian” [28, tr. 1842 -1844] thì Chu Xuân Diên lại phân chia truyện cười thành bốn loại: truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện cười hệ thống, và truyện tiếu lâm.
Như vậy tác giả xác định truyện tiêu lâm thuộc vào một phân loại của truyện cười. Theo tiêu chí kết cấu thì truyện cười có hai nhóm lớn, truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi. Truyện cười kết chuỗi gồm có hai nhóm nhỏ là truyện về nhân vật trung tâm là đối tượng của tiếng cười phê phán (truyện Trạng Lợn) và nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là người được ca ngợi, thán phục, đã dũng cảm, mưu trí đấu tranh chống cái xấu, cái ác (Trạng Quỳnh). Truyện cười không kết chuỗi có thể chia thành ba tiểu loại (dựa theo tính chất phê phán, tính hài hước và thách thức phản ánh hiện thực): truyện khôi hài (giải trí là chủ yếu), truyện trào phúng (phê phán là chủ yếu), truyện tiếu lâm (có yếu tố tục).
17 Nhìn chung, việc phân loại truyện cười hay truyện tiếu lâm ở nước ta đúng như Kiều Thu Hoạch khẳng định: “ở nước ta, việc phân loại truyện cười đang còn rất lúng túng và vẫn là vấn đề đang còn phải bàn luận” [12]. Truyện Tiếu lâm trong văn học dân gian Việt Nam “Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp nhân dân lao động, ra đời từ thời công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tai trong thời đại hiện nay” [4, tr. Có thể nói văn học dân gian chính là cuốn bách khoa toàn tư của nhân dân ta. Ở đó chứa đựng toàn bộ những hiểu biết của nhân dân về cuộc sống, thiên nhiên, con người và các triết lý sống.
Nó được thể hiện đa dang trong các thé loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân ca, vẻ, tục ngữ, câu đô. Truyền thuyết, thần thoại thể hiện thế giới quan của con người trong xã hội nguyên thủy; bài hát lao động thể hiện mối quan hệ giữa văn học dân gian với các hoạt động lao động thực tiễn: các bài hát ru, hát đưa ma, hát đối đáp.