Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ âm nhạc học với đề tài Phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam, mã số 62 21 02 01, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thiều Hương thực hiện tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Tú Hương.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Âm nhạc thính phòng và giao hưởng Việt Nam là một bộ phận của nền âm nhạc mới Việt Nam, thực sự hình thành và phát triển từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX cùng với sự ra đời của các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, nhà hát, dàn nhạc và quá trình cử nhạc sĩ đi đào tạo tại nước ngoài. Trong tiến trình xây dựng và phát triển nền khí nhạc, các nhạc sĩ Việt Nam vừa tiếp thu các thành tựu của âm nhạc phương Tây về hòa âm, phối khí, hình thức, thể loại và thủ pháp phức điệu, vừa chú trọng khai thác chất liệu âm nhạc cổ truyền dân tộc.
Trong tư duy âm nhạc truyền thống Việt Nam cũng như phương Đông, sự phát triển theo chiều ngang — tương đồng với lối tư duy phức điệu — luôn giữ vai trò chủ đạo. Nhằm thể hiện tính dân tộc, các nhạc sĩ đã kết hợp kỹ thuật phức điệu phương Tây với tư duy âm nhạc chiều ngang truyền thống. Mặc dù các công trình trước đây đã đề cập đến các khía cạnh khí nhạc hoặc phân tích tác phẩm đơn lẻ, việc nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về sự kế thừa phức điệu phương Tây và sự tiếp thu tư duy chiều ngang dân tộc trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Sự vận dụng các hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
- Nguồn chất liệu âm nhạc để xây dựng những đoạn phức điệu bằng ngôn ngữ dân tộc.
- Sự tiếp thu và vận dụng phương pháp bè tòng của hoà tấu cổ truyền Việt Nam trong tác phẩm thính phòng giao hưởng nhằm thể hiện tinh thần dân tộc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây được vận dụng trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
- Các tìm tòi nhằm thể hiện bản sắc dân tộc trong việc sử dụng hình thức và thủ pháp phức điệu của các nhạc sĩ Việt Nam.
- Sự tiếp thu và vận dụng nguyên tắc bè tòng trong hòa tấu cổ truyền Việt Nam ở các tác phẩm thính phòng - giao hưởng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thể loại: Tác phẩm thính phòng viết cho nhạc cụ phương Tây (độc tấu piano, song tấu, tam tấu, tứ tấu...) và tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng (ouverture, ballade, rhapsody, concerto cho nhạc cụ phương Tây hoặc nhạc cụ dân tộc cùng dàn nhạc giao hưởng, giao hưởng thơ, tổ khúc giao hưởng, liên khúc giao hưởng nhiều chương).
- Giới hạn nội dung: Khảo sát các tác phẩm chủ điệu của nhạc sĩ Việt Nam có những chương, những phần sử dụng phức điệu.
- Tư liệu khảo sát: Khảo sát 120 tác phẩm đáp ứng tiêu chí đã được in ấn, phổ biến, công diễn, được sử dụng làm giáo trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các cơ sở đào tạo âm nhạc tại Việt Nam, hoặc đã đạt giải thưởng trong các kỳ thi khí nhạc trong nước và quốc tế.
- Giới hạn loại trừ: Không khảo sát các phần khí nhạc trong hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc phim và các tác phẩm viết ở hình thức phức điệu độc lập hoàn toàn (như Invention, Fugue độc lập).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa 21 tài liệu nghiên cứu liên quan đến âm nhạc phức điệu tại Việt Nam, bao gồm giáo trình dịch, sách chuyên khảo và các công trình lý luận âm nhạc:
- Giáo trình và tài liệu dịch chuyên ngành: Cuốn Sách giáo khoa phức điệu của S.Miuler (do Nguyễn Xinh dịch, Nhạc viện Hà Nội xuất bản năm 1997) chia chương trình thành hai phần: lối viết nghiêm khắc (thế kỷ XV - XVI) và lối viết tự do (thế kỷ XVII trở đi).
- Sách chuyên khảo và giáo trình trong nước: Cuốn Phức điệu thực hành của Hoàng Đạm (Nxb Âm nhạc, 1997) trình bày các loại hình phức điệu chủ chốt và ứng dụng vào cách viết tự do; các giáo trình của Phạm Tú Hương gồm Sách giáo khoa phức điệu (Nhạc viện Hà Nội, 1998) và Phức điệu (Giáo trình bậc ĐH) (Trường ĐH Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Nxb Quân đội Nhân dân, 2006) phân chia hai giai đoạn phức điệu nghiêm khắc và tự do; cuốn Phức điệu nghiêm khắc của Cù Lệ Duyên (Nhạc viện Hà Nội, 2004) đi sâu vào thủ pháp phức điệu thời kỳ Phục hưng.
- Sách lịch sử và phân tích tác phẩm: Lịch sử âm nhạc thế giới tập 1 của Nguyễn Xinh (Nhạc viện Hà Nội, 1983) và Lịch sử âm nhạc thế giới của Nguyễn Thị Nhung (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008) trình bày sự phát triển phức điệu theo tiến trình lịch sử; Phân tích tác phẩm của Nguyễn Thị Nhung định nghĩa cấu tạo chủ điệu và phức điệu; Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong thế kỷ XX của Phạm Phương Hoa khảo sát sự kết hợp kỹ thuật phức điệu cổ điển với ngôn ngữ hiện đại.
- Nghiên cứu về thang âm, điệu thức cổ truyền: Các công trình nghiên cứu thang âm, điệu thức truyền thống của Lư Nhất Vũ và Nguyễn Thụy Loan.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình đã công bố chủ yếu giới thiệu lý thuyết phức điệu phương Tây hoặc phân tích yếu tố phức điệu một cách tản mạn trong các công trình phân tích tác phẩm tổng quát. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống về việc vận dụng các hình thức, thủ pháp phức điệu phương Tây gắn liền với sự tiếp thu tư duy chiều ngang và nguyên tắc bè tòng của âm nhạc cổ truyền dân tộc trong 120 tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm
- Chủ điệu (Homophony) và Phức điệu (Polyphony): Luận án dựa trên định nghĩa từ Từ điển Harvard về âm nhạc, Từ điển Oxford về âm nhạc minh họa bằng hình ảnh, giáo trình của Phạm Tú Hương và Nguyễn Thị Nhung. Chủ điệu là kết cấu nhiều bè gồm một bè giai điệu chính và các bè đệm hòa âm; phức điệu là hình thức âm nhạc nhiều bè trong đó mỗi bè là một giai điệu có tính độc lập tương đối.
- Thủ pháp phức điệu:
- Phức điệu tương phản: Kết hợp các giai điệu có cá tính riêng và phát triển độc lập, bao gồm đối vị đơn giản và đối vị phức tạp (đối vị chuyển động chiều dọc tính theo chỉ số $I_v$, đối vị đảo ảnh).
- Phức điệu mô phỏng: Sự xuất hiện lần lượt của cùng một giai điệu ở các bè khác nhau, gồm mô phỏng đơn giản, canon, stretto (mô phỏng dồn), mô phỏng đảo ảnh.
- Ostinato: Kỹ thuật âm hình trì tục ở bè trầm.
- Thang âm và điệu thức:
- Điệu thức phương Tây: Hệ thống 7 âm trưởng/thứ và các điệu thức diatonique tự nhiên thời Trung cổ.
- Điệu thức 5 âm cổ truyền Việt Nam: Tổng hợp nghiên cứu của Lư Nhất Vũ và Nguyễn Thụy Loan, luận án quy chuẩn 13 thang 5 âm (lấy nốt Đô làm âm gốc) gồm điệu Bắc, Nam ai, Nam xuân, Cung, Giốc, hệ thống điệu Oán và các dạng điệu thức đặc trưng Tây Nguyên.
- Khái niệm âm nhạc dân tộc: Lòng bản (giai điệu cốt lõi, mô hình bài bản ước lệ), Bè tòng (dạng phân điệu - heterophony, trong đó một bè dẫn dắt và các bè khác biến hóa họa lại âm điệu chính), Chữ chính đồng âm.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phân tích - tổng hợp: Phân tích bản nhạc (tổng phổ) để nhận diện các nhân tố phức điệu, cấu trúc hình thức và thủ pháp dân tộc.
- So sánh - đối chiếu: Đối chiếu tần suất, vị trí và mức độ sử dụng các thủ pháp phức điệu phương Tây và thủ pháp dân tộc qua các thời kỳ sáng tác.
- Phương pháp nghị luận: Đánh giá quy luật kết hợp giữa các yếu tố phương Tây và bản sắc dân tộc.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tiến hành phỏng vấn, trao đổi học thuật và xin ý kiến của các nhạc sĩ sáng tác và các nhà nghiên cứu âm nhạc.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Luận án sử dụng tư liệu gồm 120 tổng phổ tác phẩm khí nhạc thính phòng và giao hưởng Việt Nam của nhiều thế hệ nhạc sĩ (Nguyễn Văn Thương, Đỗ Nhuận, Hoàng Việt, Nguyễn Đình Tấn, Đàm Linh, Nguyễn Văn Nam, Doãn Nho, Vĩnh Cát, Nguyễn Thị Nhung, Thế Bảo, Ca Lê Thuần, Hoàng Cương, Đặng Hữu Phúc, Đỗ Hồng Quân, Trọng Đài, Vũ Nhật Tân, Trần Mạnh Hùng...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận - Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết về thuật ngữ chuyên ngành và phân kỳ lịch sử phức điệu phương Tây thành hai giai đoạn:
- Phức điệu nghiêm khắc (thế kỷ XIV - XVI): Gắn liền với nghệ thuật hợp xướng A cappella thời Phục hưng tại các trường phái Ý (Rome với G.Palestrina, Venise với A.Willaert), Pháp (G.de Machaut, thể loại Chansons), Hà Lan (Josquin des Prez). Đặc trưng bởi việc sử dụng điệu thức diatonique cổ, hạn chế biến âm và tránh âm nghịch ở phách mạnh.
- Phức điệu tự do (từ thế kỷ XVII đến nay): Phát triển mạnh trong khí nhạc với sự xuất hiện của hình thức Fugue:
- Thế kỷ XVII - nửa đầu XVIII: G.Frescobaldi mở đường; J.S.Bach đưa phức điệu lên đỉnh cao qua Nghệ thuật fugue và hai tập Bình quân luật (The Well-Tempered Clavier).
- Nửa cuối XVIII - đầu XIX (Cổ điển Viên): J.Haydn, W.A.Mozart, L.v.Beethoven kết hợp phức điệu vào tác phẩm chủ điệu qua ba phương thức (fugue là một phần của tác phẩm, sử dụng fugato, vận dụng thủ pháp phức điệu).
- Thế kỷ XIX (Chủ nghĩa Lãng mạn): F.Mendelssohn, R.Schumann, F.Liszt, P.Tchaikovsky, F.Chopin, M.Glinka, M.Mussorgsky, J.Brahms, M.Reger, G.Mahler khai thác đường tuyến giai điệu và biểu hiện hình tượng tương phản.
- Thế kỷ XX: A.Schoenberg, I.Stravinsky, B.Bartok, S.Prokofiev, P.Hindemith, D.Shostakovich, R.Schedrin, K.Penderecki kết hợp kỹ thuật phức điệu cổ điển với ngôn ngữ hiện đại.
Tác giả lập bảng tổng hợp tiến trình chuyển dịch điệu tính chủ đề theo vòng quãng 5 trong chương I tác phẩm Music for Strings, Percussion and Celesta của Bela Bartok:
| Số nhịp |
Nhạc cụ diễn tấu |
Thủ pháp phát triển |
Điệu tính chủ đề (Quãng 5 đi lên) |
Điệu tính chủ đề (Quãng 5 đi xuống) |
| 1 |
Vla |
Chủ đề nguyên thể |
A |
A |
| 4 |
Vln 3, 4 |
Mô phỏng nguyên dạng quãng 5 đúng |
E |
|
| 8 |
Vc |
Mô phỏng nguyên dạng quãng 5 đúng |
|
D |
| 12 |
Vln 1, 2 |
Mô phỏng nguyên dạng quãng 5 đúng |
H |
|
| 16 |
Cb |
Mô phỏng nguyên dạng quãng 5 đúng |
|
G |
| 26 |
Vln 1, 2 + Cb |
Stretto |
Fis |
C |
| 27 |
Vc |
Stretto biến đổi |
|
F |
| 33 |
Vla |
Chủ đề cắt ngắn một phần và biến đổi |
Cis |
|
| 34 |
Vln 2 |
Một phần chủ đề biến đổi kết hợp stretto |
Gis |
|
| 35 |
Vla + Vc |
Chủ đề biến đổi |
|
B |
| 44 |
Vln 1, 2 |
Chủ đề biến đổi |
Dis = Es |
Es |
Chương 1 cũng tổng quan 21 tài liệu nghiên cứu phức điệu tại Việt Nam và chỉ ra tính cấp thiết của đề tài.
Chương 2: Hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam
Chương 2 phân tích sự hiện diện của các hình thức và kỹ thuật phức điệu phương Tây trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam:
- Các hình thức fugue:
- Fugue một chủ đề: Xuất hiện trong chương II Tứ tấu đàn dây của Thế Bảo, chương II Concerto giọng Es dur của Ca Lê Thuần, chương II giao hưởng Không chỉ là huyền thoại của Vĩnh Cát, Sonate Polyphonique của Đặng Hữu Phúc.
- Fugue nhiều chủ đề: Fugue ba chủ đề trong giao hưởng thơ Tuổi trẻ anh hùng của Vĩnh Cát, fugue hai chủ đề trong chương I Sonate in C của Hoàng Cương.
- Hình thức hỗn hợp: Kết hợp fugue với các nguyên tắc biến tấu và cấu trúc sonate.
- Sử dụng fugato:
- Mở đầu chương nhạc hoặc tác phẩm: Chương II Giao hưởng số 1 của Vĩnh Cát, chương II giao hưởng Dáng rồng lên của Đỗ Hồng Quân, Tứ tấu dây Âm thanh đồng bằng của Ca Lê Thuần.
- Trong cấu trúc tác phẩm: Tạo kịch tính trong chương IV Giao hưởng số 7 và chương I Ngũ tấu dây và piano của Nguyễn Văn Nam, Tam tấu Về làng của Đỗ Kiên Cường.
- Thủ pháp phức điệu:
- Phức điệu tương phản: Sử dụng đối vị đơn giản và đối vị phức tạp (đối vị chuyển động chiều dọc, đối vị đảo ảnh) trong các tác phẩm của Chu Minh (Miền Nam tuyến đầu, Tam tấu), Nguyễn Đình Tấn (Những cánh chim không mỏi, Ngọn lửa của tình yêu), Trần Mạnh Hùng (Tứ tấu dây số 2, Hào khí Thăng Long, Bạch Đằng Giang), Đỗ Hồng Quân (Giao hưởng Mở đất, Concerto cho violin), Hoàng Cương (Vũ hội đêm rằm).
- Phức điệu mô phỏng: Ứng dụng canon hai đến năm bè, mô phỏng tự do, stretto trong Pizzicato Việt Nam của Đặng Hữu Phúc, Không gian của Vũ Nhật Tân, Kể chuyện sông Hồng của Huy Du, Giao hưởng số 3 của Nguyễn Văn Nam.
- Phức điệu tương phản kết hợp mô phỏng và Ostinato: Xuất hiện trong giao hưởng Cuộc đối đầu lịch sử của Vĩnh Cát, Cửu Long mênh mông và Tháng 3 Tây Nguyên của Thế Bảo.
Chương 3: Khai thác các yếu tố mang bản sắc dân tộc khi sử dụng hình thức và các thủ pháp phức điệu
Chương 3 làm rõ các phương thức dân tộc hóa kỹ thuật phức điệu:
- Nguồn chất liệu âm nhạc:
- Âm nhạc dân tộc cổ truyền: Khai thác dân ca Quan họ Bắc Ninh (Người ơi người ở đừng về của Nguyễn Phúc Linh), dân ca Sông Bé (Lý rẫy lý vườn trong Giao hưởng số 6 của Nguyễn Văn Nam), dân ca Nam Bộ (Lý con cua), xẩm xoan (trong Tam tấu Về làng của Đỗ Kiên Cường), âm nhạc Tây Nguyên (Capriccio Tây Nguyên của Đặng Hồng Anh), nghệ thuật chèo và tuồng trong các tác phẩm của Đỗ Hồng Quân (Giao hưởng Mở đất, Trổ một, Dáng rồng lên, Trống hội, Đối thoại), Nguyễn Văn Nam (Giao hưởng Chuyện nàng Kiều, Phật nghìn tay nghìn mắt, Giao hưởng số 8).
- Giai điệu ca khúc đương đại: Đưa chủ đề ca khúc vào kết cấu phức điệu trong Giao hưởng Đất nước của Nguyễn Đức Toàn, Người về đem tới niềm vui của Trọng Bằng, Trở về đất mẹ của Nguyễn Văn Thương.
- Ngữ điệu tiếng nói: Ứng dụng ngữ điệu tiếng Việt và âm hưởng tiếng rao trong giao hưởng Tiếng rao của Trọng Đài, Concertino Biển quê hương của Trần Quý, Hòa tấu Thăng Long của Đàm Linh.
- Biến hóa lòng bản và bè tòng trong âm nhạc cổ truyền:
- Khảo sát nguyên tắc phát triển giai điệu dựa trên "lòng bản" (giai điệu lõi) và xử lý "chữ chính đồng âm" tại các phách mạnh, điểm kết câu.
- Tiếp thu nguyên tắc bè tòng (phân điệu / heterophony) kết hợp với kỹ thuật đối vị và mô phỏng phương Tây, tạo nên cấu trúc nhiều bè trong các tác phẩm của Ca Lê Thuần (Tứ tấu dây Âm thanh đồng bằng, Ballade Symphonie), Đàm Linh (Hòa tấu Thăng Long), Nguyễn Văn Nam (Giao hưởng số 3), Đặng Hữu Phúc (Pizzicato Việt Nam), Phạm Minh Khang (Giao hưởng thơ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Phân tích và hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm của âm nhạc phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam qua các thời kỳ phát triển.
- Xác định cụ thể các phương thức tiếp thu và vận dụng hình thức, thủ pháp phức điệu phương Tây (fugue, fugato, canon, stretto, ostinato, đối vị chuyển động chiều dọc, đối vị đảo ảnh) trong tác phẩm chủ điệu của các nhạc sĩ Việt Nam.
- Làm sáng tỏ các phương thức khai thác chất liệu âm nhạc cổ truyền (thang 5 âm, giai điệu dân ca, ngữ điệu tiếng nói) và việc vận dụng nguyên tắc biến hóa lòng bản, bè tòng dân tộc trong sáng tác khí nhạc nhiều bè.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đóng góp luận cứ khoa học và tư liệu chuyên môn phục vụ công tác sáng tác khí nhạc và nghiên cứu lý luận âm nhạc tại Việt Nam.
- Cung cấp nguồn tư liệu phân tích tổng phổ phục vụ việc bổ sung, hoàn thiện giáo trình giảng dạy môn Phức điệu và môn Phân tích tác phẩm âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cũng như các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trên toàn quốc.
- Tạo nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhạc sĩ, giảng viên và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực khí nhạc phức điệu Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong 120 tác phẩm thính phòng - giao hưởng do điều kiện in ấn, xuất bản, lưu trữ và công diễn các tác phẩm khí nhạc tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng tác phẩm đã sáng tác.
- Luận án không khảo sát các phần khí nhạc trong các thể loại thanh xướng kịch, hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc phim.
- Luận án không khảo sát các tác phẩm được viết hoàn toàn dưới dạng hình thức phức điệu độc lập (như Invention, Fugue độc lập).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang lĩnh vực khí nhạc trong nghệ thuật sân khấu ca kịch múa, nhạc phim và các tác phẩm hợp xướng có phần đệm dàn nhạc giao hưởng.
- Nghiên cứu các tác phẩm viết ở hình thức phức điệu độc lập của các tác giả Việt Nam nhằm đánh giá toàn diện hơn về kỹ thuật đối vị chuyên sâu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Âm nhạc học, Sáng tác âm nhạc, Chỉ huy dàn nhạc, Lý luận âm nhạc tại các học viện âm nhạc, nhạc viện và trường đại học văn hóa nghệ thuật.
- Giảng viên âm nhạc: Giảng dạy môn Phức điệu, Phân tích tác phẩm, Lịch sử âm nhạc Việt Nam; có thể trích xuất các ví dụ nhạc và sơ đồ phân tích cấu trúc trong luận án để làm học liệu giảng dạy thực hành.
- Nhạc sĩ sáng tác và nhà nghiên cứu lý luận: Tham khảo phương pháp kết hợp các thủ pháp phức điệu phương Tây với các yếu tố âm nhạc truyền thống dân tộc (thang âm 5 âm, lòng bản, bè tòng).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn 120 tác phẩm khí nhạc khảo sát dựa trên những tiêu chí nào?
Tác giả lựa chọn 120 tác phẩm thính phòng - giao hưởng theo hai tiêu chí chính: (1) Các tác phẩm đã được in ấn, phổ biến, công diễn hoặc được sử dụng làm giáo trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các cơ sở đào tạo âm nhạc tại Việt Nam; (2) Các tác phẩm đã đạt giải thưởng trong các kỳ thi khí nhạc trong nước và quốc tế.
2. Sự phân chia hai giai đoạn phát triển của phức điệu phương Tây được xác định như thế nào trong luận án?
Luận án phân chia lịch sử phức điệu phương Tây thành hai giai đoạn theo phong cách nghệ thuật: (1) Giai đoạn Phức điệu viết theo lối nghiêm khắc (thế kỷ XIV - XVI, thời kỳ Phục hưng), chủ yếu phát triển trong nghệ thuật hợp xướng A cappella với các quy tắc khắt khe về điệu thức diatonique cổ và xử lý âm nghịch; (2) Giai đoạn Phức điệu viết theo lối tự do (từ thế kỷ XVII đến nay), phát triển chủ yếu trong khí nhạc với đỉnh cao là hình thức Fugue và hệ thống điệu thức trưởng - thứ.
3. Hệ thống thang âm 5 âm dân tộc Việt Nam được quy chuẩn trong luận án gồm những dạng thức nào?
Dựa trên các nghiên cứu của Lư Nhất Vũ và Nguyễn Thụy Loan, tác giả lấy nốt Đô làm âm gốc để xác lập 13 thang 5 âm cổ truyền, phân loại thành: điệu Bắc (tương đương điệu Chủy), điệu Nam ai (tương đương điệu Vũ), điệu Nam xuân (tương đương điệu Thương), điệu Cung, điệu Giốc, hệ thống điệu Oán và các biến thể, cùng 3 dạng điệu thức đặc trưng của âm nhạc Tây Nguyên.
4. Thuật ngữ "bè tòng" (Heterophony) được định nghĩa và vận dụng như thế nào trong luận án?
Bè tòng (hay phân điệu) là hình thức trình bày âm nhạc nhiều bè trong diễn tấu truyền thống, trong đó có một bè mang ý nghĩa dẫn dắt, các bè còn lại trình bày biến hóa và họa lại các âm điệu điển hình nhất của bè chính dựa trên quy tắc giữ chữ chính đồng âm ở phách mạnh và kết câu. Các nhạc sĩ Việt Nam đã tiếp thu nguyên tắc này kết hợp với kỹ thuật đối vị và mô phỏng phương Tây để xây dựng các cấu trúc phức điệu mang âm hưởng dân tộc.
5. Các nhạc sĩ thời kỳ Cổ điển Viên đã vận dụng phức điệu vào tác phẩm chủ điệu theo những phương thức nào?
Trong các tác phẩm chủ điệu thời kỳ Cổ điển Viên (J.Haydn, W.A.Mozart, L.v.Beethoven), phức điệu được vận dụng qua ba phương thức: (1) Đưa hình thức fugue hoàn chỉnh làm một chương hoặc một phần của liên khúc sonate, giao hưởng, tứ tấu; (2) Sử dụng các đoạn fugato mở đầu chương nhạc hoặc làm phần phát triển tăng cường kịch tính; (3) Vận dụng linh hoạt các thủ pháp phức điệu tương phản (đối vị đơn giản, đối vị chuyển chỗ) và phức điệu mô phỏng (canon, stretto).
Kết luận
Luận án Phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thiều Hương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Âm nhạc học, phân tích có hệ thống việc tiếp thu các hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây trong mối quan hệ với tư duy âm nhạc chiều ngang và nguyên tắc bè tòng của âm nhạc truyền thống Việt Nam qua 120 tác phẩm khí nhạc tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu làm rõ các phương thức xử lý chất liệu dân ca, điệu thức 5 âm, biến hóa lòng bản trong cấu trúc đa bè của khí nhạc chuyên nghiệp. Công trình đóng góp tư liệu lý luận và thực tiễn cho công tác nghiên cứu, sáng tác và giảng dạy chuyên ngành Phức điệu và Phân tích tác phẩm tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp tại Việt Nam.