Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trí tuệ và phát triển năng lực trí tuệ 1. Những khái niệm liên quan đến năng lực trí tuệ 1.
Khái niệm năng lực Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [38, tr. Năng lực là khả năng đủ để làm việc gì [24, tr. Theo từ điển Bách khoa, năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ.
Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu, song không phải là bẩm sinh mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân [50, tr. Theo tâm lý học, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo hay các phẩm chất tâm lý của cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Qua các công trình nghiên cứu tổng hợp về các đặc điểm tâm lý khác nhau của năng lực con người cho phép phân loại chúng thành các năng lực chung và các năng lực riêng [11, tr. Năng lực là một giá trị thực tiễn quý nhất của con người: giá trị tạo ra sự sống, nhà kinh tế học người Anh Adam Smit (1723 - 1790) gọi là “năng lực có ích”, ông coi năng lực, tài năng của con người là một thứ vốn như các thứ vốn khác như đất đai, máy móc, nhà xưởng,.
Quá trình hình thành loài người là quá trình hình thành năng lực: trí tuệ, tư duy, sáng tạo… [23, tr. Năng lực là quá trình dùng vốn liếng do các quá trình, trạng thái tâm lý của bản thân mang lại vào một công việc nào đấy để đạt một kết quả theo mục đích, động cơ đã đề ra. luan an 6 Năng lực là đặc điểm tâm lý của từng người chuyển tiềm năng, khả năng thành sức mạnh thực - tổ chức, sắp xếp các thành tố tâm lý tương ứng, tạo nên “công cụ tâm lý” - sức từng người thực hiện một việc nào đấy [23, tr. Từ những quan điểm đó, Trần Thị Thanh Thủy (2016) đưa ra định nghĩa: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức kỹ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [46, tr.
Trong lĩnh vực thể thao: Năng lực là đặc điểm tâm sinh lý riêng của cá nhân chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả một hoạt động nhất định [56, tr. Bản chất của thuộc tính năng lực của con người thể hiện ở chất lượng biểu hiện của một chức năng nào đó. Năng lực được thể hiện trong những hoạt động cụ thể. Mỗi hoạt động đều có yêu cầu riêng, đòi hỏi con người thực hiện hoạt động ấy phải đáp ứng và gần như toàn bộ các thuộc tính của cá nhân đều giúp con người thực hiện hoạt động ấy.
Thế nhưng không phải bất cứ thuộc tính nào của các nhân cũng phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó. Có năng lực hay không có năng lực chính là có sự phù hợp giữa một bên là yêu cầu của hoạt động và một bên là các thuộc tính cá nhân. Khi đề cập đến những thuộc tính cá nhân của năng lực thì bao gồm cả những đặc điểm tâm lý (như tư duy, trí tuệ, đặc điểm của trí nhớ…) và những đặc điểm giải phẫu, sinh lý (những đặc điểm của hệ thần kinh). Tuy nhiên, không phải toàn bộ những thuộc tính của cá nhân mà chỉ có những thuộc tính phù hợp yêu cầu hoạt động trực tiếp góp phần làm cho hoạt động đó đạt kết quả cao.
Năng lực phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lý và trước hết hệ thần kinh trung ương của con người), song không phải là bẩm sinh, mà qua luan an 7 kết quả phát triển của xã hội và con người (đời sống xã hội, giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). Tóm lại, từ những khái niệm trên cho thấy: Năng lực nảy sinh trên nền những khả năng, là một bậc phát triển cao hơn khả năng. Năng lực có thể do bẩm sinh, di truyền, nhưng phần lớn các năng lực của con người có được là do giáo dục và rèn luyện mà có. Năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm lý (như tư duy, trí tuệ, đặc điểm của trí nhớ…) và những đặc điểm giải phẫu, sinh lý (những đặc điểm của hệ thần kinh) tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Những phẩm chất này có quan hệ qua lại, kết hợp chặt chẽ với nhau. Khái niệm trí tuệ Ít có lĩnh vực nào trong khoa học và trong sinh hoạt lại có nhiều tên gọi như lĩnh vực trí tuệ: trí tuệ, trí khôn, trí lực, trí thông minh. Tuy vậy, để thuận lợi cho việc trao đổi nội dung khoa học của nó, cần có sự thống nhất về thuật ngữ. Mặc dù, sự thống nhất này chỉ có tính tương đối.
Trong tiếng Latinh, trí tuệ nghĩa là hiểu biết, thông tuệ. Theo một số nhà khoa học và từ điển tiếng Việt giải thích: Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định (trí tuệ minh mẫn) [24, tr. Hiện nay trong lĩnh vực tâm lý học, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ, thể hiện sự phong phú, đa dạng trong nghiên cứu trí tuệ. Tuy nhiên, chưa có tiếng nói chung về sự thống nhất trong tâm lý học trí tuệ.
Có thể khái quát các định nghĩa về trí tuệ thành 3 nhóm chính: 1) Trí tuệ là khả năng học tập của cá nhân (B.Ananhev); 2) Đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân (A.Cotxchuc…); 3) Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân với ngoại cảnh (W. luan an 8 Các nhóm quan niệm này của các nhà khoa học không loại trừ nhau mà chỉ nhấn mạnh một mặt, một khía cạnh nào đó của trí tuệ chứ chưa bao quát được khái niệm trí tuệ cá nhân [31, tr. Theo quan niệm thứ nhất, trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó. Mối quan hệ giữa học tập với trí tuệ có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Nhóm quan niệm thứ hai đã quy hẹp khái niệm trí tuệ vào các thành phần cốt lõi của nó là tư duy. Theo nhóm quan điểm này thì năng lực trí tuệ chủ yếu là năng lực tư duy, nó phù hợp với đặc điểm hoạt động tâm lý (tư duy) của môn Cờ Vua. Nhóm quan niệm thứ ba coi trí tuệ là khả năng thích ứng cá nhân. Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin, giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với những tình huống mới nảy sinh.
Theo từ điển tâm lý học, trí tuệ về cơ bản để chỉ các đặc điểm cá nhân liên quan đến lĩnh vực nhận thức, trước hết là tư duy, trí nhớ, tri giác, chú ý… Trí tuệ được hiểu là mức độ phát triển nhất định của hoạt động tư duy của nhân cách, đảm bảo khả năng đạt được các tri thức mới và sử dụng chúng có hiệu quả trong các hoạt động sống, là khả năng thực hiện quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề có hiệu quả. Trí tuệ - là cấu trúc năng lực trí tuệ tương đối bền vững của cá nhân. Trong một số quan điểm thì người ta đồng nhất trí tuệ với: Hệ thống các thao tác trí tuệ; Cách thức và chiến lược giải quyết vấn đề; Cách thức nhận thức… [11, tr. Theo tâm lý học phương tây: Trí tuệ là sự thích nghi tâm sinh học với các hoàn cảnh hiện có của cuộc sống (W.Piagie và những người khác).
Các nhà tâm lý học người Pháp A.Ximon đã đề xuất việc xác định mức độ tài năng trí tuệ nhờ các bài test chuyên biệt. Theo họ, trí tuệ là những khả năng thực hiện những bài tập thích hợp, khả năng tham gia một luan an 9 cách có hiệu quả vào cuộc sống văn hóa, xã hội và khả năng thích ứng thành công. Với mục đích hoàn thiện phương pháp chẩn đoán trí tuệ, các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra cấu trúc trí tuệ. Đồng thời các tác giả đã chia số lượng các “nhân tố trí tuệ” thành các yếu tố khác nhau.
Xuất phát từ phương pháp luận Mác - Lênin, tâm lý học Xô Viết công nhận sự phụ thuộc của các năng lực trí tuệ của con người vào các điều kiện kinh tế - xã hội trong cuộc sống của họ [11, tr. Theo tâm lý học, trí tuệ là năng lực đặc thù của con người- đó là năng lực suy xét hoàn cảnh xung quanh, thông qua thu thập thông tin từ bên ngoài tới, xử lý thông tin bằng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, nêu vấn đề, hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề, thích nghi với hoàn cảnh, vượt qua hoàn cảnh, đúc kết, sáng tạo và vận dụng tri thức, quy luật, nâng dần phương thức sinh hoạt ngày càng hợp lý hơn, tạo nên các nền văn minh, văn hóa, truyền đạt cho nhau trong cộng đồng, cũng như trong thế hệ trẻ và các thế hệ nối tiếp nhau tiếp thu, duy trì, phát triển. Nói cách khác, trí tuệ ở con người là hiểu và suy nghĩ bằng tri thức giúp con người thích nghi với điều kiện ngoại cảnh tốt hơn [23]. “Trí tuệ” là năng lực suy xét, tìm ra và sử dụng sự suy xét giải quyết các vấn đề thực tiễn, năng lực này còn gọi là “thông tuệ”: thông minh, sáng suốt trong cuộc sống.
Có nghĩa là: “Trí tuệ”, “Thông tuệ”, “Thông minh”… là những từ ngữ có ý nghĩa tương đương với nhau [23, tr. Tuy nhiên, để có cách hiểu bao quát vấn đề trí tuệ cần tính đến những đặc trưng của nó: 1) Trí tuệ là yếu tố tâm lí có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lí khác của cá nhân. 2) Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân. Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể.