Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò đặt nền tảng ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Mục tiêu và nhiệm vụ này được quy định cụ thể tại Điều 21 và Điều 22 Luật Giáo dục (2005): giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một. Trong tâm lý học, lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn nhân cách bắt đầu hình thành với sự xuất hiện của các quá trình tâm lý có chủ định, tính tự ý thức và hệ thống động cơ. Trí nhớ giữ vai trò trung tâm tạo ra các yếu tố ban đầu của nhân cách, bởi kinh nghiệm cá nhân chỉ được tích lũy và vận hành thông qua các quá trình ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện. Theo luận điểm của Vygotsky, sự phát triển trí nhớ ở trẻ em là điểm quy tụ của các tri thức lý thuyết và thực tiễn về phát triển trí tuệ.
Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi), hoạt động vui chơi đạt đến dạng chính thức và giữ vai trò là hoạt động chủ đạo. Trẻ được tự do tiếp xúc với đồ vật, đồ chơi, đồng thời đáp ứng các yêu cầu mà người lớn đặt ra trong hoạt động, từ đó thúc đẩy trí nhớ phát triển phong phú và bền vững. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về trí nhớ trẻ mẫu giáo, tác giả Nguyễn Ngọc Ly nhấn mạnh thời điểm năm 2014 vẫn chưa có công trình nào khảo sát đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ trong điều kiện thực hiện "Chương trình giáo dục mầm non" mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/07/2009. Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tâm lý học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hai loại hình cụ thể: trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơi lắp ghép xây dựng. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng trí nhớ cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục mầm non.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về trí nhớ.
- Tìm hiểu hoạt động vui chơi của trẻ, trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơi lắp ghép xây dựng.
- Tìm hiểu thực trạng trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ.
- Đề xuất các biện pháp và thử nghiệm nhằm nâng cao trí nhớ cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ. Khách thể nghiên cứu được xác định là 30 trẻ đang học tại lớp mẫu giáo nhỡ 4–5 tuổi A, Trường Mầm non Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Giả thuyết khoa học được tác giả đặt ra: Trí nhớ không chủ định của trẻ mẫu giáo nhỡ chiếm ưu thế. Trí nhớ có chủ định bắt đầu được hình thành nhưng phát triển không đồng đều giữa các trẻ và vẫn ở mức độ thấp. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất xuất phát từ phương pháp tổ chức của giáo viên còn hạn chế tính tích cực trong hoạt động vui chơi của trẻ.
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài giới hạn khảo sát đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ trong phạm vi hai loại trò chơi (đóng vai theo chủ đề và lắp ghép xây dựng) tại Trường Mầm non Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong năm học 2013–2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm trí nhớ từ tâm lý học đại cương: trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải qua. Sản phẩm của trí nhớ là biểu tượng – hình ảnh của sự vật, hiện tượng nảy sinh trong óc khi không còn tác động trực tiếp vào giác quan, là kết quả của sự chế biến và khái quát hóa hình ảnh tri giác. Hoạt động trí nhớ vận hành qua 4 quá trình biện chứng:
- Quá trình ghi nhớ (tạo vết trên vỏ não và thiết lập mối liên hệ giữa tài liệu mới với kiến thức cũ), gồm ghi nhớ không chủ định (diễn ra tự nhiên theo xúc cảm, tính mới lạ) và ghi nhớ có chủ định (đòi hỏi mục đích, nỗ lực ý chí; chia thành ghi nhớ máy móc bằng cách lặp lại bề ngoài và ghi nhớ ý nghĩa dựa trên sự thông hiểu logic qua điểm tựa, thao tác tư duy, nói thầm, ôn tập).
- Quá trình giữ gìn (củng cố vết), gồm giữ gìn tích cực (tái hiện trong óc không cần tri giác lại) và giữ gìn tiêu cực (dựa trên lặp lại liên hệ bên ngoài).
- Quá trình tái hiện (làm sống lại nội dung đã lưu trữ), gồm nhận lại (khi tri giác lại đối tượng), nhớ lại (không cần tri giác lại đối tượng, chia thành nhớ lại có chủ định và không chủ định) và hồi tưởng (đòi hỏi nỗ lực trí tuệ cao).
- Quá trình quên (không làm sống lại được dấu vết tại thời điểm nhất định), biểu hiện ở các mức độ: quên hoàn toàn, quên cục bộ, quên tạm thời ("sực nhớ"); diễn ra theo quy luật quên cái tiểu tiết trước, cái cốt yếu sau, tốc độ quên ban đầu nhanh sau đó giảm dần.
Căn cứ vào mục đích hoạt động, tác giả tập trung vào hai loại hình chính: trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định. Về hoạt động vui chơi, khóa luận khẳng định ở tuổi mẫu giáo nhỡ, vui chơi đạt dạng chính thức với sự xuất hiện của "xã hội trẻ em" mang hai mối quan hệ song hành: quan hệ chơi (giữa các vai) và quan hệ thực (giữa các trẻ khi bàn bạc, phân công). Cấu trúc nhóm hình thành dư luận nhóm, hiện tượng thích nghi, các vị trí trung tâm, cô đơn và vai trò "thủ lĩnh" (chỉ huy tích cực hoặc chỉ huy tiêu cực). Tác giả phân tích sâu hai loại trò chơi không có luật:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề: Trò chơi giả bộ mô phỏng các mảng hiện thực của người lớn qua các vai chơi nghề nghiệp, sử dụng vật thay thế mang tính ước lệ, giúp trẻ dần thoát khỏi tính duy kỷ.
- Trò chơi lắp ghép xây dựng: Trẻ tự hình thành ý đồ để tạo ra mô hình, sản phẩm mang tính biểu trưng gắn liền với hoạt động tạo hình, đòi hỏi tri giác thẩm mỹ, tư duy hình tượng và khả năng diễn đạt quan hệ không gian.
Các đặc điểm tâm lý liên quan của trẻ 4–5 tuổi bao gồm: tri giác phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong nhận thức; tư duy trực quan hình ảnh chiếm ưu thế với các phép thử ngầm trong óc; tưởng tượng phần lớn chưa có chủ định; ngôn ngữ phát triển vốn từ khái quát, giữ chức năng nhập tâm lưu giữ biểu tượng và làm công cụ giao tiếp. Đồng thời, tác giả đối chiếu với các mục tiêu phát triển (thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - kỹ năng xã hội, thẩm mỹ) và các hình thức tổ chức (hoạt động học, chơi góc, chơi ngoài trời) trong Chương trình giáo dục mầm non theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm lý học và giáo dục học mầm non.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Theo dõi thái độ, tính tích cực, sự tương tác của 30 trẻ trong các giờ chơi góc gia đình, xây dựng.
- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế các bài tập khảo sát thực trạng mức độ ghi nhớ (bài tập đàm thoại sau chơi, bài tập nhận diện tranh - từ) và tổ chức thực nghiệm sư phạm hình thành có nhóm đối chứng.
- Phương pháp điều tra: Đàm thoại, phỏng vấn trực tiếp trẻ sau mỗi hoạt động chơi để kiểm tra khả năng tái hiện.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Thống kê mô tả, tính tỷ lệ phần trăm (%), lập bảng so sánh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 1 tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa tâm lý, hoạt động và trí nhớ. Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của P. Zinchenko tại Liên Xô khẳng định hiệu quả ghi nhớ phụ thuộc vào đối tượng của hoạt động: những nội dung cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ hành động sẽ được ghi nhớ chính xác, bền vững. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định ở mẫu giáo bé trí nhớ có chủ định chưa hình thành; quá trình này bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ, phát triển mạnh ở cuối tuổi mẫu giáo và chất lượng trí nhớ phụ thuộc trực tiếp vào tính tích cực hoạt động của trẻ. Nguyễn Thị Như Mai chỉ ra trẻ 3–4 tuổi chưa biết tự đặt mục đích nhớ, nhưng trẻ 5–7 tuổi đã biết sử dụng điểm tựa để ghi nhớ và nhớ lại qua thao tác thuận (mã hóa logic khi ghi nhớ) và thao tác ngược (giải mã khi nhớ lại). Lê Thị Minh Hà chứng minh việc hình thành hứng thú nhận thức, mục đích tự kiểm tra và các thao tác tư duy (so sánh, phân loại) trong hoạt động chơi giúp nâng cao rõ rệt trí nhớ có chủ định của trẻ 5–6 tuổi.
Tiếp đó, chương này hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, quy luật của 4 quá trình trí nhớ, phân tích đặc điểm hoạt động vui chơi đạt dạng chính thức ở lứa tuổi 4–5 tuổi, cơ chế hình thành "xã hội trẻ em", cùng cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề và trò chơi lắp ghép xây dựng. Cuối chương là sự liên hệ chặt chẽ giữa các đặc điểm nhận thức lứa tuổi (tri giác, tư duy trực quan hình ảnh, tưởng tượng, ngôn ngữ) với các mục tiêu, nội dung giáo dục trong Chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo nhỡ theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT.
Chương 2: Thực trạng trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua một số loại trò chơi
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng trên 30 trẻ lớp 4–5 tuổi A, Trường Mầm non Phúc Thắng thông qua 4 bài tập thực nghiệm cụ thể:
Thứ nhất, khảo sát trí nhớ không chủ định qua trò chơi đóng vai theo chủ đề: Tổ chức giờ chơi chủ đề "Gia đình" (thời gian 40–45 phút, góc chơi mẹ con với búp bê, đồ dùng ăn uống), sau đó đàm thoại để kiểm tra khả năng tái hiện của trẻ.
| Tiêu chuẩn đánh giá |
Số trẻ đạt |
Tỉ lệ (%) |
| 1. Nhớ tên trò chơi |
30 |
100% |
| 2. Nhớ các vai chơi |
25 |
83,3% |
| 3. Nhớ hành động của vai chơi |
15 |
50% |
Dữ liệu cho thấy 100% trẻ nhớ tên trò chơi do được tiếp xúc trực tiếp. Có 25 trẻ (83,3%) nhớ các vai chơi nhờ tính quen thuộc của chủ đề gia đình; tiêu biểu như cháu Trà My giải thích nhớ được vì thường xuyên chơi ở nhà, hay cháu Cẩm Tú tái hiện chính xác việc đóng vai mẹ chăm sóc, cho em bé ăn, lau mặt và đưa đi khám bệnh vì muốn giống mẹ thật. Ngược lại, 5 trẻ (16,7%) không nhớ đủ vai do mải đùa nghịch trong lúc chơi. Đáng chú ý, chỉ 50% trẻ nhớ chính xác hành động của vai chơi; 15 trẻ còn lại (50%) lúng túng hoặc trả lời rất sơ sài, tiêu biểu như cháu Thiệu Tâm chỉ trả lời được mẹ cho con ăn với thái độ thờ ơ, thiếu tập trung.
Thứ hai, khảo sát trí nhớ có chủ định qua bài tập tranh – từ: Cho 30 trẻ quan sát 4 bức tranh kèm từ ngữ tương ứng trong 1 phút và đọc nhiều lần: Tranh 1 ("con cá" – từ "nước"), Tranh 2 ("ngôi nhà" – từ "gia đình"), Tranh 3 ("máy bay" – từ "bầu trời"), Tranh 4 ("đôi dép" – từ "quần áo"). Sau đó gián đoạn bằng đàm thoại về gia đình, rồi che phần chữ, chỉ cho xem tranh để trẻ tái hiện lại từ.
| Mức độ ghi nhớ có chủ định |
Số trẻ (n=30) |
Tỉ lệ (%) |
| 1. Nhớ được từ của 4 bức tranh |
15 |
50,0% |
| 2. Nhớ được từ của 3 bức tranh |
8 |
26,6% |
| 3. Nhớ được từ của 2 bức tranh |
5 |
16,6% |
| 4. Nhớ được từ của 1 bức tranh |
2 |
6,6% |
| 5. Không nhớ được từ nào |
0 |
0% |
Kết quả phản ánh trí nhớ máy móc ở trẻ mẫu giáo nhỡ đã phát triển rõ nét. Tiêu biểu có cháu Trung Quân nhớ trọn vẹn và đọc đúng thứ tự các cặp từ tương ứng theo trình tự xuất hiện của tranh. Nhóm nhớ được 1–2 tranh (chiếm 23,2%) chủ yếu tập trung vào bức tranh mà bản thân thấy thích thú nhất, cho thấy việc ghi nhớ có chủ định vẫn chịu sự chi phối mạnh bởi yếu tố cảm xúc và sự hấp dẫn trực quan.
Thứ ba, khảo sát trí nhớ không chủ định qua trò chơi lắp ghép xây dựng: Tổ chức giờ chơi chủ đề "Giao thông" (40–45 phút, xây dựng đường phố, ngã ba, ngã tư, bãi đỗ xe bằng gạch, hàng rào, cây xanh, phương tiện giao thông).
| Tiêu chuẩn đánh giá |
Số trẻ đạt |
Tỉ lệ (%) |
| 1. Nhớ tên công trình xây dựng |
30 |
100% |
| 2. Nhớ đồ dùng để xây dựng |
24 |
80% |
| 3. Nhớ cách xây dựng công trình |
18 |
60% |
100% trẻ nhớ tên công trình. 80% trẻ nhớ chính xác đồ dùng, 6 trẻ còn lại (20%) trả lời nhầm lẫn sang đồ vật khác, như cháu Nam chỉ kể gạch, tường rào, cửa sổ, mái nhà vì nhầm lẫn sang mô hình xây nhà ở. Về cách xây dựng công trình, chỉ có 18 trẻ (60%) trình bày mạch lạc. Điển hình là cháu Trung Quân thuật lại chi tiết trình tự: xếp gạch làm đường, đặt ngã tư có cột đèn giao thông, vạch kẻ trắng cho người đi bộ, bố trí xe cộ, cây xanh, bãi đỗ xe và giải thích đặt tên là "đường Hồ Chí Minh" theo lời dạy của ông. Trong khi đó, 12 trẻ (40%) gặp khó khăn do thiếu tập trung hoặc thiếu kinh nghiệm thực tế ngoài đời sống, như trường hợp cháu Nhật Anh ít được tham gia giao thông đường phố nên vốn biểu tượng rất nghèo nàn.
Thứ tư, khảo sát trí nhớ có chủ định qua trò chơi lắp ghép xây dựng: Yêu cầu trẻ tham gia trò chơi "Xây khu tập thể", giao nhiệm vụ định trước về các khối hình, vị trí đặt mái, vườn hoa, lối đi.
| Tiêu chuẩn đánh giá |
Số trẻ trả lời đúng |
Tỉ lệ (%) |
| 1. Nhớ tên ngôi nhà |
30 |
100% |
| 2. Nhớ nguyên vật liệu |
25 |
83,3% |
| 3. Nhớ cách xây dựng (theo đúng yêu cầu) |
17 |
56,6% |
| 4. Giải thích được lý do nhớ ("Tại sao nhớ?") |
17 |
56,6% |
Có 56,6% trẻ (17 cháu) nhớ và tái hiện đúng trình tự các bước theo yêu cầu của cô, trong khi 43,3% trẻ trả lời lộn xộn hoặc bỏ sót các bước. Những trẻ trả lời đúng đều giải thích được lý do nhớ là nhờ lắng nghe cô dạy và trao đổi với bạn trong nhóm; tiêu biểu như cháu Trà My chia sẻ việc nhớ các bước không quá khó vì thỉnh thoảng đã được cô hướng dẫn và chỉ cần nỗ lực nhớ lại là thực hiện được.
Khái quát thực trạng, tác giả kết luận: Trí nhớ không chủ định chiếm tỷ lệ cao và giữ ưu thế áp đảo; trí nhớ có chủ định đã manh nha hình thành nhưng chưa bền vững, chủ yếu dừng ở mức ghi nhớ máy móc qua lặp lại; phương pháp tổ chức trò chơi của giáo viên hiện tại còn đơn điệu, chưa kích thích được tính tích cực, chủ động của trẻ.
Chương 3: Thử nghiệm biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm phát triển trí nhớ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
Chương 3 triển khai thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết nâng cao năng lực ghi nhớ cho trẻ bằng phương pháp tổ chức trò chơi khoa học.
- Khách thể thực nghiệm: 30 trẻ lớp mẫu giáo nhỡ 4–5 tuổi A được chia đều thành 2 nhóm có trình độ phát triển tương đương (mỗi nhóm 15 trẻ):
- Nhóm đối chứng (15 trẻ): Giáo viên chỉ đóng vai trò quan sát, để trẻ tự chơi, không hướng dẫn, không gợi ý hay can thiệp, chỉ xử lý khi phát sinh xung đột.
- Nhóm thử nghiệm (15 trẻ): Giáo viên tổ chức trò chơi bài bản; chuẩn bị môi trường biểu tượng phong phú; trực tiếp hướng dẫn, gợi ý, động viên, đặt ra các tình huống có vấn đề để kích thích trẻ suy nghĩ và nhập vai.
- Nội dung thực nghiệm: Tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề "Bác sĩ". Giáo viên cung cấp biểu tượng thông qua kể chuyện, tranh ảnh, tổ chức tham quan thực tế; đàm thoại về nhiệm vụ, lời nói, cử chỉ của bác sĩ, y tá, bệnh nhân; hướng dẫn trẻ liên kết các góc chơi và thiết lập mối quan hệ ứng xử nhân văn của vai chơi.
- Biện pháp rèn luyện trí nhớ được lồng ghép: Cung cấp hình ảnh trực quan kết hợp đàm thoại; tổ chức tham quan thực tế để làm giàu vốn biểu tượng; tạo hứng thú cảm xúc để thúc đẩy trí nhớ không chủ định; tạo tình huống có vấn đề đòi hỏi trẻ phải nỗ lực tư duy để củng cố trí nhớ có chủ định.
- Kết quả khảo sát trí nhớ không chủ định sau thử nghiệm: Trẻ được yêu cầu nhớ lại tên trò chơi, vai chơi, nội dung và diễn đạt bằng lời.
| Tiêu chí kết quả đánh giá |
Nhóm thử nghiệm (15 trẻ) |
Nhóm đối chứng (15 trẻ) |
| 1. Trẻ nhớ chính xác tên trò chơi, nội dung chơi, biết nhập vai tốt |
12 trẻ (80%) |
6 trẻ (40%) |
| 2. Trẻ không nhớ chính xác tên trò chơi, nội dung chơi, không biết nhập vai |
3 trẻ (20%) |
9 trẻ (60%) |
Số liệu thực nghiệm cho thấy nhóm được tác động sư phạm tích cực đạt tỷ lệ ghi nhớ chính xác và nhập vai thành thạo lên tới 80%, cao gấp đôi so với nhóm đối chứng (40%). Ngược lại, tỷ lệ trẻ không nhớ chính xác và không biết nhập vai ở nhóm đối chứng lên tới 60%, trong khi ở nhóm thử nghiệm đã giảm mạnh xuống còn 20%.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa cụ thể các đặc điểm tâm lý về trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ tại Trường Mầm non Phúc Thắng thông qua hệ thống số liệu khảo sát thực tế:
| Nội dung khảo sát |
Trí nhớ không chủ định |
Trí nhớ có chủ định |
| Trò chơi đóng vai theo chủ đề |
- Nhớ tên trò chơi: 100% - Nhớ vai chơi: 83,3% - Nhớ hành động vai: 50% |
- Nhớ 4 cặp tranh - từ: 50% - Nhớ 3 cặp tranh - từ: 26,6% - Nhớ 1–2 cặp tranh - từ: 23,2% |
| Trò chơi lắp ghép xây dựng |
- Nhớ tên công trình: 100% - Nhớ đồ dùng: 80% - Nhớ cách xây dựng: 60% |
- Nhớ tên công trình: 100% - Nhớ khối hình: 83,3% - Nhớ đúng trình tự: 56,6% |
| Thực nghiệm sư phạm (Chủ đề Bác sĩ) |
- Nhóm thử nghiệm nhớ chính xác và nhập vai tốt: 80% (12/15 trẻ) - Nhóm đối chứng nhớ chính xác và nhập vai tốt: 40% (6/15 trẻ) |
(Được hình thành gián tiếp thông qua các bài tập giải quyết tình huống có vấn đề) |
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất 4 biện pháp sư phạm cốt lõi:
- Sử dụng phương pháp trực quan kết hợp phân tích, giảng giải và đàm thoại để cung cấp biểu tượng phong phú, chính xác cho trẻ.
- Tổ chức các buổi tham quan thực tế giúp trẻ tiếp xúc trực tiếp với thế giới xung quanh, làm giàu vốn kinh nghiệm sống.
- Kích thích hứng thú tự nhiên của trẻ đối với đối tượng chơi để phát huy tối đa hiệu quả của trí nhớ không chủ định.
- Đưa ra các tình huống có vấn đề trong trò chơi, yêu cầu trẻ nỗ lực tư duy và chủ động tìm giải pháp, qua đó hình thành và rèn luyện phương pháp ghi nhớ có chủ định.
Về mặt đóng góp, công trình bước đầu đánh giá thực trạng phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ trong giai đoạn thực hiện "Chương trình giáo dục mầm non" mới theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT. Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng chất lượng trí nhớ của trẻ không diễn ra tự phát mà phụ thuộc trực tiếp vào phương pháp tổ chức hướng dẫn của giáo viên trong hoạt động chủ đạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu có quy mô hẹp, chỉ khảo sát trên 30 trẻ thuộc duy nhất một lớp mẫu giáo nhỡ (lớp 4–5 tuổi A) tại Trường Mầm non Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; do đó tính đại diện cho các vùng miền khác nhau còn hạn chế.
- Phần thực nghiệm sư phạm tại Chương 3 mới chỉ tiến hành trên trò chơi đóng vai theo chủ đề ("Bác sĩ"), chưa triển khai thực nghiệm đối chứng đối với trò chơi lắp ghép xây dựng.
- Nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa phức tạp (sử dụng ký hiệu logic, thao tác tư duy bậc cao) do lứa tuổi mẫu giáo nhỡ chủ yếu mới tiếp cận ở mức độ ghi nhớ máy móc và định hướng hành động.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả gợi mở:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều trường mầm non với các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau để tăng tính khái quát của dữ liệu.
- Thiết kế và thực nghiệm các biện pháp phát triển trí nhớ trên các loại hình trò chơi khác, như trò chơi học tập, trò chơi vận động và trò chơi đóng kịch.
- Nghiên cứu theo dõi dọc quá trình chuyển hóa từ ghi nhớ máy móc sang ghi nhớ ý nghĩa khi trẻ chuyển tiếp từ mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi) lên mẫu giáo lớn (5–6 tuổi).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, ngành Tâm lý học Trẻ em, cũng như giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc, giáo dục lứa tuổi 4–5 tuổi.
Những nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao bao gồm:
- Hệ thống giáo án và biên bản tổ chức hoạt động chơi góc được thiết kế chi tiết (chủ đề Gia đình, Giao thông, Xây khu tập thể, Bác sĩ), nêu rõ mục đích, khâu chuẩn bị đồ dùng, tiến trình thỏa thuận chơi và cách xử lý tình huống sư phạm.
- Bộ câu hỏi đàm thoại được xây dựng chuẩn hóa nhằm đo lường mức độ ghi nhớ tên, đối tượng, phương tiện và trình tự thao tác của trẻ mầm non.
- Quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm có nhóm đối chứng, cung cấp phương pháp luận thực chứng về cách thức can thiệp sư phạm nhằm nâng cao năng lực nhận thức cho trẻ trong trường mầm non.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao trong trò chơi đóng vai theo chủ đề Gia đình, chỉ có 50% số trẻ nhớ được hành động của vai chơi?
Khảo sát tại Bảng 1 cho thấy trong khi 100% trẻ nhớ tên trò chơi và 83,3% nhớ các vai chơi, chỉ có 50% (15 trẻ) nhớ được hành động của vai chơi. Tác giả chỉ ra nguyên nhân là do việc tái hiện hành vi vai chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý cao và hiểu được chức năng xã hội của vai đó. Nhiều trẻ trong quá trình chơi không tập trung, mải đùa nghịch với bạn ngồi cạnh hoặc có biểu hiện thờ ơ (như trường hợp cháu Thiệu Tâm chỉ nhớ được việc mẹ cho con ăn), dẫn đến khó khăn trong việc hồi tưởng đầy đủ các hành động chăm sóc phức tạp.
2. Trí nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện mức độ phát triển như thế nào qua bài tập tranh – từ?
Kết quả Bảng 2 ghi nhận 50% trẻ (15 cháu) nhớ trọn vẹn 4 cặp từ tương ứng với 4 bức tranh, 26,6% nhớ được 3 từ, 16,6% nhớ được 2 từ và 6,6% nhớ được 1 từ (không có trẻ nào quên hoàn toàn). Điển hình là cháu Trung Quân có thể đọc chính xác thứ tự các tranh và từ. Điều này chứng minh trí nhớ có chủ định dưới dạng ghi nhớ máy móc ("học vẹt" thông qua quan sát và đọc lặp lại) đã phát triển rõ rệt ở lứa tuổi 4–5 tuổi. Tuy nhiên, khả năng nhớ vẫn chịu sự chi phối mạnh bởi mức độ yêu thích và tính hấp dẫn trực quan của từng bức tranh cụ thể.
3. Những yếu tố nào từ trải nghiệm thực tế ảnh hưởng đến khả năng tái hiện cách xây dựng công trình của trẻ?
Trong trò chơi lắp ghép chủ đề Giao thông, chỉ có 60% trẻ nhớ được cách xây dựng. Dữ liệu văn bản đối chiếu rõ rệt giữa hai trường hợp: Cháu Trung Quân có trải nghiệm phong phú nên mô tả rất tuần tự từ việc xếp đường, đặt cột đèn tín hiệu ở ngã tư, vạch sang đường cho người đi bộ, bố trí xe cộ và bãi đỗ xe; ngược lại, cháu Nhật Anh do hoàn cảnh gia đình ít được đi lại trên các tuyến giao thông đường phố nên vốn kinh nghiệm thực tế nghèo nàn, dẫn đến việc không thể nhớ và tái hiện được các thành phần của công trình.
4. Nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng trong trò chơi Bác sĩ có sự chênh lệch cụ thể ra sao?
Tại Bảng 5 (Chương 3), sau khi được can thiệp bằng các biện pháp sư phạm khoa học (cung cấp biểu tượng trực quan, đàm thoại, tạo tình huống có vấn đề), nhóm thử nghiệm có 12/15 trẻ (80%) nhớ chính xác tên, nội dung và biết nhập vai tốt, chỉ còn 3/15 trẻ (20%) chưa đạt. Trong khi đó, ở nhóm đối chứng (để trẻ tự chơi tự do, cô không gợi ý hay can thiệp), chỉ có 6/15 trẻ (40%) đạt mức nhập vai tốt và nhớ nội dung, còn lại tới 9/15 trẻ (60%) không nhớ chính xác và không biết cách thể hiện vai chơi.
5. Khóa luận này đối chiếu với văn bản pháp lý và chương trình giáo dục mầm non nào?
Công trình căn cứ trực tiếp vào Điều 21 và Điều 22 Luật Giáo dục năm 2005 về mục tiêu giáo dục mầm non. Đồng thời, nghiên cứu lấy khung chuẩn đánh giá từ "Chương trình giáo dục mầm non" do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/07/2009, phân tích cụ thể 5 mục tiêu phát triển của độ tuổi mẫu giáo nhỡ và các hình thức tổ chức giáo dục tương ứng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Ly đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trí nhớ và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ, đồng thời cung cấp bức tranh thực trạng chân thực tại Trường Mầm non Phúc Thắng với sự chiếm ưu thế của trí nhớ không chủ định và sự manh nha của trí nhớ có chủ định máy móc. Kết quả thử nghiệm sư phạm trên chủ đề "Bác sĩ" đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của việc hướng dẫn có chủ đích, nâng tỷ lệ trẻ nhập vai và ghi nhớ chính xác từ 40% ở nhóm đối chứng lên 80% ở nhóm thử nghiệm. Công trình khẳng định vai trò quyết định của phương pháp tổ chức sư phạm tích cực trong việc phát triển chức năng nhận thức cho trẻ 4–5 tuổi theo định hướng Chương trình giáo dục mầm non mới.