Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET NGHIÊN CUU TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA CUA CA TỪ TRONG CA KHÚC CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI DOAN 1945 - 1975 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ vựng và ngữ nghĩa là hai bình diện ngôn ngữ từ lâu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu đã đưa ra được hệ thống khung lí thuyết quan trọng, toàn diện, đa chiều, đồng thời các nhà nghiên cứu còn áp dụng khung lí thuyết vào nghiên cứu trường hợp trong nhiều lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ. Đây là hai bình điện ngôn ngữ vô cùng rộng, có mối quan hệ, ảnh hưởng, chi phối đến nhiều bình điện khác của ngôn ngữ.
Tuy nhiên, vì phạm vi, mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu về trường từ vựng — ngữ nghĩa, hiện tượng chuyền trường và ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ điển hình trong ca từ của các ca khúc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 — 1975 nên ở đây, chúng tôi chỉ trình bày những van đề về trường từ vựng — ngữ nghĩa và ca khúc cách mạng Việt Nam nhằm chỉ ra những thành tựu đạt đã được và những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa 1. Tình hình nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa trên thé giới Trường từ vựng — ngữ nghĩa (hay còn gọi là trường từ vựng, trường ngữ nghĩa) là một lĩnh vực nghiên cứu của từ vựng học. Lí thuyết về trường đã được các nhà nhân chủng học người Mỹ và các nhà ngôn ngữ học người Đức di tiên phong nghiên cứu từ những năm 20 — 30 của thế ki XX.
Những học giả đó đã tiếp thu tư tưởng học thuyết về dạng lời nói bên trong của ngôn ngữ (inner speech-form of language) của V. Học thuyết này phản ánh khả năng nhận thức riêng biệt của từng cá nhân về thé giới và đặc trưng của từng nhóm sắc tộc. Đây chính là tiền đề cho tất cả các lý thuyết về trường. Ngoài ra, lý 13 thuyết về trường còn phần nào chịu sự ảnh hưởng tư tưởng của F.
de Saussure về tính hệ thống của ngôn ngữ và những phương pháp cấu trúc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ. de Saussure tuyên bố: "Giá trị của bất cứ yếu tô nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định" [23, 224] và "Phải xuất phát từ cái toàn thé làm thành một khối dé phân tích ra những yếu tố được chứa đựng" [23, 220]. Ngôn ngữ học thế giới đã có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau trong nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa. Tuy nhiên, có thé khái quát thành hai khuynh hướng chính như sau: Khuynh hướng thứ nhất, trường từ vựng - ngữ nghĩa được quan niệm là "toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện" [dẫn theo 33, 109].
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là hai nhà ngôn ngữ học người Đức L. Trong công trình nghiên cứu Theories of Lexical Semantics [118], tac gia Dirk Geeraerts cho rang, lý thuyết về trường từ vựng là chương trình nghiên cứu xuất phát trực tiếp từ một quan điểm của Weisgerber. Quan điểm cho rằng ngôn ngữ cấu thành một mức độ khái niệm trung gian giữa trí óc và thế giới được bắt nguồn từ khái niệm ân dụ của một từ ngữ. Theo ông, nếu thực tế là không gian chứa các thực thê và sự kiện, thì ngôn ngữ sẽ vẽ ra các đường trong không gian đó, chia xếp trường vào những ô khái niệm.
Mỗi trường từ vựng là một tập hợp từ ngữ có ngữ nghĩa liên quan với nhau mà nghĩa của các từ đó có sự phụ thuộc với nhau, cùng tạo ra cau trúc khái niệm cho một phạm vi thực tế nhất định. Mặc dù cơ sở lý thuyết của phương pháp tiếp cận từ vựng là do Weisgerber thiết lập, nhưng công trình nghiên cứu duy nhất có ảnh hưởng nhất trong lịch sử của lý thuyết trường từ vựng lại là chuyên khảo của Jost Trier (xuất bản năm 1931). Về mặt lý thuyết, Trier [theo 118] xuất phát từ quan niệm cơ bản của cấu trúc luận. Quan niệm này cho rằng chỉ cần sự phân định lẫn nhau của các từ đang được xem xét thì có thể có được câu trả lời mang tính quyết định về giá trị chính xác của chúng.
Không nên xem xét từ ngữ một cách riêng lẻ, tách biệt, mà phải xem xét trong môi quan hệ của chúng với các từ có liên quan về 14 ngữ nghĩa. Trier minh họa ý tưởng của mình bằng hình ảnh một bức tranh nhiều màu sắc. Bản chất tri thức của con người - nội dung của nhận thức - được phân chia theo ngôn ngữ thành không gian hai chiều, theo phương thức giống như là bức tranh nhiều màu sắc phân chia không gian hai chiều bằng các hạt nhiều màu sắc liền kề nhau. Vị trí chính xác để đặt một hạt nhỏ trong một bức tranh nhiều màu sắc lớn của các ký hiệu quyết định giá trị của nó, phần nào xác định chính xác từ đa số đại diện mang tính nhận thức toàn bộ khi xem xét cách nó khắc họa và đại diện mang tính biểu trưng.
Điều đó có nghĩa là từ của một ngôn ngữ nao đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, mà mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó. Lý thuyết này đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử nghiên cứu ngữ nghĩa học. Trier đã đặt ra giả định về sự tồn tại song song giữa trường khái niệm và trường từ vựng và ông cho rằng trường từ vựng bao phủ lên trường khái niệm giống như một cái hình ghép, cái áo khoác hay tam vải phủ. Cách tiếp cận nghiên cứu về trường từ vựng của Trier đã nhận được ý kiến trái chiều khác nhau từ phía các nhà ngôn ngữ học.
Một mặt, các cơ sở cầu trúc luận của phương pháp tiếp cận này được nhiều người hoan nghênh; song mặt khác, lại có các nhận xét đề xuất đến các phương án thay thế dé hiện thực hóa cụ thé phương pháp tiếp cận từ vựng của Trier. Hai điểm phê phán chủ yêu tập trung vào cấu tạo nội bộ của trường từ vựng, và ranh giới bên ngoài của trường. Cơ sở triết học mà Trier sử dụng làm cơ sở khi xây dựng lí thuyết trường ngữ nghĩa từ vựng là duy tâm, nó đã thoát li khỏi thực tế nhận thức của thé giới để đi sâu vào lĩnh vực tư tưởng một cách thuần túy. Các mạng lưới từ vựng có liên quan được F.
de Saussure đề cập đến bao gồm cả quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ hình thức, trong khi các trường của Trier chỉ dựa trên quan hệ ngữ nghĩa. Không những thế, khi miêu tả hệ thống của một ngôn ngữ hiện đại và ghi nhận những quan hệ giữa các yếu tố của nó, ông coi thường tính năng động của bản thân hệ thống. Cách quan niệm trường ngữ nghĩa chi là kết câu của những khái niệm liên quan lẫn nhau như thê chưa bao gồm các đơn vị ngôn ngữ là ý nghĩa 15 và các trường khái niệm được phân xuất trên cơ sở logic thuần túy chứ không phải dựa trên tài liệu ngôn ngữ. Việc sử dụng hình ảnh bức tranh nhiều màu sắc của Trier không phải là một hình ảnh đúng.
Trước tiên, hình ảnh cho rằng bức tranh nhiều màu sắc bao gồm toàn bộ bề mặt của trường, tức là không có khoảng trống trong trường từ vựng, răng không có phần nào thiếu trong bức tranh nhiều màu sắc đó. Việc Luckenlosigkeit (không có chỗ trống) này mâu thuẫn với sự tồn tại của khoảng trống từ vựng, tức là những khoảng trống trong trường từ vựng xảy ra khi một khái niệm - vì các lý do là tính hệ thống dường như là một thành viên thực sự trong trường khái niệm - không phải là quá trình từ vựng hóa. Hơn nữa, trong thực tế cũng không có những biên giới rõ rệt và bất biến giữa các trường khái niệm và trường từ vựng như J. Trier đề cập đến.
Thuật ngữ lý thuyết trường từ vựng có tính tương đối không ổn định. Hau hết, trường từ vựng, trường ngữ nghĩa và trường từ được coi là những từ đồng nghĩa. Khuynh hướng thứ hai xây dựng lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trường từ vựng — ngữ nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nao đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa.
Đại diện cho khuynh hướng này là Ipsen, Konradt — Hicking, Muller và Porzig. Ipsen [theo 118] căn cứ vào hình thái và chức năng của các từ dé xây dựng trường nghĩa. Theo ông, trường ngữ nghĩa gồm những từ có họ hàng với nhau về ý nghĩa và hình thức. Người ta gọi là trường từ vựng — ngữ pháp.
Konradt — Hicking [theo 118] lại căn cứ vào các từ ghép để xây dựng trường nghĩa, trong đó từ rời với tư cách thành tố của từ ghép đóng vai trò thành viên của trường. Theo ông, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thé tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng. Những trường như thé gọi là rưởng cấu tạo tir. Muller và Porzig [theo 118] xây dựng một trường ngữ nghĩa khác gọi là trong từ vựng — cú pháp.
Hai ông xây dựng trường ngữ nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ vì cho rằng ý nghĩa của các từ lệ thuộc vào những liên hệ cú pháp. Hai ông cho rằng 16 nghĩa của từ bị giới hạn bởi ngữ cảnh mà chúng được sử dụng và các từ xung quanh chúng quy định. Năm 1934, nhà ngôn ngữ học người Duc Walter Porzig [theo 118] đã chỉ ra rằng khả năng kết hợp cú pháp có liên quan nhiều đến các khía cạnh của ý nghĩa như đối với các đặc điểm ngữ pháp. Để xác định các mối quan hệ từ vựng - cú pháp, Porzig đã đưa ra thuật ngữ “quan hệ ý nghĩa thiết yếu”.
Day là cơ sở dé định nghĩa quan niệm cú pháp của trường từ vựng, khi ông cho rằng (1934: 78) trong một từ có thể chỉ một từ khác, có mối quan hệ ngữ nghĩa cần thiết với từ đầu tiên. Vì vậy tất cả các khái niệm được ngụ ý bởi một từ, ngay cả khi chúng không được thể hiện rõ ràng, cũng vẫn thuộc về trường ngữ nghĩa của từ đó. Porzig đưa ra các vi du sau: cưỡi - lạc da, sua - chó, vàng hoe - tóc.