mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh T ơ mới là một hiệ tượ vă ọc đã có hững đó óp và vă m ch của dân tộc”… Trong phần t t của ó, T ơ mới có một ò yêu đờ , yêu t ê ê đất ước, yêu tiếng nói của dân tộc. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng Dòng chủ ưu của T ơ mới vẫn là nhân bản chủ ĩa … Các nhà t ơ mớ đều giàu ò yêu ước, yêu quê ươ đất ước Việt Nam. Đất ước và con ườ được tái hiệ tr T ơ mới một c c đậm đà đằm thắm”.
a) Sự khẳng định cái tôi Trong phong trào thơ mới cái Tôi ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới. Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra trình làng (chữ dùng của Phan Khôi).
Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng: Tô à c c m đế từ ú …, Tô à c a bị c ều đ ướ … Có khi đại từ nhân xưng tôi chuyển thành anh : A ớtế ,a ớ ì ,a ớả A ớ em, a ớ ắm em ơ ! 8 skkn Thoảng hoặc có khi lại là Ta : Ta à Một, à R ê à T ứ N ất K ô có c bè b ổ cù ta. T ơ mớ à t ơ của c Tôi. Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào vă m c dâ tộc , mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. b) Nỗi buồn cô đơn Trong bài Về c buồ tr T ơ mớ , Hoài Chân cho rằng Đú à T ơ mớ buồ , buồ ều , C buồ của T ơ mớ ô p ả à c buồ ủy mị, b c ược mà à c buồ của ữ ườ có tâm uyết, đau buồ vì bị bế tắc c ưa tìm t ấy ra”.
Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về T ế t u với hình ảnh: C a và ơ c Đ p trê và ô. Với Chế Lan Viên đó là Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời (tức dân Chàm): Đườ về t u trước a ăm ắm Mà ẻ đ về c ỉ một tô Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn Xao xác gà trưa gáy não nùng còn Xuân Diệu lại thấy Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa. Về điều này, Hoài Chân cho rằng Xuâ D ệu p ả à ườ buồ ều, đau buồ ều mớ v ết được ữ câu t ơ ức ươ ư: T à một p út uy à rồ c ợt t Cò ơ buồ e ó su t trăm ăm Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn.
Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình. c) Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu Ngay từ khi ra đời, T ơ mớ đã đổ mớ cảm úc, đã t ra một cảm úc mớ trước cuộc đờ và trước t ê ê , vũ trụ. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống.
Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính: 9 skkn Bữa ấy mưa uâ p ơ p ớ bay H a a ớp ớp rụ rơ đầy. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè trong thơ Huy Cận: Buổ trưa è è ẹ tr ca da Có cu y và bướm và ữa c ứ” Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như: “Bướm và è ẹ bay ngang bóng N ữ óm tre ca rủ trước t à tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. Ông à của t ơ tì Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên: Tô ờ ắm, u ơ qu C ỉ b ết yêu t ô c ẳ b ết ì.
Chu Văn Sơn cho rằng Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo nhưng là một thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ. Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não: Vớ tô tất cả ư vô ĩa Tất cả ô à ĩa ổ đau. Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ. Nhà thơ Huy Cận cho rằng Cái đẹp bao giờ cũng buồn (K cầu tự) và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế.
Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc: Chân ết đườ t ì ò cũ ết yêu. d) Một số đặc sắc về nghệ thuật Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá cách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có T ế t u (Lưu Trọng Lư), Ô Đồ (Vũ Đình Liên), Em đ c ùa Hươ (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, T.H chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v… 10 skkn Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định: Tế địc t ổ đâu đây Cớ sa e ré rắt Lơ ca đưa tậ c â trờ a ắt Mây bay… ó quyế , mây bay Tế v cút ư a ư dìu dặt N ư ắt u cù ơ ó e may (T ế Lữ).
Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng: Sươ ươ t e tră ừ ư trờ Tươ tư â ò ê c ơ vơ (Xuâ D ệu) hay Ô ay! Buồ vươ cây ô đồ Và rơ ! Và rơ ! Thu mênh mông (Bích Khê) Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt: T u cà t êm uyệt tỏ ờ Đà ê ư ước trờ ơ ! (Xuâ D ệu) Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của T ơ cũ , Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc: C đườ ỏ ỏ, ó êu êu Lả ả cà a ắ trở c ều 11 skkn (Xuâ D ệu) hay Mưa đổ bụ êm êm trê bế vắ Đò b ế ườ ằm mặc dướ sô trô (A T ơ) Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh Mùa xuân chín được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh: Tr à ắ , ó mơ ta Đô m à tra ấm tấm và Sột s t ó trêu tà b ếc Trên dàn thiên lý.
Bóng xuân sang. Căn cứ vào đặc điểm thơ Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới (1930 - 1945) a) Xuân Diệu - Tiểu sử và con ngƣời *)Tiểu sử Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu; sinh ngày 02 tháng 2 năm 1916 tại Tùng Giản - Tuy Phước - Bình Định. Quê Đại Lộc - Can Lộc - Hà Tĩnh. Xuân Diệu học tiểu học ở Quy Nhơn, sau đó ra học trung học ở Hà Nội và Huế.
Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mĩ Tho. Một thời gian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận. Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong.
Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Ông được kết nạp vào Đảng năm 1949. Năm 1983, ông được công nhận là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức.
Năm 1985, Xuân Diệu lâm trọng bệnh và qua đời. *) Con người "Cha đằng ngoài, mẹ đằng trong" Xuân Diệu học được ở cha - ông đồ nghệ - đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật: Sinh ra và lớn lên ở quê mẹ , Xiệu Diệu thườnng nói đến tác động của thiên nhiên nơi đây (Quy nhơn) đối với hồn thơ nồng nàn, sôi nổi của ông. 12 skkn Về quy trình đào tạo, Xuân Diệu một mặt là trí thức tây học, đẫ hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp một cách có hệ thống trên ghế nhà trường, mặt khác do xuất thân từ một gia đình nhà nho lại được tiếp thu nền văn hoá truyền thống, vì thế có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp 2 yếu tố cổ điển và hiện đại , đông và tây tư tưởng "tình cảm thẩm mỹ". Xuân Diệu là một tài năng nhiều mặt : Làm thơ, viết văn , nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật.Độc giả vẫn biết đến Xuân Diệu trước hết là một nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam hiện đại.