phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia. Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,… 2. Tham quan, dã ngoại Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em.
Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề;… 2. Hội thi / cuộc thi Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTNST.
Hoạt động giao lưu Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó. Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và 7 skkn hoàn thiện nhân cách. Hoạt động chiến dịch Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến học sinh mà tới cả các thành viên cộng đồng. Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt động như: Chiến dịch giờ trái đất; Chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học; Chiến dịch ứng phó với biến đổi khí hậu… Để thực hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy động được và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết để tham gia vào chiến dịch.
Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bước 2: Đặt tên cho hoạt động Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt Bước 5: Lập kế hoạch Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động 2.Vai trò của học sinh và giáo viên trong dạy học TNST 2.Vai trò của học sinh - Học sinh đóng vai trò chủ đạo trong quá trình học TNST. Học sinh chủ động và tích cực trong việc đón nhận tình huống học tập mới, chủ động trong huy động kiến thức - Học sinh trau dồi được các kỹ năng trong việc tìm kiếm tri thức ( khai thác thông tin từ việc đi thực nghiệm, khai thác trên internet hoặc sử dụng các phần mềm. Việc trao 8 skkn đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính HS trong việc tìm những giải pháp để giải quyết tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu hơn các tình huống đó.HS phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi lĩnh hội được các tri thức mới, thông qua việc giải quyết các tình huống học tập.
- Giao lưu học hỏi được với bạn bè trong lớp, ngoài lớp hoặc các trường lân cận.Vai trò của giáo viên - GV là người nêu vấn đề, hướng dẫn thiết kế các tình huống học tập, dẫn dắt học sinh trong quá trình tìm hiểu tri thức. - GV tìm hiểu mức độ kiến thức phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh trong quá trình học tập. Để từ đó đưa đến các hình thức phù hợp đối với từng đối tượng học sinh. - GV khuyến khích, sáng kiến của người học, tích cực tìm hiểu kiến thức đã có và nhu cầu học tập của HS, khuyến khích HS trao đổi, tranh luận với nhau và cả với GV, cũng như thay đổi cách hướng dẫn và thay đổi nội dung khi cần thiết, khuyến khích HS tư duy phê phán và tìm hiểu các vấn đề trong những tình huống bằng những câu hỏi tư duy, hay các câu hỏi mở.
Quan điểm vận dụng dạy học trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Vật Lí ở trường THPT qua những xu hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học Hiện nay, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo nhiều hướng khác nhau. Những hướng đổi mới đó là: - Tăng cường tính tích cực, tính tìm tòi sáng tạo ở người học, tiềm năng trí tuệ nói riêng và nhân cách nói chung thích ứng năng động với thực tiễn luôn đổi mới. - Tăng cường năng lực vận dụng trí thức đã học vào cuộc sống, sản xuất luôn biến đổi. - Chuyển dần trọng tâm của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân.
- Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp. - Liên kết PPDH với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe nhìn, máy vi tính, mạng internet.) tạo ra các tổ hợp PPDH có dùng phương tiện kỹ thuật dạy. - Chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học. - Đa dạng hóa các PPDH phù hợp với các cấp học và các môn học.
CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.Thực trạng vận dụng DHTNST vào dạy học chủ đề môn Vật Lí ở trường THPT Để tìm hiểu về thực trạng dạy học Vật Lí trung học theo phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo, tôi đã tiến hành điều tra các GV môn Vật Lí của trường chúng tôi 9 skkn đang công tác. Nội dung phiếu điều tra (Phụ lục 1): KẾT QUẢ Mối quan tâm về dạy học TNST hiện nay của GV môn Vật lí Bảng kết quả điều tra về mối quan tâm về dạy học TNST đối với giáo viên Mức độ quan tâm Ý kiến 1 Không quan tâm 0(0%) 2 Mới chỉ nghe nói đến 6(24%) 3 Rất muốn tìm hiểu 10(40%) 4 Đang tìm hiểu 6(24%) 6 Đã dạy học TNST 3(12%) Từ kết quả khảo sát với 25 giáo viên đã cho thấy đa số giáo viên đã có biết về dạy học TNST. Bên cạnh đó trong số GV được hỏi có 40% GV rất muốn được tìm hiểu về TNST, 24% GV đang tìm hiểu về TNST nhưng chỉ có một số ít GV đã dạy về TNST. Hầu hết hiểu biết của giáo viên về TNST là qua quá trình tự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân hoặc qua các lớp tập huấn, báo cáo chuyên đề chứ không phải từ chương trình bắt buộc của nhà trường.
- Về tính hiệu quả của TNST trong việc phát triển năng lực toàn diện cho HS, đa số GV đánh giá cao hiệu quả mà TNST đem lại như: rèn luyện kĩ năng giao tiếp, ứng xử; phát triển các năng lực tư duy, sáng tạo, vận dụng kiến thức Vật Lí vào cuộc sống; rèn luyện năng lực hợp tác, kĩ năng thuyết trình giữa đám đông, kĩ năng giải quyết vấn đề… - Về hạn chế của HĐTNST: Hầu hết GV đều cho rằng, HĐTNST cần nhiều thời gian để thực hiện và không phù hợp với hình thức thi cử hiện nay. Như vậy, tuy DHTNST còn gặp một số khó khăn trong quá trình thực hiện nhưng TNST thực sự có nhiều ưu điểm nổi trội, giúp người GV dạy học hướng vào mục tiêu lấy người học làm trung tâm, phát triển người học một cách toàn diện. Những thuận lợi và khó khăn khi đưa DHTNST vào trường phổ thông hiện nay 2.Thuận lợi Gần đây, Bộ GD và ĐT đã công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó nhấn mạnh mục tiêu của môn Vật Lí là: Chương trình môn Vật Lí cấp trung học phổ thông giúp học sinh phát triển các năng lực thành phần của năng lực tìm hiểu tự nhiên, gắn với chuyên môn về Vật Lí như: năng lực nhận thức kiến thức Vật Lí; năng lực tìm tòi, khám phá kiến thức Vật Lí; năng lực vận dụng kiến thức Vật Lí 10 skkn vào thực tiễn; từ đó biết ứng xử với tự nhiên một cách đúng đắn, khoa học và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân. - Mỗi trường học đều đầu tư vào các hoạt động dạy và học nên khuyến khích cho giáo viên tổ chức hoạt động dạy học để tiếp cận năng lực của học sinh.
- Nó giúp đảm bảo giáo dục toàn diện trong việc triển khai dạy học ở nhà trường, bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán, khoa học, các lĩnh vực công nghệ, kĩ thuật, cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phương diện về đội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất. - Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh : triển khai các dự án học tập trong DHTNST, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thực hiện các nhiệm vụ học tập, được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học. Kết nối trường học với cộng đồng Hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh. - Thời đại công nghệ 4.0, phương tiện thông tin thuận tiên, nên việc học sinh trao đổi thông tin với nhau hoặc trao đổi với giáo viên dễ dàng hơn.
Các HĐTNST đòi hỏi sự tham gia nhiều của CNTT, HS khá thành thạo vi tính, máy chiếu, khai thác mạng (facebook, zalo, messeger, trang web, google).Vì vậy, việc sử dụng để báo cáo sản phẩm dự án của HS rất dễ dàng.