Tổng quan nghiên cứu

Trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của 54 dân tộc anh em tại Việt Nam, Hát ru vùng Châu thổ sông Hồng giữ vị trí nền tảng, phản ánh đậm nét đời sống tâm hồn và đạo lý làm người. Tuy nhiên, trước làn sóng giao thoa văn hóa quốc tế, ước tính có hơn 70% thanh thiếu niên đô thị đang dần xa rời các làn điệu dân ca cổ truyền. Tại các trường phổ thông, hoạt động giáo dục âm nhạc truyền thống vẫn còn mang tính hình thức, thời lượng dành cho dân ca chỉ chiếm dưới 15% chương trình phân môn Học hát, khiến học sinh thiếu đi sự gắn kết với di sản cội nguồn.

Xuất phát từ thực tế cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc của học viên Lương Thị Hằng My, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Trọng Toàn tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, đã tập trung giải quyết bài toán đưa Hát ru vào học đường. Đề tài được triển khai khảo sát và thực nghiệm trực tiếp tại trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2015 - 2017, hướng đến đối tượng trọng tâm là học sinh khối lớp 9.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cụ thể hóa Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" cùng Đề án Hỗ trợ đưa dân ca vào trường Trung học cơ sở năm 2009. Luận văn hướng đến mục tiêu nâng cao tỷ lệ học sinh yêu thích và có kỹ năng thể hiện đúng làn điệu Hát ru lên trên 85%, đồng thời cung cấp mô hình sư phạm mẫu giúp bảo tồn bền vững vốn âm nhạc cổ truyền trong hệ thống giáo dục phổ thông hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật và lý thuyết giáo dục âm nhạc tích hợp. Hệ thống khái niệm cốt lõi bao gồm: Dân ca (những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu mang tính dị bản), Giáo dục âm nhạc (hoạt động tác động có hệ thống nhằm bồi dưỡng thẩm mỹ và kỹ năng âm nhạc), và Phương pháp dạy học âm nhạc (hệ thống cách thức tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành cho học sinh).

Dưới góc độ âm nhạc học, Hát ru của người Việt vùng Châu thổ sông Hồng được định danh là thể loại dân ca dỗ ngủ mang phong cách ngâm ngợi trữ tình. Luận văn làm rõ 3 đặc trưng âm nhạc học cơ bản:

  1. Thang âm và điệu thức: Tác phẩm sử dụng thang 5 âm không bán âm, cấu trúc điệu thức tương đương với điệu Chủy (Đô Chủy) trong hệ thống âm nhạc truyền thống phương Đông.
  2. Cấu trúc tác phẩm: Bài hát ru hoàn chỉnh bao gồm 3 phần rõ rệt (Mở - Thân - Đóng). Phần mở và phần đóng có cùng chất liệu âm nhạc ngắn gọn khoảng 4 nhịp 2/4 gắn liền với các hư từ đưa hơi "à ơi". Phần thân gồm 2 đến 3 cặp câu thơ lục bát, phát triển giai điệu mềm mại trong khoảng 6 đến 8 nhịp 2/4.
  3. Âm vực và tiết tấu: Âm vực bài ru hẹp, nằm gọn trong phạm vi quãng 8 tự nhiên từ c1 đến c2, kết hợp nét luyến 4 âm lượn sóng trong vòng quãng 4 đúng, tiết tấu bình ổn sử dụng các nốt đen và nốt móc đơn nhịp nhàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 152 bài Hát ru có ký âm của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian uy tín, kết hợp hệ thống dữ liệu khảo sát thực tế tại trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám.

Về quy trình thu thập dữ liệu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng và chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu 85 học sinh lớp 9 (chia thành nhóm thực nghiệm 43 học sinh và nhóm đối chứng 42 học sinh), cùng 100% giáo viên giảng dạy môn Âm nhạc tại nhà trường. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cho lứa tuổi học sinh cuối cấp trung học cơ sở đang trong giai đoạn biến đổi tâm sinh lý và giọng nói.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích âm nhạc học kết hợp thực nghiệm sư phạm định lượng là nhằm đo lường chính xác sự khác biệt về kỹ năng thanh nhạc, khả năng luyến láy ngũ cung và mức độ chuyển biến thái độ của học sinh trước và sau khi can thiệp phương pháp mới. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2017 qua 2 giai đoạn: đánh giá thực trạng ban đầu và tiến hành 02 đợt thực nghiệm giảng dạy chính khóa kết hợp ngoại khóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng từ quá trình khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết và hứng thú ban đầu của học sinh đối với Hát ru ở mức rất thấp. Trước khi thực nghiệm, chỉ có khoảng 28,5% học sinh lớp 9 hiểu đúng về nguồn gốc Hát ru Bắc Bộ và hơn 65% học sinh cảm thấy giờ học hát dân ca khô khan do giáo viên chủ yếu dạy chay, thiếu nhạc cụ và tư liệu trực quan.

Thứ hai, đặc tính âm nhạc học của Hát ru hoàn toàn tương thích với giọng hát học sinh lớp 9. Với âm vực vừa vặn trong quãng 8 (c1 - c2), bài hát ru không đòi hỏi kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, giúp 91,2% học sinh ở nhóm thực nghiệm nhanh chóng hát đúng cao độ và kiểm soát hơi thở tốt mà không bị vỡ giọng hay căng cứng thanh đới.

Thứ ba, hiệu quả tiếp thu kiến thức và kỹ năng thực hành giữa hai nhóm có sự chênh lệch rõ rệt. Nhóm thực nghiệm áp dụng phương pháp đổi mới đạt tỷ lệ học sinh xếp loại Giỏi và Xuất sắc lên đến 86,0%, trong khi nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống chỉ đạt 47,6% (chênh lệch 38,4%). Tỷ lệ học sinh đạt mức Trung bình ở nhóm thực nghiệm giảm sâu xuống còn 2,3% so với 21,4% ở nhóm đối chứng.

Thứ tư, nhận thức văn hóa và tính chủ động của học sinh được cải thiện vượt bậc. Sau các buổi ngoại khóa chuyên đề, tỷ lệ học sinh tự nguyện đăng ký tham gia câu lạc bộ âm nhạc dân gian tăng từ 18,6% lên mức 88,4%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính tạo nên sự đột phá ở nhóm thực nghiệm là việc tích hợp thành công giữa phương pháp truyền khẩu truyền thống với công nghệ dạy học hiện đại. Giáo viên không chỉ dạy hát từng câu mà còn giải thích nguồn gốc ca từ lục bát, sử dụng video diễn xướng của nghệ nhân dân gian và hướng dẫn học sinh dùng phách tre, song loan gõ đệm theo nhịp 2/4.

Về mặt hiển thị trực quan, các dữ liệu đối sánh học lực có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ xếp loại Giỏi, Khá, Trung bình giữa hai nhóm. Đồng thời, bảng phân phối tần số mức độ hứng thú theo thang đo 5 mức độ sẽ minh họa rõ nét sự dịch chuyển từ thái độ thờ ơ sang yêu thích của học sinh đối với nghệ thuật truyền thống.

Kết quả này củng cố luận điểm của các công trình đi trước rằng: Hát ru là công cụ giáo dục thẩm mỹ tự nhiên, giúp nuôi dưỡng tâm hồn và gắn kết tình cảm gia đình, nhà trường. Việc đưa Hát ru vào phân môn Học hát lớp 9 chứng minh rằng âm nhạc dân gian hoàn toàn có sức sống mãnh liệt trong trường học nếu được tiếp cận bằng phương pháp sư phạm phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa việc dạy và học Hát ru tại các trường phổ thông:

  1. Tích hợp sâu Hát ru vào chương trình chính khóa phân môn Học hát lớp 9. Giáo viên âm nhạc tiến hành tinh giản lý thuyết, biên soạn hệ thống 4 bài Hát ru tiêu biểu của vùng Châu thổ sông Hồng vào kế hoạch bài dạy; mục tiêu đảm bảo 90% học sinh nắm vững kỹ năng luyến láy ngũ cung; thực hiện hoàn thành trong Học kỳ I hàng năm.

  2. Tổ chức định kỳ các sân chơi âm nhạc ngoại khóa và câu lạc bộ dân ca. Đoàn Thanh niên và Tổng phụ trách Đội trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám chủ trì thành lập Câu lạc bộ Âm nhạc Dân gian, sinh hoạt 2 lần mỗi tháng; mục tiêu thu hút tối thiểu 75% học sinh các khối lớp tham gia trải nghiệm diễn xướng dân ca; duy trì xuyên suốt năm học.

  3. Chuẩn hóa và bồi dưỡng kỹ năng diễn xướng dân gian cho giáo viên âm nhạc. Ban Giám hiệu phối hợp cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình tổ chức 02 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về nghệ thuật hát ru và kỹ thuật gõ đệm nhạc cụ dân tộc; mục tiêu 100% giáo viên âm nhạc đạt chuẩn năng lực truyền dạy di sản phi vật thể.

  4. Đầu tư trang thiết bị và xây dựng thư viện học liệu số về âm nhạc truyền thống. Bộ phận thiết bị nhà trường phối hợp tổ bộ môn trang bị bổ sung 30 bộ nhạc cụ gõ dân tộc (phách tre, thanh la, trống đế) và số hóa hơn 50 video tư liệu hát ru chất lượng cao; mục tiêu hoàn thành gói thiết bị trong vòng 12 tháng để phục vụ giảng dạy đa phương tiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Giáo viên giảng dạy môn Âm nhạc cấp Trung học cơ sở: Khai thác hệ thống giáo án mẫu, phương pháp luyện thanh theo thang 5 âm điệu Chủy và các bước hướng dẫn học sinh luyến láy hư từ à ơi để làm phong phú tiết dạy chính khóa.

  2. Cán bộ quản lý giáo dục tại các trường phổ thông và chuyên viên Phòng/Sở Giáo dục và Đào tạo: Sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng kế hoạch giáo dục di sản địa phương, triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện theo đúng định hướng chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

  3. Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc và Văn hóa học: Tham khảo khung lý thuyết cấu trúc 3 phần của dân ca Bắc Bộ, quy trình thiết kế bài tập thực hành và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm trong đánh giá giáo dục nghệ thuật.

  4. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và tổ chức bảo tồn di sản: Tiếp cận nguồn tư liệu phân tích âm nhạc học chuyên sâu về sự biến đổi của Hát ru trong đời sống đô thị hiện đại, từ đó đề xuất các dự án bảo tồn văn hóa phi vật thể trong cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Hát ru vùng Châu thổ sông Hồng lại phù hợp với học sinh lớp 9?

Âm vực của Hát ru Bắc Bộ rất gọn gàng trong phạm vi quãng 8 tự nhiên từ Đô 1 đến Đô 2 (c1 - c2) với nhịp 2/4 thư thái. Cấu trúc này hoàn toàn tương thích với đặc điểm giọng hát của học sinh 14 - 15 tuổi đang trong giai đoạn vỡ giọng, giúp các em dễ dàng thể hiện giai điệu mà không bị căng thanh đới.

Điểm khác biệt cơ bản giữa Hát ru Bắc Bộ với Hát ru miền Trung và miền Nam là gì?

Sự khác biệt thể hiện rõ ở hư từ đưa hơi và đường nét giai điệu theo dấu giọng từng vùng. Hát ru Bắc Bộ và Trung Bộ mở đầu bằng tiếng "à ơi", trong khi Nam Bộ dùng tiếng "ầu ơ". Ngoài ra, Hát ru Trung Bộ thường chèn nét đưa hơi ngay sau từ thứ sáu của câu bát trước khi hát trọn vẹn câu thơ.

Quy trình thực nghiệm sư phạm trong luận văn được kiểm chứng ra sao?

Tác giả đã tổ chức dạy thực nghiệm đối chứng trên 85 học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám trong 02 đợt. Kết quả kiểm tra đánh giá cho thấy nhóm thực nghiệm đạt tỷ lệ học sinh Giỏi lên tới 86,0%, vượt trội 38,4% so với nhóm đối chứng chỉ học theo phương pháp truyền thống.

Làm thế nào để học sinh không cảm thấy nhàm chán khi học Hát ru?

Phương pháp hiệu quả nhất là kết hợp truyền khẩu với phương tiện trực quan đa phương tiện. Giáo viên lồng ghép bối cảnh văn hóa của lời ca lục bát, cho học sinh xem video nghệ nhân trình diễn và tự tay sử dụng phách tre gõ đệm, giúp tỷ lệ hào hứng học tập tăng từ 28,5% lên 88,4%.

Đề tài này bám sát những văn bản chỉ đạo nào của ngành giáo dục?

Nghiên cứu bám sát Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" và triển khai theo định hướng chuyên môn của Đề án Hỗ trợ đưa dân ca vào trường Trung học cơ sở thực hiện từ năm 2009.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đặc trưng âm nhạc học của Hát ru vùng Châu thổ sông Hồng trên thang 5 âm điệu Chủy.
  • Đánh giá chính xác thực trạng dạy học âm nhạc tại trường Trung học cơ sở Hoàng Hoa Thám, chỉ ra nguyên nhân khiến học sinh chưa mặn mà với dân ca.
  • Xây dựng thành công quy trình sư phạm đổi mới kết hợp giữa giờ học chính khóa phân môn Học hát lớp 9 và hoạt động ngoại khóa.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội qua thực nghiệm thực tế với 86,0% học sinh đạt kết quả học tập xuất sắc và kỹ năng diễn xướng thuần thục.
  • Đóng góp giải pháp thực tiễn giúp bảo tồn di sản văn hóa truyền thống ngay trong không gian học đường đô thị.

Đóng góp lớn nhất của công trình là khẳng định tính khả thi của việc đưa Hát ru vào trường trung học cơ sở như một phương tiện giáo dục đạo đức và thẩm mỹ. Trong giai đoạn 2026 - 2028, mô hình này cần được nhân rộng tại 100% các trường trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội. Các cơ sở giáo dục và giáo viên âm nhạc hãy chủ động ứng dụng quy trình giảng dạy này vào thực tế để chung tay gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc cho thế hệ tương lai.