Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Dân ca Trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam, dân ca là một trong những di sản văn hóa vô cùng quý báu. Dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú, bắt nguồn từ lao động sản xuất, từ các sinh hoạt trong đời sống xã hội, trong lễ nghi tín ngưỡng.
Dân ca chứa đựng nhiều giá trị mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi vùng dân ca, mỗi thể loại dân ca có những đặc điểm riêng, mang dấu ấn riêng của một không gian văn hóa, môi trường văn hóa ở một vùng, miền, một dân tộc. Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Phúc Minh trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam, thì: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc [23; tr.TS Trần Quang Hải cũng đã chỉ rõ: Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững cùng với thời gian [10; tr.
Dựa vào sự giống nhau của những kiểu bài, PGS.TS Nguyễn Thụy Loan đã chia các thể loại dân ca gồm: các điệu ru; ca nhạc trẻ em (Đồng dao); Hò; Lí; dân ca dành cho những hội chơi bài; hát kể truyện thơ và hát 10 kể trường ca; hát rong; các thể loại dân ca lễ nghi tín ngưỡng và dân ca nghi lễ phong tục. Dân ca là những bài hát của nhân dân, hoạt động ca hát nói chung và dân ca nói riêng gắn liền với mọi hoạt động của đời sống như lao động, tâm linh, giải trí… Có thể nói những giai điệu của các bài dân ca đã xuất phát từ những tình cảm tự nhiên, trải nghiệm cá nhân và sự đóng góp của tập thể, được sáng tác do khả năng tự nhiên. Từ trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt đời sống xã hội họ đã hát cho nhau nghe rồi người này học của người kia để trở thành bài ca như riêng của mình. Phương thức lưu truyền của dân ca trong dân gian thường được truyền bá bằng cách truyền khẩu.
Nếu người nghe thấy hay, thấy hợp với mình thì nhớ và truyền lại cho người khác, cứ thế, bài dân ca được phổ biến. Việc truyền khẩu các bài dân ca nói chung là một trong những đặc điểm tiêu biểu của loại hình nghệ thuật dân gian. Dân ca là những bài hát không có tác giả rõ ràng, việc truyền khẩu các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Đặc điểm của dân ca là có tính dị bản.
Do đó, khi khảo sát các bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, chúng ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong các bài hát đó như phương ngữ, những địa danh, những đặc trưng của vùng, miền. Dân ca mang tính địa phương, đây là một trong những cách để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Hầu như trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như rằng, thì, chứ… Trong các bài dân ca miền Trung thường có những chữ ni, nớ, răng, chừ, rứa, mô… Những bài dân ca miền Nam thường có các chữ như má (mẹ), bậu (em), đặng (được), tợ (tự như)… [26, tr 5-6]. 11 Theo quan điểm của chúng tôi: Dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác, phương thức lưu truyền của dân ca là truyền khẩu (truyền miệng).
Dân ca có đặc điểm luôn được biến đổi, tạo nên các dị bản và thường không xác định được tên tác giả. Hát ru Hát ru là một thể loại âm nhạc truyền thống, một lối hát có tính tập quán truyền thống, một loại hình nghệ thuật đặc biệt trong kho tàng âm nhạc dân gian và mang giá trị nhân văn cao đẹp. Trong các thể loại dân ca, Hát ru là một trong những thể loại được nhân loại sáng tạo sớm nhất. Thể loại Hát ru thường có giai điệu êm dịu, nhẹ nhàng, đơn giản được người mẹ và những người thân của em bé hát, giúp cho bé dễ ngủ.
Cách hát này có tính chất đặc biệt, gắn liền với vai trò, hình ảnh người mẹ, người bà, người chị; gắn với cuộc sống sinh hoạt đầu đời của một con người và cũng là làn điệu thường dành riêng cho phụ nữ. Trong Hát ru mỗi vùng, miền có một phong cách hát riêng, nhưng nhìn chung đều mang tính trữ tình và luôn để lại những ấn tượng sâu sắc trong suốt cuộc đời của con người. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại Hát ru và đưa ra khái niệm về Hát ru. Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: Hát ru.
Hát để ru em ngủ, còn gọi là Ru em (miền Bắc và miền Trung), Ầu ơ (miền Nam), Ú lục (Thái, Tày), Um con (Bana), Khổng Mí nhủa (Mông). Điệu hát đều đều, êm ái, nhẹ nhàng; nội dung lời hát đề cấp đến tình mẹ con, tình chồng vợ, nhân tình thế thái, có khi mang những tình cảm rộng lớn hơn, vượt khỏi khuôn khổ ru trẻ ngủ [32, tr. Tác giả Phạm Phúc Minh trong công trình Tìm hiểu dân ca Việt Nam, viết: 12 Hát ru còn gọi là Hát ru con hoặc Ru em là một lối hát theo tập quán, truyền thống và rất phổ biến ở các vùng, các dân tộc trên khắp mọi miền đất nước. Tuy mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có điệu Hát ru được gọi bằng các tên gọi khác nhau và âm nhạc cũng mang mầu sắc riêng, nhưng có những điểm chung như: giai điệu êm dịu, du dương, trìu mến; tiết tấu đều đặn nhịp nhàng; lời ca giầu hình tượng, dạt dào tình thương yêu tha thiết đối với em thơ, tất cả những yếu tố đó đã như đôi cánh nhẹ nhàng đưa em bé vào giấc ngủ ngon lành [23, tr.
Một nghiên cứu khác trong cuốn “Dân ca Việt Nam, những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp”, (năm 2004, Nxb Khoa học Xã hội) tác giả Lê Văn Chưởng viết: Ru là lối diễn xướng phổ nhạc vào trong những bài thơ theo thang âm ngũ cung, chủ yếu là thơ dân gian với những thể lục bát, lục bát biến thể. để đưa trẻ vào giấc ngủ. Ru cũng là một lối hát cho nên trong dân gian nhất là miền Bắc gọi là Hát ru, ở Bình Trị Thiên gọi là Hò ru bởi vì nơi đây ru theo làn điệu hò. Thường thường thì mẹ ru con nhưng có khi bà ru cháu, chị ru em.
chủ yếu là mẹ ru con ngủ, nhưng ru cũng là cách để mẹ giãi bày tâm sự, ru cảnh ngộ của mình [4, tr. Tác giả Nguyễn Hữu Thu trong cuốn “Mẹ hát ru con” đã khái quát như sau: Hát ru hay còn gọi là Hát ru em ở các vùng thôn quê Việt Nam, trong những gia đình nghèo cha mẹ thường phải làm lụng suốt ngày kiếm ăn, con cháu của họ vào lứa tuổi thiếu niên ở nhà phải trông em và ru em ngủ. Vì thế còn gọi là Hát ru em hoặc Hát đưa 13 em. Vùng Tĩnh Gia (Thanh Hóa) gọi Hát ru con là “Hát khúc”, Nghệ Tĩnh gọi Hát ru con là hát “nựng con”.
Hát nựng có nghĩa là hát yêu con, rỡn con lúc bế trên tay và khi đứa trẻ chưa ngủ và để hướng nó vào giấc ngủ [38, tr. Từ ý kiến của một số tác giả chúng tôi nêu ở trên, chúng tôi sử dụng khái niệm Hát ru như sau: Hát ru là một thể loại dân ca, thường được hát để ru trẻ em đi vào giấc ngủ. Giai điệu Hát ru thường là êm dịu, nhẹ nhàng, đơn giản. Lời ca Hát ru thường có xuất xứ từ ca dao, dân ca, đồng dao, hò vè dân gian.
Giáo dục - Giáo dục âm nhạc 1. Giáo dục Trong quá trình sinh tồn, lao động đã tạo nên tiếng nói và ngôn ngữ của con người. Từ khi xuất hiện tiếng nói và ngôn ngữ, con người đã có hoạt động giáo dục. Những cử chỉ, âm thanh tiếng nói mô phỏng việc săn thú trên rừng hay bắt cá dưới nước thời nguyên thủy của con người là manh nha của một ngành khoa học quan trọng nhất trong mọi ngành khoa học, đó là khoa học giáo dục.
Khởi thủy của giáo dục là cử chỉ, tiếng nói. Sự trao truyền các kinh nghiệm, tri thức sống bằng ngôn ngữ nói rồi bằng chữ viết, ký hiệu đã làm cho việc giáo dục phát triển vượt bậc. Giáo dục giúp con người tiến hóa, văn minh. Một xã hội có nền giáo dục tốt sẽ văn minh hơn xã hội kém phát triển giáo dục.
Từ điển Tiếng Việt (1996, Nxb Đà Nẵng) do Viện Ngôn ngữ học biên soạn có viết: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của một nước [40;379]. 14 Tiếng Anh education được dịch sang tiếng Việt là giáo dục. Education với nghĩa chung là sự trao truyền những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thông qua dạy học.
Công ước của Liên Hiệp Quốc công nhận mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục âm nhạc Giáo dục âm nhạc là một bộ phận của hệ thống giáo dục ở nước ta. Giáo dục âm nhạc là một hình thức giáo dục nghệ thuật mang tính đặc thù. Nó có khả năng liên kết, sử dụng cũng như hỗ trợ, xen lồng vào tất cả các hình thức nội dung giáo dục khác làm cho chúng đạt đến hiệu quả cao trong việc thực hiện những yêu cầu mục tiêu giáo dục.
Theo chúng tôi: Giáo dục âm nhạc là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến đối tượng được giáo dục âm nhạc, để có được những kiến thức, kỹ năng âm nhạc như yêu cầu đề ra. Dạy học âm nhạc 1. Dạy học Dạy học là quá trình hoạt động của hai chủ thể, người dạy và người học cùng thực hiện mục tiêu đào tạo và nhiệm vụ dạy học. Trong đó người học chủ động tích cực tự điều khiển mọi hoạt động nhận thức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của người dạy.