Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về ĐSVH, ĐSVHTT là vấn đề rất rộng, phạm vi tư liệu cần tìm hiểu, tham khảo rất lớn; song căn cứ vào cấu trúc luận án và khả năng bao quát tư liệu của bản thân, tác giả luận án chia tách tình hình nghiên cứu vấn đề thành hai mảng: Các nghiên cứu về ĐSVHTT nói chung và các nghiên cứu về ĐSVHTT của học sinh. Các nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở phương Tây vấn đề ĐSVH đã được nghiên cứu theo cách tiếp cận của trường phái tâm lý học và xã hội học. Trong lĩnh vực xã hội học, Max Weber với bộ công trình đồ sộ bắt đầu công bố từ năm 1922, sau này được tập hợp với tiêu đề “Tập hợp các chuyên luận về xã hội học tôn giáo” [68] có thể được coi là người khai sáng cho cách tiếp cận hệ giá trị văn hóa, thiết chế xã hội và lối sống của các cộng đồng người ở cả phương Tây và phương Đông.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, từ thực tế khủng hoảng các mô hình phát triển trên thế giới, đã có một loạt các công trình nghiên cứu về văn hóa như Phản phát triển cái giá phải trả của chủ nghĩa tự do của Richard Bergeron [81]; Tạo dựng nền văn minh mới chính trị của làn sóng thứ ba của Alvin Toffler và Heidi Toffler [3]; Cạm bẫy phát triển: cơ hội và thách thức của James Goldsmith [60]… Các công trình này đều có chung khuynh hướng là khẳng định vai trò của văn hóa, xác định VHTT là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển, đối với sự phát triển xã hội. Các nghiên cứu về lịch sử văn hóa, văn minh nhân loại ở Liên xô trước đây rất phát triển vì được thừa hưởng trực tiếp quan điểm nghiên cứu văn hóa mác-xít. Từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các nhà văn hóa học Xô 6 viết đã có nhiều công trình nghiên cứu dày dặn và sâu sắc về văn hóa, đạo đức, lối sống, ĐSVHTT xã hội chủ nghĩa. Tất cả các tư tưởng giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống xã hội chủ nghĩa thời kì này đều kế thừa hoặc dựa trên kinh nghiệm của các nhà tâm lý, giáo dục Xô viết nổi tiếng như A.
và các tấm gương, điển hình cụ thể trong thực tế lao động, chiến đấu. Nhiều công trình của Makarenco, Vưgotski và Xukhomlinski đã được dịch và xuất bản ở nước ta trong những năm từ 1970 đến 1985. Cuốn sách Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thanh niên của hai tác giả S.Xactsenco [82] là một cuốn sách giáo dục lý tưởng tốt cho thanh niên Xô viết, song, nó chỉ phù hợp trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, mang đậm tính định hướng, giáo huấn và không tính đến những khả năng biến động của đời sống chính trị xã hội cũng như tự bản thân các chủ thể nhân cách trong các môi trường, điều kiện phát triển khác nhau. Đề cập đến các vấn đề về văn hóa, sự vận động phát triển của VHTT xã hội, phải kể đến các nghiên cứu của N.Gontrarenco trong cuốn Văn hóa tinh thần [74] hay công trình nghiên cứu được tổng hợp thành hệ thống lý luận văn hóa Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin do A.Acnondov chủ biên [1].Gontrarenco, “văn hóa tinh thần, với tính cách là một hiện tượng, về thực chất thuộc về kiến trúc thượng tầng, trước hết dựa trên nền tảng văn hóa vật chất, là cái là sự tiếp tục của văn hóa tinh thần(.
Những biến đổi cơ bản trong lĩnh vực sản xuất vật chất chắc chắn sẽ dẫn tới những biến đổi trong lĩnh vực văn hóa tinh thần” [74, tr. Ông cũng thừa nhận rằng: “Tính kế thừa không những là một ngọn nguồn quan trọng nhất của sự tiến bộ văn hóa loài người, mà còn là một điều kiện cần thiết để phát triển tất cả những phương diện của đời sống xã hội” [74, tr. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Xô viết mới chỉ nhìn nhận văn hóa nói chung và ĐSVHTT nói riêng dưới góc nhìn xã hội học, dựa trên các tiêu chí và bị chi phối bởi tồn tại xã hội mà chưa đi sâu, chưa thấy hết sự phức tạp, đa dạng trong thế giới tinh thần của chính con người, chủ thể của xã hội ấy. Đây cũng 7 là điểm khác biệt dễ nhận thấy trong các công trình nghiên cứu văn hóa theo quan điểm macxit và các trường phái nghiên cứu văn hóa của phương Tây.
Ngày nay, trong xu thế phát triển chung của nhân loại, những biến động chính trị xã hội và bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa đã tác động, tạo ra các sự “dịch chuyển” cần thiết, góp phần thu hẹp các bất đồng. Bởi vậy, thời kì “hậu Xôviết”, quan điểm của các học giả Nga cũng như các giáo trình văn hóa học của các nhà biên soạn Nga đã thay đổi nhiều, chú ý nhiều hơn tới nguồn gốc và các trường phái nghiên cứu văn hóa học như các nhà văn hóa học phương Tây và Mỹ [xem thêm 126, tr. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã ý thức sâu sắc về vai trò, giá trị của văn hóa và việc cần thiết, nhanh chóng xây dựng ĐSVH mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo Người, trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cùng phải chú ý, coi trọng ngang nhau là chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong đó chính trị và kinh tế là cơ sở, nền móng cho sự phát triển của văn hóa và văn hóa đóng vai trò là động lực của sự phát triển, tiến bộ xã hội: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa.
Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu “Có thực mới vực được đạo”, vì thế kinh tế phải đi trước. Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta” [69, tr. Lê Nin ngay sau Cách mạng tháng Mười, Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng thấy rất rõ rằng, tình trạng văn hóa thấp của quần chúng cùng với nền tảng kinh tế yếu kém sẽ cản trở con đường phát triển của quốc dân đồng bào trong việc xây dựng đời sống mới, xã hội mới. Bởi vậy, tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vận động đời sống mới và đến tháng 3 năm 1947, Người trực tiếp viết cuốn sách Đời sống mới để hướng dẫn xây dựng đời sống mới trong mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội.
Mục tiêu, nội dung của chương trình xây dựng “đời sống mới” thực chất là xây dựng nền văn hóa mới, con người mới. “hợp với tinh thần dân chủ” và giàu chất nhân văn, trước hết là sự tôn trọng và yêu thương con người, bồi dưỡng nâng cao ĐSTT của 8 con người, góp phần vào việc phát triển, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống mới. Theo Người, văn hóa phải “soi đường cho quốc dân đi”. Với việc cần thiết nâng cao ý thức văn hóa, chăm lo ĐSTT cho thế hệ trẻ, sau này, trong Thư gửi thanh niên, Người đã khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên, bởi “… các em được hạnh phúc hơn cha ông vì các em được hưởng một nền giáo dục tốt, dân chủ”.
Thời kỳ trong và ngay sau chiến tranh, khái niệm văn hóa đồng nghĩa với khái niệm lý tưởng, tinh thần, lòng yêu nước và ý thức xả thân vì Tổ quốc, dân tộc. Vấn đề đặc thù, truyền thống, bản sắc văn hóa được xem xét dưới góc độ triết học - lịch sử, gắn với cảm thức thời đại và trách nhiệm công dân hơn là trong tư cách là một hiện tượng, phạm trù văn hóa - xã hội. Phải đến những năm 90 của thế kỉ XX, việc tiếp cận, nghiên cứu và giảng dạy văn hóa mới thực sự đi sâu vào bản chất, cấu trúc, chức năng của nó. Ở nước ta, cụm từ “đời sống văn hóa” xuất hiện nhiều trên báo chí vào những năm 80 của thế kỷ XX và được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.
Hiện đang tồn tại trong cả lý luận và thực tiễn hai quan điểm khác nhau về khái niệm ĐSVH. Quan điểm thứ nhất xem ĐSVH là ĐSTT, thuộc lĩnh vực ĐSTT; phát triển văn hóa phải dựa trên cơ sở phát triển của kinh tế, vừa đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm thứ hai coi ĐSVH là một bộ phận của đời sống xã hội, một tổng thể phức hợp nhiều yếu tố có quan hệ tác động lẫn nhau chứ không chỉ riêng lĩnh vực tinh thần. Sự khác nhau về quan điểm giữa Trần Độ trong cuốn sách do ông là chủ biên “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, Hoàng Vinh trong “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta”, và một số nhà nghiên cứu khác sau này mà chúng tôi trích vắn tắt dưới đây chỉ là ví dụ về điều đó.
Cụ thể, trong cuốn “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” do Trần Độ chủ biên, các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm sau: “Đời sống văn hóa là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa, nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong 9 đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống con người trong xã hội” [34, tr. Còn Hoàng Vinh cho rằng: “ĐSVH là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, ĐSVH bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh” [125, tr.268], hoặc “ĐSVH là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức hợp các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó. Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa” [52, tr.