Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ tập trung nghiên cứu vấn đề "Đời sống văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội hiện nay", thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Luận án đặt vấn đề nghiên cứu dựa trên các chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần (ĐSVHTT), được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và tiếp tục khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cũng như tinh thần đổi mới giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI).
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trung học phổ thông (THPT) là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, giữ vai trò bản lề kết nối với giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục nghề nghiệp. Học sinh THPT nằm trong độ tuổi từ 16 đến 18, trải qua giai đoạn chuyển biến về thể chất, tâm sinh lý, nhận thức trí tuệ và tình cảm. Địa bàn Thủ đô Hà Nội mang đặc trưng của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn, nơi học sinh tiếp nhận sớm các tác động từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tác giả luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: trong khi các công trình trước đây tập trung nhiều vào đối tượng thanh niên, sinh viên nói chung hoặc chỉ tiếp cận học sinh THPT dưới góc độ tâm lý - giáo dục học đơn thuần, thì việc nghiên cứu toàn diện ĐSVHTT của học sinh THPT dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học vẫn chưa được thực hiện một cách chuyên sâu và có hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu các khía cạnh, biểu hiện cụ thể trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội hiện nay; từ đó trao đổi, bàn luận và khuyến nghị các giải pháp nhằm cải thiện, đáp ứng và nâng cao ĐSVHTT cho đối tượng này. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các khái niệm, phạm trù văn hóa tinh thần (VHTT), đời sống văn hóa (ĐSVH), ĐSVHTT, ĐSVHTT của học sinh THPT và cơ sở lý luận của việc nghiên cứu ĐSVHTT của học sinh THPT nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT tại Hà Nội; chỉ ra những nguyên nhân, yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến ĐSVHTT cùng xu hướng biến đổi trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội.
- Trao đổi, bàn luận về một số vấn đề thực tiễn nảy sinh trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội; phân tích mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng; bàn luận về các vấn đề đặt ra trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội, bao gồm đặc thù của chủ thể, thực trạng, nhu cầu, thiết chế, hoạt động văn hóa hiện có và các khả năng đáp ứng. Về phạm vi nghiên cứu, không gian khảo sát được giới hạn tại địa bàn nội thành Hà Nội, tập trung vào 4 trường THPT thuộc quận Cầu Giấy và quận Hai Bà Trưng. Thời gian khảo sát số liệu thực tế được thực hiện trong học kỳ 2 của năm học 2015 - 2016.
| Tên trường THPT |
Địa bàn quận |
Loại hình trường |
Đặc điểm trường được khảo sát |
| THPT Trần Nhân Tông |
Hai Bà Trưng |
Công lập |
Trường có truyền thống lâu đời |
| THPT Yên Hòa |
Cầu Giấy |
Công lập |
Kết hợp yếu tố truyền thống và quá trình đô thị hóa |
| THPT Cầu Giấy |
Cầu Giấy |
Công lập |
Trường mới thành lập hơn một thập kỷ |
| THPT dân lập Nguyễn Bỉnh Khiêm |
Cầu Giấy |
Dân lập |
Năng động trong đổi mới giáo dục, cư dân đa dạng |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong luận án được chia tách thành hai nhóm nội dung chính: các nghiên cứu về ĐSVHTT nói chung và các nghiên cứu về ĐSVHTT của thanh niên, học sinh THPT.
Ở nhóm nghiên cứu về ĐSVHTT nói chung:
- Tiếp cận quốc tế: Vấn đề ĐSVH từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở phương Tây được tiếp cận qua xã hội học và tâm lý học, tiêu biểu là Max Weber (1922) với công trình "Tập hợp các chuyên luận về xã hội học tôn giáo". Đến thập niên 1980, các tác giả Richard Bergeron với "Phản phát triển cái giá phải trả của chủ nghĩa tự do", Alvin Toffler và Heidi Toffler với "Tạo dựng nền văn minh mới chính trị của làn sóng thứ ba", James Goldsmith với "Cạm bẫy phát triển: cơ hội và thách thức" cùng khẳng định vai trò của VHTT đối với sự phát triển xã hội. Tại Liên Xô trước đây, các nghiên cứu mác-xít về lối sống xã hội chủ nghĩa được triển khai bởi các nhà tâm lý, giáo dục như Makarenco, Vưgotski, Xukhomlinski (dịch tại Việt Nam giai đoạn 1970 - 1985); S.Xactsenco với "Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thanh niên"; N.Gontrarenco với "Văn hóa tinh thần" và giáo trình "Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin" do A.Acnondov chủ biên. Tác giả luận án nhận xét các nghiên cứu Xô viết nhìn nhận ĐSVHTT chủ yếu từ góc độ xã hội học, nhấn mạnh sự chi phối của tồn tại xã hội mà chưa đi sâu vào tính đa dạng nội tâm của chủ thể; trong khi các giáo trình Nga thời kỳ hậu Xô viết đã dịch chuyển sang tiếp cận các trường phái của phương Tây và Hoa Kỳ.
- Tiếp cận tại Việt Nam: Tác giả điểm lại tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (tác phẩm "Đời sống mới" năm 1947, Thư gửi thanh niên, quan điểm về mối quan hệ bình đẳng giữa chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội). Về mặt lý luận, tác giả chỉ ra hai quan điểm tồn tại về ĐSVH: quan điểm thứ nhất coi ĐSVH thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần; quan điểm thứ hai coi ĐSVH là một tổng thể phức hợp của đời sống xã hội bao gồm cả yếu tố tĩnh tại và động thái (Trần Độ chủ biên công trình "Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở"; Hoàng Vinh trong "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta"). Vấn đề môi trường văn hóa (MTVH) và không gian văn hóa được thảo luận qua các tác phẩm của Đỗ Huy, Georges Olivier, Mai Hải Oanh, Văn Đức Thanh ("Về xây dựng môi trường văn hóa cơ sở"), Nguyễn Hữu Thức ("Về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa"). Ở góc độ luận án chuyên ngành, có Luận án Tiến sĩ Triết học của Trần Khắc Việt (nghiên cứu ĐSTT xã hội thời kỳ quá độ) và Luận án Tiến sĩ Văn hóa học của Trần Chí Mỹ (nghiên cứu ĐSVHTT tại Thành phố Hồ Chí Minh). Các hội thảo khoa học tiêu biểu được nhắc đến gồm Hội thảo quốc gia triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW (tháng 1/2015), Hội thảo của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (tháng 4/2015 với 45 báo cáo) và Hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về môi trường văn hóa trường học (tháng 10/2016 với 33 báo cáo).
Ở nhóm nghiên cứu về ĐSVHTT của thanh niên, học sinh THPT:
- Nghiên cứu quốc tế: Eugene C Roehlkepartain biên soạn "Cẩm nang về sự phát triển tinh thần trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên" (gồm 6 phần); Roeser nghiên cứu mối quan hệ giữa VHTT và sự phát triển tích cực của thanh thiếu niên; Hutz H Hertzberg nghiên cứu ĐSTT của sinh viên Cao đẳng Trinity tại Deerfield; John Fisher (1999) khảo sát 850 học sinh trung học tại Melbourne (Úc) để xây dựng thang đo sức khỏe tinh thần; Akiko Sato Doi nghiên cứu mức độ đáp ứng nhu cầu giải trí của sinh viên; Andrea L Merlino dùng phương pháp định tính khảo sát nhận thức VHTT của học sinh cuối cấp tại vùng Tây Bắc Thái Bình Dương (Mỹ). Các nghiên cứu thực nghiệm y tế - tâm lý học gồm có Kyunghyun Suh và Sinseop Kim khảo sát 496 học sinh Hàn Quốc (239 nam, 257 nữ, độ tuổi 14 - 18) về mối liên hệ giữa ĐSTT và chứng lo âu xã hội; Tapalova, Kassenova Samal, Uaidullakyzy Elmira nghiên cứu thực nghiệm trên 156 học sinh tại Almaty về hành vi đạo đức; Sian Cotton, Elizabeth Larkin, Andrea Hoopes, Barbara A. Rosenthal khảo sát 134 thanh thiếu niên về triệu chứng trầm cảm.
- Nghiên cứu trong nước: Các luận án tiến sĩ của Đặng Quang Thành (lối sống văn hóa của thanh niên TP.HCM), Võ Văn Thắng (giá trị văn hóa truyền thống và lối sống); đề tài của Trương Minh Dục và Lê Văn Định (2010); đề tài của Phạm Hồng Tung (2011) về biến đổi lối sống thanh niên; công trình của Đinh Thị Vân Chi (2001) về nhu cầu giải trí của thanh niên; luận văn của Đinh Lan Hương về ĐSVH sinh viên nghệ thuật tại Hà Nội; luận án của Phùng Thu Hiền về đạo đức truyền thống của sinh viên. Đáng chú ý ở bậc phổ thông có đề tài cấp Bộ của Trần Thị Minh Hằng (Học viện Quản lý giáo dục) xây dựng Bộ tiêu chí văn hóa học đường gồm 4 nhóm và 20 tiêu chí; đề tài V2011-03 do Nguyễn Thị Hiền chủ nhiệm tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (nghiệm thu ngày 04/01/2013) về kỹ năng tự nhận thức của học sinh THPT (gồm 3 nội dung, 5 mức độ). Ngoài ra, các tác giả tại Đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu về khó khăn tâm lý, lệch chuẩn, giá trị sống gồm Vũ Thị Khánh Linh, Trần Văn Thức, Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Thị Ngọc Tú, Trần Thị Mỵ Lương, Nguyễn Thị Huệ, Đỗ Thị Hạnh Phúc, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Thị Nhân Ái, Phạm Thanh Bình.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận lứa tuổi học sinh THPT dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học, phân tích các khó khăn tâm lý, quan hệ bạn bè, tình yêu học trò hoặc xây dựng quy chế quản lý hành vi ứng xử, mà chưa xem xét học sinh THPT như một chủ thể văn hóa độc lập với các nhu cầu, hoạt động sáng tạo, tiếp nhận và hưởng thụ giá trị VHTT. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách hệ thống hóa lý luận văn hóa học và đánh giá thực nghiệm ĐSVHTT của học sinh THPT trên địa bàn Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng ba lý thuyết khoa học nền tảng:
- Lý thuyết hệ thống - cấu trúc: Xem xét ĐSVHTT của học sinh THPT như một tiểu hệ thống nằm trong sự vận động, tương tác và biến đổi của toàn bộ hệ thống cấu trúc văn hóa tinh thần xã hội. Lý thuyết này giúp phân tích các biến động kinh tế, chính trị, xã hội tác động làm thay đổi hệ giá trị văn hóa của học sinh THPT Hà Nội.
- Lý thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow (1908 - 1970): Vận dụng mô hình Tháp nhu cầu 5 tầng để phân tích các tầng bậc nhu cầu của học sinh, từ nhu cầu cơ bản đến các nhu cầu bậc cao như giao lưu, chia sẻ, khẳng định giá trị bản thân trong môi trường học đường và xã hội.
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Đại diện bởi Talcott Parsons (1902 - 1979), Robert Merton (1910 - 2003) và Peter Blau (1918 - 2002). Lý thuyết được áp dụng để phân tích mô hình, đặc điểm và mối quan hệ chức năng giữa các yếu tố: nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm sáng tạo văn hóa tinh thần của học sinh.
Quan điểm tiếp cận của luận án dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về xây dựng văn hóa và con người.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp liên ngành và đa ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Văn hóa học với Xã hội học, Tâm lý học và Giáo dục học.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi trắc nghiệm trong học kỳ 2 năm học 2015 - 2016 tại 4 trường THPT (mỗi trường khảo sát 1 lớp thuộc mỗi khối 10, 11, 12). Phiếu hỏi giáo viên gồm 4 câu (phát ra 80 phiếu, thu về 66 phiếu hợp lệ). Phiếu hỏi học sinh gồm 19 câu thăm dò nhu cầu, hoạt động, thái độ, cảm xúc (phát ra 500 phiếu, thu về 489 phiếu hợp lệ).
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ bảng hỏi được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS trên hệ điều hành Windows, phiên bản 13.5.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia và phỏng vấn sâu: Thu thập ý kiến của các nhà văn hóa học, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên trong và ngoài các trường khảo sát, chuyên gia tâm lý và pháp luật.
- Phương pháp thống kê - phân loại, phân tích và so sánh đối chiếu: Phân nhóm dữ liệu theo các chiều cạnh lý thuyết để đưa ra các nhận định thực chứng.
| Nội dung phương pháp |
Quy mô thực hiện |
Chi tiết công cụ và nguồn dữ liệu |
| Khảo sát học sinh |
489 phiếu hợp lệ / 500 phiếu phát ra |
Phiếu trắc nghiệm 19 câu hỏi (khối 10, 11, 12) |
| Khảo sát giáo viên |
66 phiếu hợp lệ / 80 phiếu phát ra |
Phiếu trắc nghiệm 4 câu hỏi đánh giá thực trạng |
| Phỏng vấn sâu / tham vấn |
Nhóm chuyên gia, cán bộ quản lý, giáo viên |
Phỏng vấn trực tiếp chuyên gia văn hóa, tâm lý, giáo dục |
| Công cụ xử lý thống kê |
Toàn bộ mẫu khảo sát 4 trường |
Phần mềm SPSS phiên bản 13.5 trên môi trường Windows |
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được tổ chức thành phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 4 chương nội dung chính gồm 10 tiết. Dưới đây là nội dung chi tiết theo các chương được thể hiện trong văn bản:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 thực hiện việc hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai trục: ĐSVHTT nói chung và ĐSVHTT của thanh niên, học sinh THPT. Trên cơ sở phân tích lịch sử nghiên cứu từ các trường phái xã hội học tôn giáo phương Tây, các nghiên cứu văn hóa mác-xít Xô viết đến các đề tài nghiên cứu lối sống, văn hóa học đường tại Việt Nam, tác giả xác định rõ các luận điểm đã được làm sáng tỏ và các vấn đề còn bỏ ngỏ. Đồng thời, chương này xác lập khung lý thuyết nghiên cứu (lý thuyết hệ thống - cấu trúc, lý thuyết nhu cầu Maslow, lý thuyết cấu trúc - chức năng), nêu rõ quan điểm tiếp cận duy vật biện chứng, liên ngành và trình bày quy trình khảo sát xã hội học với mẫu 489 học sinh và 66 giáo viên tại 4 trường THPT Hà Nội bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.5.
Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về đời sống văn hóa tinh thần và khái quát đặc điểm học sinh trung học phổ thông Hà Nội
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các đặc trưng tâm sinh lý, xã hội của học sinh THPT Hà Nội.
Về mặt lý luận, tác giả phân định khái niệm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần dựa trên phân loại nhu cầu của Maslow và định nghĩa văn hóa của UNESCO tại Hội nghị Mêhicô năm 1982. Lĩnh vực VHTT bao gồm văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa lối sống và văn hóa lễ hội. Từ đó, cấu trúc ĐSVHTT của học sinh THPT được phân tích qua ba thành tố:
- Nhu cầu văn hóa tinh thần: Tác giả nhấn mạnh nhu cầu giãi bày, tâm sự, chia sẻ cảm xúc là nhu cầu thiết yếu của lứa tuổi học trò; bên cạnh nhu cầu vui chơi giải trí, thể thao, sử dụng internet, mạng xã hội, nghe nhạc, chơi game. Nhu cầu này chịu áp lực lớn từ nhiệm vụ học tập "Vì ngày mai lập nghiệp". Tác giả chỉ ra hạn chế của học sinh trong việc tự tiết chế, dẫn đến một số hiện tượng như chơi game quá đà, chạy theo mốt thời trang, hoặc đi chùa cầu may trước kỳ thi do tâm lý "học tài thi phận".
- Hoạt động văn hóa tinh thần trong trường THPT: Được chia thành 3 dạng thức cụ thể:
- Hoạt động sáng tạo các giá trị VHTT: Học sinh tham gia trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học, thi khéo tay, cải tiến đồ dùng học tập, biểu diễn nghệ thuật, viết nhật ký, sáng tác thơ văn. Tác giả dẫn chứng phong trào "sân khấu hóa trường học" do TS. Nguyễn Quang Trung triển khai tại Trường THPT Chuyên Ngoại ngữ Hà Nội.
- Hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ các giá trị VHTT: Tham gia lễ hội, thể dục thể thao, thưởng thức nghệ thuật, du lịch, mua sắm. Hoạt động này mang tính tự nguyện nhưng đòi hỏi sự định hướng để tránh lạm dụng làm ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập.
- Hoạt động lưu giữ, bảo tồn, trao đổi, phát huy các giá trị văn hóa: Ý thức giữ gìn di sản văn hóa truyền thống, đặc biệt ở những học sinh gắn bó với các làng nghề, dân ca quan họ, dệt lụa, thủ công mỹ nghệ.
- Sản phẩm văn hóa tinh thần của học sinh: Gồm hai nhóm là sản phẩm hình thành từ yêu cầu học tập (báo cáo nghiên cứu khoa học, sản phẩm dự thi) và sản phẩm do học sinh tự lựa chọn sáng tạo theo sở thích cá nhân.
Về đặc điểm học sinh THPT Hà Nội, chương 2 khái quát 4 đặc trưng cơ bản:
- Phát triển tâm sinh lý sớm hơn so với lứa tuổi: Trích dẫn nghiên cứu nhân trắc học của Mai Văn Hưng và Trần Long Giang về chỉ số Pignet và chỉ số khối cơ thể (BMI), cùng nghiên cứu của nhóm tác giả Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nguyễn Võ Kỳ Anh, Vũ Đức Thụ, Vũ Bích Huệ). Số liệu kiểm tra sức khỏe tại 4 trường cho thấy học sinh nam lớp 12 phần lớn đạt chiều cao từ 1,67m đến trên 1,70m (rất ít em dưới 1,65m); một bộ phận học sinh nữ đối mặt với tình trạng thừa cân cấp độ I. Sự phát triển thể chất thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu giới tính và nảy sinh tình cảm khác giới.
- Trí tuệ và năng lực ngôn ngữ phát triển: Khả năng tư duy trừu tượng, ghi nhớ có chủ định, diễn đạt mạch lạc, không nói ngọng; có ưu thế trong các cuộc thi thuyết trình, hùng biện. Tuy nhiên, tư duy độc lập giữa các trường có sự phân hóa: học sinh THPT Trần Nhân Tông và THPT Cầu Giấy thể hiện tính chủ động cao; trong khi tại THPT Yên Hòa và THPT dân lập Nguyễn Bỉnh Khiêm còn bộc lộ sự vội vàng, cảm tính, tính độc lập tư duy tập trung chủ yếu ở các lớp chọn.
- Ý thức tự vấn cao: Học sinh tự đặt ra các câu hỏi định vị bản thân ("Tôi là ai?", "Lý tưởng của tôi là gì?") và hình thành khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh trước các tác động xã hội phức tạp của môi trường đô thị.
- Sớm hình thành thế giới quan, tính tự trọng và năng lực giao tiếp: Nhu cầu tự lập bộc lộ rõ trên 3 phương diện: hành vi, tình cảm và giá trị đạo đức. Đời sống tình cảm phong phú, quan hệ bạn bè bền vững nhưng việc thiếu kiềm chế cảm xúc đôi khi dẫn đến xung đột hoặc các hệ quả tiêu cực trong tình yêu học trò quanh khu vực trường học.
Định hướng triển khai các chương tiếp theo trong cấu trúc luận án
Căn cứ vào cấu trúc tổng thể 4 chương và 3 nhiệm vụ nghiên cứu được xác định ở phần Mở đầu, sau khi hoàn thành tổng quan phương pháp (Chương 1) và cơ sở lý luận cùng đặc điểm chủ thể (Chương 2), nội dung các chương tiếp theo của luận án tập trung giải quyết:
- Thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội (tương ứng với Nhiệm vụ 2): Trình bày kết quả phân tích định lượng từ 489 phiếu khảo sát học sinh và 66 phiếu khảo sát giáo viên qua phần mềm SPSS 13.5 tại 4 trường THPT; đánh giá các chiều cạnh nhu cầu, mức độ tham gia hoạt động văn hóa, khả năng tiếp cận thiết chế văn hóa học đường và các yếu tố khách quan, chủ quan chi phối.
- Các vấn đề đặt ra và hệ thống giải pháp nâng cao ĐSVHTT (tương ứng với Nhiệm vụ 3): Bàn luận về các mâu thuẫn thực tiễn giữa nhu cầu giải trí, sáng tạo của học sinh với điều kiện cơ sở vật chất, áp lực thi cử; từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị, giải pháp nâng cao ĐSVHTT cho học sinh THPT Hà Nội phù hợp với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về VHTT, ĐSVHTT của thế hệ trẻ nói chung và lứa tuổi học sinh THPT nói riêng từ góc độ chuyên ngành Văn hóa học kết hợp liên ngành xã hội học, tâm lý học.
- Xác lập khung khái niệm và nhận diện cấu trúc ĐSVHTT của học sinh THPT thông qua ba thành tố: nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa tinh thần.
- Khái quát các đặc điểm đặc thù về thể chất, tâm sinh lý, năng lực nhận thức và ý thức tự vấn của học sinh THPT Hà Nội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng thu thập trong năm học 2015 - 2016 tại 4 trường THPT đại diện cho các mô hình công lập, dân lập, trường có truyền thống và trường mới thành lập trên địa bàn nội thành Hà Nội.
- Phản ánh thực trạng nhận thức, thái độ của đội ngũ giáo viên và học sinh đối với các sinh hoạt văn hóa học đường, nhận diện những biểu hiện lệch chuẩn, khó khăn tâm lý và nguy cơ nghiện game, sa đà mạng xã hội.
- Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy trong các chuyên ngành Văn hóa học, Tâm lý học, Quản lý giáo dục, Quản lý văn hóa; đồng thời cung cấp luận cứ cho các cơ quan quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường THPT trong việc hoạch định chính sách, tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao ĐSVHTT cho học sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi không gian khảo sát thực tế mới chỉ tập trung vào 4 trường THPT thuộc hai quận nội thành Hà Nội (Cầu Giấy và Hai Bà Trưng), chưa bao quát được các trường THPT thuộc khu vực ngoại thành hoặc các trường chuyên, trường điểm có truyền thống lâu đời như Chu Văn An, Trần Phú, Hà Nội - Amsterdam.
- Dữ liệu khảo sát thời điểm học kỳ 2 năm học 2015 - 2016 ghi nhận hiện tượng một số phiếu hỏi học sinh bỏ sót câu hỏi hoặc ý hỏi, dẫn đến sự không đồng nhất về mặt số lượng quan sát ở một số bảng thống kê.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với học sinh THPT khu vực ngoại thành Hà Nội và các vùng miền khác để so sánh sự khác biệt văn hóa giữa các nhóm cư dân.
- Tiếp tục theo dõi sự biến đổi trong ĐSVHTT của học sinh THPT dưới tác động của các phương tiện truyền thông số và chương trình giáo dục phổ thông mới.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Xã hội học, Quản lý văn hóa, Quản lý giáo dục và Tâm lý học lứa tuổi: Luận án cung cấp khung lý thuyết liên ngành và mô hình phân loại hoạt động văn hóa tinh thần của học sinh phổ thông.
- Cán bộ quản lý giáo dục tại Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục trung học: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về sự mất cân đối giữa chương trình học tập chính khóa và nhu cầu giải trí, từ đó điều chỉnh cơ chế quản lý văn hóa học đường.
- Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, cán bộ Đoàn Thanh niên tại các trường THPT: Tham khảo mô hình "sân khấu hóa trường học", phương thức tổ chức câu lạc bộ kỹ năng mềm và các biện pháp tư vấn tâm lý học đường nhằm hỗ trợ học sinh kiểm soát các khủng hoảng tâm lý tuổi dậy thì.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực tế tại những trường trung học phổ thông nào và lý do lựa chọn các trường này là gì?
Luận án tiến hành khảo sát tại 4 trường THPT thuộc quận Cầu Giấy và quận Hai Bà Trưng (Hà Nội): THPT Trần Nhân Tông, THPT Yên Hòa, THPT Cầu Giấy và THPT dân lập Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các trường này được lựa chọn vì đại diện cho hai loại hình công lập và dân lập, gồm cả trường có bề dày truyền thống lẫn trường mới thành lập, nằm trên các địa bàn dân cư đông đúc phản ánh rõ nét sự kết hợp giữa văn hóa nội thành và văn hóa đô thị hóa mới, thay vì chọn các trường chuyên hay trường điểm.
2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học và công cụ phân tích số liệu của luận án được thực hiện như thế nào?
Tác giả đã phát ra 500 phiếu hỏi cho học sinh cả ba khối lớp (10, 11, 12) và thu về 489 phiếu hợp lệ; phát ra 80 phiếu hỏi cho giáo viên và thu về 66 phiếu hợp lệ trong học kỳ 2 năm học 2015 - 2016. Toàn bộ số liệu định lượng được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS trên môi trường Windows, phiên bản 13.5.
3. Hoạt động văn hóa tinh thần của học sinh THPT được luận án phân chia thành những dạng thức nào?
Hoạt động VHTT của học sinh trong nhà trường THPT được phân chia thành 3 dạng thức chính:
- Hoạt động sáng tạo các giá trị VHTT (tham gia câu lạc bộ học tập, nghiên cứu khoa học, thi khéo tay, biểu diễn nghệ thuật, viết nhật ký, sáng tác thơ văn, sân khấu hóa trường học).
- Hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ các giá trị VHTT (tham gia lễ hội, thể dục thể thao, thưởng thức nghệ thuật, xem phim, nghe nhạc, du lịch).
- Hoạt động lưu giữ, bảo tồn, trao đổi, phát huy các giá trị, sản phẩm văn hóa (bảo tồn văn hóa làng nghề truyền thống, quảng bá hình ảnh địa phương, bảo vệ cảnh quan trường lớp).
4. Dữ liệu nhân trắc học và thể chất của học sinh THPT Hà Nội được luận án trích dẫn từ những nguồn nghiên cứu nào?
Luận án trích dẫn kết quả nghiên cứu nhân trắc học của Mai Văn Hưng và Trần Long Giang về chỉ số Pignet và BMI của học sinh nội thành, kết hợp nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh, Vũ Đức Thụ, Vũ Bích Huệ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng số liệu khám sức khỏe định kỳ học đường tại 4 trường khảo sát. Kết quả ghi nhận học sinh nam lớp 12 phần lớn có chiều cao từ 1,67m đến trên 1,70m, trong khi học sinh nữ xuất hiện tỷ lệ thừa cân cấp độ I.
5. Luận án vận dụng những lý thuyết khoa học nào làm nền tảng phân tích?
Luận án vận dụng 3 lý thuyết khoa học:
- Lý thuyết hệ thống - cấu trúc (đặt ĐSVHTT của học sinh trong tổng thể hệ thống văn hóa xã hội).
- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (mô hình 5 tầng nhu cầu để phân tích nhu cầu tinh thần).
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng của Talcott Parsons, Robert Merton và Peter Blau (nghiên cứu mối quan hệ chức năng giữa nhu cầu, hoạt động và sản phẩm văn hóa).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đời sống văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học, tiếp cận đối tượng học sinh THPT thông qua sự kết hợp giữa lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu và phương pháp điều tra xã hội học. Bằng việc phân tích dữ liệu thực nghiệm tại 4 trường THPT trên địa bàn Hà Nội trong năm học 2015 - 2016, tác giả đã làm rõ cấu trúc ĐSVHTT qua các chiều cạnh nhu cầu, hoạt động và sản phẩm văn hóa gắn liền với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 16 - 18. Công trình mang lại giá trị tham khảo khoa học cho các nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục và cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý, xây dựng môi trường văn hóa học đường tại các trường phổ thông.