CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới Hứng thú là một vấn đề được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú. Có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú trên thế giới chia làm các xu hướng sau: - Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lí của hứng thú. Đại diện cho xu hướng này là A. Năm 1994, ông đã tiến hành thành công luận án tiến sĩ “Tâm lí học hứng thú”, nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề lí luận tổng quát về hứng thú trong tâm lí học [13].
Herbart (1776-1841) – nhà tâm lí học, nhà triết học, nhà giáo dục học người Đức, ông đưa ra 4 mức độ của dạy học: Tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú. Đặc biệt, ông chỉ ra rằng hứng thú là yếu tố quyết định kết quả học tập của con người.Buher trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em” đã tìm hiểu khái niệm hứng thú.Clapade với vấn đề “Tâm lí trẻ em và thực nghiệm sư phạm” đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học. Trong giáo dục chức năng, Clapade đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó. Năm 1973, Bôgôxlôvxki đã đưa ra vấn đề hứng thú như là sự biểu lộ cảm xúc của nhu cầu nhận thức ở con người.
Năm 1979, nhà tâm lí học Pháp J.Dupont có tác phẩm “Tâm lí học hứng thú”. Trong đó, tác giả thể hiện hướng nghiên cứu hứng thú như một khuynh hướng, một nguyện vọng, một xu hướng [17].Krutseski đã quan niệm hứng thú như một khuynh hướng nhận thức tích cực của con người. - Xu hướng thứ 2: Xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức cá nhân nói riêng. 13 Đại diện cho xu hướng này là L.Bogiovich “Hứng thú hình thành trong quan hệ hình thành nhân cách”.
Lukin và Leevitop nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ với năng lực”. Các tác giả này coi hứng thú là động cơ có ý nghĩa của hoạt động.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc của tri thức học viên với hứng thú học tập. Kết quả cho thấy tri thức của học viên có mối quan hệ khăng khít với hứng thú học tập. Năm 1962, tác giả Tomkins đã mô tả mối quan hệ giữa hứng thú với sự phát triển các chức năng của tư duy và trí nhớ.Macsimova đã nghiên cứu “Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đến hứng thú nhận thức của học sinh” [15] Những công trình của A.Zaporozet đã góp phần quan trọng trong nghiên cứu về hứng thú nói chung, hứng thú nhận thức nói riêng.
- Xu hướng thứ 3: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi. Đại diện là G.Isukina với “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi”.Xalonhisu nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo.Marozôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình thường” (1957). Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú của từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ [14].Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi”. Từ những năm 1931, ông đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng câu hỏi.Sukina trong công trình “Vấn đề hứng thú trong khoa học giáo dục” đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức cùng với biểu hiện của nó, đồng thời bà còn nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thứ nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh.Marcova nghiên cứu về vai trò của dạy học nêu vấn đề với hứng thú học tập của học sinh.
Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng trong việc góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập.Piaget (1896-1996) – nhà tâm lí học nổi tiếng người Thụy Sĩ có rất nhiều 14 công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục. Ông nhấn mạnh, cũng như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc nhu cầu của nó. Nó sẽ không đem lại hiệu xuất đầy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó. Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa [18].
Qua các công trình nghiên cứu về hứng thú của các quốc gia trên thế giới thì bản chất tâm lí của hứng thú, hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức cá nhân nói riêng, sự hình thành và phát triển tâm lí hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi là ba phạm vi cơ bản. Các quốc gia đã nhận ra tầm quan trọng của sự hứng thú đối với trẻ ở các lứa tuổi. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một số biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ thông qua trò chơi vận động ở trường mầm non chưa thực sự được quan tâm. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Nghiên cứu về trò chơi và vai trò của trò chơi đối với sự phát triển của trẻ nhỏ được một số nhà khoa học trong nước đề cập đến dưới gốc độ nghiên cứu tâm lí học và giáo dục học.TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết [12] trong tác phẩm “Trò chơi của trẻ em” đã giới thiệu về khái niệm trò chơi, đồ chơi và vai trò của đồ chơi, sự phân loại các trò chơi và tác dụng giáo dục của trò chơi đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo.
Các tác giả Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Thu Hiền, Vũ Thị Ngân tập chung nghiên cứu khai thác trò chơi với tư cách là một phương pháp, phương tiện phát triển trí tuệ cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo. Tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú, được phân loại theo các xu hướng sau: - Xu hướng 1: Nghiên cứu hứng thú học tập các bộ môn của học sinh. Năm 1975, Nguyễn Duy Long đã nghiên cứu hứng thú học tập của bộ môn Tâm lý học của sinh viên Đại học Sư phạm và đề xuất cách tác động đến hứng thú bằng cách hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên. Năm 1977, Phạm Huy Thụ trong luận văn “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp 2 một số trường tiên tiến” đã điều tra hứng thú học tập các môn của 3 trường tiên tiến và đề xuất các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao 15 hứng thú học tập cho học sinh [8].
Trong đề tài nghiên cứu “Hứng thú học tập các bộ mô của học sinh cấp 3 trường Thalman, An Khánh, Long Xuyên”, tác giả Đặng Trường Thanh đã chỉ ra 5 yếu tố tác động đến hứng thú học tập của học sinh bao gồm: Nội dung chương trình, nội dung môn học, vai trò của giáo viên, tác động của bạn bè và nhận thức về giá trị của môn học. Năm 1987, tác giả Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa Tâm lí – Giáo dục”. Năm 1994, Hoàng Hồng Liên đã chỉ ra biện pháp dạy học tốt nhất tác động đến hứng thú của học sinh chính là dạy học trực quan trong nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông”. Năm 1997, với đề tài nghiên cứu “Hứng thú học tập của học sinh cấp 2 đối với môn học cụ thể” tổ nhân cách, khoa Tâm lí – Giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội đã chỉ ra sự không đồng đều trong hứng thú học tập các môn học.
Năm 1999, trong luận văn “Thực trạng hứng thú các môn lí luận của sinh viên trường đại học thể dục thể thao I” tác giả Lê Thị Thu Hằng đã đưa ra những ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên bao gồm phương pháp và năng lực chuyên môn của giáo viên. Tác giả Đỗ Thị Nhượng với đề tài “Nghiên cứu hứng thú học tập môn Tâm lí học của sinh viên Cao đẳng sư phạm Cần Thơ” đã kết luận biện pháp sử hiệu để nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên là cải tiến và sử dụng hợp lí các bài tập thực hành Tâm lí học vào chương trình giảng dạy. Năm 2005, tác giả Phạm Mạnh Hiền đã chỉ ra phương pháp giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa to lớn tác động tới hứng thú của học viên trong đề tài “Hứng thú học tập của học viên thuộc trung tâm phát triển kỹ năng con người Tân Việt”. - Xu hướng 2: Nghiên cứu hứng thú với nghề nghiệp.
Năm 1973, Phạm Tất Dong đã đề cập đến hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở để đề ra các nhiệm vụ hướng nghiệp một cách khoa học trong luận văn “Vài đặc điểm hứng thú nghề nghiệp của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”. Đến năm 1981, tác giả Phùng Minh Nguyệt với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”. 16 Năm 1988, Hoài Thị Kim Thu có đề tài “Việc hình thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh qua giảng dạy môn Vật lí”. Ngoài ra, có rất nhiều đề tài và luận văn liên quan đến vấn đề hứng thú cho trẻ mầm non.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trong chương trình chăm sóc trẻ hiện nay, việc tạo hứng thú cho trẻ trong các hoạt động như học tập, lao động, thể chất…khá được quan tâm. Nhưng thực tế cho thấy, việc kích thích hứng thú cho trẻ thông qua trò chơi vận động ở trường mầm non chưa được giáo viên quan tâm và thực hiện đúng mực. Khái niệm hứng thú Hứng thú đang là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm, hứng thú được nghiên cứu với các khuynh hướng khác nhau.
Cho đến nay rất khó để đưa ra một khái niệm chung nhất về hứng thú.