Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ và hình thành những yếu tố nhân cách ban đầu cho trẻ trước khi bước vào lớp một. Theo Điều lệ trường mầm non, nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo sự hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; trong đó, chăm sóc dinh dưỡng là một hợp phần cốt lõi gắn liền với bảo vệ sức khỏe và an toàn cho trẻ. Đối với lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), cơ thể đang trong giai đoạn phát triển thể lực và trí lực mạnh mẽ, khả năng tiếp nhận kiến thức và hình thành thói quen diễn ra nhanh chóng. Việc giáo dục dinh dưỡng đúng đắn ở giai đoạn này không chỉ giúp trẻ nhận biết thực phẩm, hình thành hành vi ăn uống văn minh, tự giác chăm sóc bản thân mà còn tạo tiền đề liên thông giáo dục dinh dưỡng lên các cấp học tiếp theo.
Về phương diện hoạt động, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Trong hệ thống các trò chơi ở trường mầm non, trò chơi học tập (TCHT) là phương tiện giáo dục đặc thù, kết hợp hài hòa giữa yếu tố vui chơi và nhiệm vụ nhận thức theo phương châm "học mà chơi, chơi mà học". Khi tham gia trò chơi học tập, trẻ tiếp thu tri thức và rèn luyện kỹ năng một cách tự nhiên, không bị gò bó hay căng thẳng. Mặc dù đội ngũ giáo viên mầm non đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục dinh dưỡng thông qua trò chơi học tập, song thực tiễn triển khai còn bộc lộ nhiều lúng túng: giáo viên chưa biết cách sưu tầm, lựa chọn trò chơi phù hợp theo chủ đề, thiếu kỹ năng lập kế hoạch tổ chức, hạn chế trong việc thiết kế phương tiện trực quan, dẫn đến hiệu quả giáo dục dinh dưỡng chưa đạt mức mong đợi. Xuất phát từ bối cảnh lý luận và thực tiễn đó, đề tài "Một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập" được thực hiện.
Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 4 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập.
- Nghiên cứu thực trạng một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp đã đề xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập.
- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình tổ chức các biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non Ánh Sao, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa lý luận về dinh dưỡng học mầm non và lý luận giáo dục học mầm non về hoạt động vui chơi:
- Khái niệm dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng (GDDD): Dinh dưỡng là quá trình phức hợp gồm việc đưa thức ăn vào cơ thể qua tiêu hóa và hấp thu để bù đắp tiêu hao năng lượng, đổi mới tế bào và điều tiết chức năng sống (bao gồm hai quá trình đối lập thống nhất là đồng hóa và dị hóa). Giáo dục dinh dưỡng là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm và lý trí nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi, hướng tới việc tự giác chăm lo ăn uống và sức khỏe. Nội dung GDDD cho trẻ 5 - 6 tuổi tập trung vào: nhận biết và phân loại 4 nhóm thực phẩm thông thường, hiểu mối liên quan giữa ăn uống với bệnh tật (suy dinh dưỡng, béo phì, sâu răng, tiêu chảy), rèn luyện kỹ năng tự phục vụ (rửa tay bằng xà phòng, đánh răng, lau mặt, sử dụng dụng cụ ăn uống) và hình thành thái độ ăn uống tích cực.
- Trò chơi học tập và vai trò sư phạm: TCHT là loại trò chơi có luật do người lớn sáng tạo, trong đó nhiệm vụ học tập được ẩn chứa bên trong nhiệm vụ chơi, luật chơi và hành động chơi. Đề tài kế thừa các quan điểm của L. Vygotsky về "vùng phát triển gần nhất", học thuyết "sức dư thừa" của Ph. Spencer, quan điểm sư phạm của I. Comenius, E.U. Danxova, cùng các nghiên cứu trong nước của Đinh Văn Vang, Nguyễn Ánh Tuyết, Hoàng Thị Phương, Lê Thị Mai Hoa, Nguyễn Minh Thủy...
- Biện pháp giáo dục dinh dưỡng qua TCHT: Là hệ thống cách thức tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của giáo viên thông qua việc sử dụng TCHT nhằm hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ dinh dưỡng cho trẻ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu khoa học, văn bản chỉ đạo (Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 - 2010, Điều lệ trường mầm non, Chương trình giáo dục mầm non).
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bằng phiếu anket: Thu thập dữ liệu từ 32 giáo viên mầm non (đang công tác tại Trường Mầm non Ánh Sao và Trường Mầm non Gia Cẩm/Hoa Sen, TP. Việt Trì, Phú Thọ; có thâm niên từ 1 - 25 năm, 100% đạt trình độ trung cấp trở lên, trong đó 90% có trình độ cao đẳng và đại học).
- Phương pháp quan sát: Quan sát tiến trình tổ chức hoạt động của giáo viên và biểu hiện nhận thức, thái độ, thao tác của 82 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên về những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức TCHT và trò chuyện với trẻ để kiểm tra mức độ ghi nhớ biểu tượng dinh dưỡng.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích kết quả thực hành, tạo hình, bài tập nhận biết của trẻ.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức tính tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn và kiểm định $t$-Student để so sánh mức độ sai khác giữa các nhóm trước và sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 làm rõ các tiền đề khoa học và đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ:
- Tổng quan lý luận: Khẳng định TCHT là phương tiện tối ưu để phát triển nhận thức và rèn luyện hành vi dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo lớn. Tác giả phân loại TCHT theo phương tiện (đồ vật/đồ chơi/tranh ảnh, lô tô, bằng lời, âm nhạc), theo nhiệm vụ nhận thức (cung cấp biểu tượng mới hoặc củng cố biểu tượng cũ) và xác lập quy trình tổ chức gồm 3 bước: Chuẩn bị (đồ dùng, phương tiện, xây dựng luật chơi), Thực hiện (gây hứng thú, phổ biến luật chơi, hướng dẫn chơi), Đánh giá (nhận xét, khen ngợi, thu dọn đồ chơi).
- Tiêu chí và thang đánh giá thực trạng GDDD ở trẻ:
- Tiêu chí 1 - Nhận thức: Biết các nhóm thực phẩm, hiểu lợi ích ăn uống, vận dụng vào thực tế.
- Tiêu chí 2 - Kỹ năng: Thao tác trước khi ăn (rửa tay, lấy bát thìa), trong khi ăn (mời, xúc ăn, không làm rơi vãi), sau khi ăn (súc miệng, thu dọn).
- Tiêu chí 3 - Thái độ: Hứng thú, tự giác, vui vẻ khi ăn uống.
- Thang điểm: Mức độ 1 - Cao (3 điểm), Mức độ 2 - Trung bình (2 điểm), Mức độ 3 - Thấp (1 điểm).
- Kết quả khảo sát thực trạng giáo viên ($n=32$):
| Chỉ tiêu khảo sát |
Mức độ / Nội dung |
Tỷ lệ (%) |
| Nhận thức về tầm quan trọng của TCHT trong GDDD (Bảng 1.1) |
Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan trọng |
56,3% (18/32 GV) 37,5% (12/32 GV) 6,3% (2/32 GV) 0% (0/32 GV) |
| Nguồn trò chơi học tập được sử dụng thường xuyên (Bảng 1.2) |
Sưu tầm từ tài liệu tham khảo Tuyển tập trò chơi Bài soạn gợi ý trong chương trình Mạng Internet Tự thiết kế mới |
74,3% 65,7% 63,4% 21,8% 13,9% (53,5% không thường xuyên; 32,6% không bao giờ) |
| Mức độ sử dụng TCHT nhằm GDDD (Bảng 1.4) |
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ |
31,3% (10/32 GV) 68,7% (22/32 GV) 0% |
| Mức độ sử dụng các biện pháp tổ chức TCHT (Bảng 1.5) |
Theo dõi tiến trình chơi, sửa sai, nhận xét Làm mẫu thao tác chơi Sưu tầm, lựa chọn TCHT theo chủ đề Lập kế hoạch sử dụng TCHT để GDDD Tạo hình thức động viên, khích lệ trẻ Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi |
Thường xuyên: 100% Thường xuyên: 91,6% Thường xuyên: 0% (Không dùng: 59,4%) Thường xuyên: 0% (Không dùng: 71,9%) Thường xuyên: 0% (Không dùng: 71,9%) Thường xuyên: 0% (Không dùng: 75,0%) |
| Khó khăn nổi cộm của giáo viên (Bảng 1.6) |
TCHT về GDDD có sẵn quá ít Số lượng trẻ quá đông trong một lớp (25 - 30 trẻ/2 cô) Trẻ ít hứng thú với trò chơi biên soạn sẵn Thiếu thiết bị, phương tiện, đồ chơi |
Rất khó khăn: 68,8% Rất khó khăn: 65,6% Rất khó khăn: 62,5% Rất khó khăn: 46,8% |
- Kết quả khảo sát thực trạng mức độ GDDD của trẻ 5 - 6 tuổi ($n=82$):
| Lớp khảo sát |
Sĩ số |
Mức độ 1 (Cao) |
Mức độ 2 (Trung bình) |
Mức độ 3 (Thấp) |
Điểm trung bình ($\bar{X}$) |
| 5 tuổi A1 |
25 |
3 trẻ (12,0%) |
7 trẻ (28,0%) |
14 trẻ (60,0%) |
2,04 |
| 5 tuổi A2 |
28 |
2 trẻ (7,2%) |
6 trẻ (21,4%) |
20 trẻ (71,4%) |
1,36 |
| 5 tuổi A3 |
34 |
2 trẻ (5,9%) |
6 trẻ (17,6%) |
26 trẻ (76,5%) |
1,29 |
Phát hiện thực trạng: Tỷ lệ trẻ ở mức Thấp chiếm đa số (60,0% - 76,5%), trẻ đạt mức Cao rất thấp (5,9% - 12,0%). Trẻ thiếu hụt vốn hiểu biết về 4 nhóm dinh dưỡng, thụ động, ỷ lại vào sự nhắc nhở của giáo viên và thường bỏ cuộc khi gặp nhiệm vụ phân loại thực phẩm phức tạp.
- Nguyên nhân: Khách quan do phòng học chật hẹp, sĩ số đông, thiếu thốn đồ dùng trực quan, áp lực công việc của giáo viên; chủ quan do giáo viên phụ thuộc vào tài liệu có sẵn, chưa đầu tư thiết kế trò chơi mới, thiếu kỹ năng lập kế hoạch tích hợp và phương pháp tổ chức còn mang tính áp đặt.
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập
Trên cơ sở khắc phục các hạn chế từ thực trạng, Chương 2 thiết lập hệ thống nguyên tắc và các biện pháp sư phạm cụ thể:
- Nguyên tắc đề xuất:
- Đảm bảo tính khoa học: Biện pháp phải bám sát mục tiêu, nội dung giáo dục mầm non, dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 5 - 6 và quy luật hình thành biểu tượng nhận thức.
- Đảm bảo tính thực tiễn: Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, khả năng nhận thức của trẻ, đặc điểm nhân sự và hoàn cảnh thực tế tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì.
- Nội dung hệ thống biện pháp đề xuất:
- Sưu tầm, lựa chọn và thiết kế hệ thống trò chơi học tập phù hợp với nội dung giáo dục dinh dưỡng theo từng chủ đề giáo dục trong năm học.
- Lập kế hoạch sử dụng trò chơi học tập tích hợp giáo dục dinh dưỡng vào các thời điểm thích hợp trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ (hoạt động học có chủ định, hoạt động góc, hoạt động chuyển tiếp, giờ ăn, dạo chơi ngoài trời).
- Thiết kế và lựa chọn hệ thống phương tiện, đồ dùng trực quan, học liệu đa dạng, đảm bảo an toàn, thẩm mỹ và tính kích thích thao tác chơi của trẻ.
- Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức TCHT: đa dạng hóa hình thức chơi (cá nhân, nhóm, tập thể), chuyển dần từ hướng dẫn trực tiếp sang gợi mở, tạo tình huống để trẻ tự giải quyết nhiệm vụ chơi, khuyến khích tính tự lập và sáng tạo.
- Xây dựng tiêu chí theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ và phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình trong việc củng cố kiến thức, hành vi dinh dưỡng cho trẻ.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày toàn bộ quy trình và kết quả thử nghiệm thực tế nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất:
- Mục đích thực nghiệm: Kiểm tra mức độ nâng cao nhận thức, kỹ năng và thái độ dinh dưỡng của trẻ 5 - 6 tuổi sau khi áp dụng các biện pháp tổ chức TCHT mới, đối chiếu với phương pháp giáo dục truyền thống.
- Đối tượng và địa bàn: Bố trí nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương nhau về trình độ phát triển tâm sinh lý và điều kiện chăm sóc tại Trường Mầm non Ánh Sao, thành phố Việt Trì.
- Tiến trình thực nghiệm:
- Tiến hành đo lường mức độ GDDD của trẻ ở cả hai nhóm trước thực nghiệm để làm căn cứ đối sánh.
- Triển khai hệ thống biện pháp và các TCHT đã thiết kế cho nhóm TN; nhóm ĐC vẫn tổ chức theo quy trình giáo dục hiện hành.
- Đánh giá sau thực nghiệm dựa trên bộ tiêu chí (Nhận thức, Kỹ năng, Thái độ) và xử lý số liệu bằng kiểm định $t$-Student để xác định mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Phản ánh chính xác thực trạng: Nghiên cứu đã làm rõ khoảng cách giữa nhận thức và hành động của giáo viên mầm non. Mặc dù 93,8% giáo viên đánh giá TCHT có vai trò hình thành kiến thức, kỹ năng dinh dưỡng cho trẻ, nhưng có đến 71,9% giáo viên không lập kế hoạch tổ chức và 59,4% không sưu tầm TCHT theo chủ đề; 53,5% không thường xuyên tự thiết kế trò chơi mới.
- Xác định mức độ khởi điểm của trẻ: Kết quả khảo sát thực tế trên 82 trẻ cho thấy mức độ nhận thức và hành vi dinh dưỡng ban đầu của trẻ rất hạn chế (tỷ lệ đạt mức Thấp chiếm từ 60,0% đến 76,5%; điểm trung bình chỉ đạt từ 1,29 đến 2,04 điểm trên thang điểm 3).
- Hiệu quả thực nghiệm sư phạm: Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp tổ chức TCHT tích hợp GDDD đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt ở nhóm thực nghiệm về khả năng nhận biết 4 nhóm thực phẩm, thói quen tự phục vụ trước - trong - sau bữa ăn và thái độ vui vẻ, tự giác trong ăn uống so với nhóm đối chứng.
Giải pháp và kiến nghị
- Đối với giáo viên mầm non: Cần chủ động lập kế hoạch đưa TCHT vào từng chủ đề giáo dục; tăng cường tự làm đồ dùng, học liệu trực quan từ vật liệu mở; đổi mới cách tổ chức theo hướng gợi mở, trao quyền chủ động cho trẻ thay vì áp đặt làm mẫu cứng nhắc.
- Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần đầu tư trang thiết bị, học liệu phục vụ giáo dục dinh dưỡng; giảm sĩ số học sinh/lớp để đảm bảo không gian hoạt động; tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về thiết kế và sử dụng TCHT trong giáo dục thể chất, sức khỏe.
- Đối với phụ huynh: Tăng cường phối hợp với giáo viên để đồng bộ hóa việc rèn luyện nền nếp ăn uống và củng cố kiến thức dinh dưỡng cho trẻ tại gia đình.
Đóng góp khoa học của tác giả
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) thông qua phương tiện trò chơi học tập.
- Xây dựng bộ tiêu chí và thang đo đánh giá năng lực giáo dục dinh dưỡng cụ thể (gồm 3 tiêu chí, 3 mức độ điểm), cung cấp công cụ khảo sát định lượng đáng tin cậy cho giáo dục mầm non.
- Đề xuất hệ thống biện pháp mang tính khả thi, dễ áp dụng, góp phần đa dạng hóa phương pháp giáo dục dinh dưỡng tại các cơ sở giáo dục mầm non địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát và địa bàn thực nghiệm của khóa luận chỉ giới hạn tại một số trường mầm non thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Trường MN Ánh Sao, MN Gia Cẩm/Hoa Sen), với quy mô mẫu là 32 giáo viên và 82 trẻ. Do đó, tính đại diện cho các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau (khu vực miền núi, nông thôn) chưa cao.
- Nguồn kinh phí và thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên việc thiết kế và thử nghiệm hệ thống học liệu, đồ chơi trực quan mới chưa thể bao quát toàn bộ các chủ đề trong năm học mầm non.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thử nghiệm các biện pháp trên nhiều địa bàn khác nhau, bao gồm cả trường mầm non công lập chuẩn quốc gia, trường tư thục và các điểm trường tại vùng khó khăn.
- Nghiên cứu mở rộng việc thiết kế và ứng dụng TCHT tích hợp giáo dục dinh dưỡng cho các độ tuổi mầm non khác (mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi và mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi).
- Ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu số trong việc thiết kế các trò chơi học tập tương tác nhằm tăng cường hứng thú học tập về dinh dưỡng cho trẻ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao đối với:
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật, khung lý thuyết chuẩn mực và phương pháp thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm trong khóa luận tốt nghiệp.
- Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp: Tham khảo hệ thống tiêu chí đánh giá dinh dưỡng của trẻ, quy trình 3 bước hướng dẫn TCHT và các gợi ý trò chơi học tập để tích hợp vào kế hoạch giảng dạy theo chủ đề hàng tuần, hàng tháng.
- Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Sử dụng số liệu thực trạng về những khó khăn của giáo viên (sĩ số, cơ sở vật chất, tài liệu) để định hướng bồi dưỡng chuyên môn và phân bổ nguồn lực trang thiết bị đồ dùng dạy học hợp lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành trên những đối tượng nào và tại địa bàn nào?
Khảo sát thực trạng được tiến hành trên 32 giáo viên mầm non (có thâm niên từ 1 - 25 năm, 100% đạt trình độ trung cấp đến đại học) và 82 trẻ mẫu giáo lớn thuộc 3 lớp (5 tuổi A1: 25 trẻ, 5 tuổi A2: 28 trẻ, 5 tuổi A3: 34 trẻ) tại Trường Mầm non Ánh Sao và Trường Mầm non Gia Cẩm / Hoa Sen thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
2. Tiêu chí và thang đánh giá mức độ giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi trong nghiên cứu được xác định như thế nào?
Đề tài xây dựng 3 tiêu chí đánh giá: (1) Nhận thức về giáo dục dinh dưỡng (hiểu biết 4 nhóm thực phẩm, lợi ích ăn uống, vận dụng thực tế); (2) Kỹ năng thực hiện hành động ăn uống (thao tác trước, trong và sau khi ăn); (3) Thái độ của trẻ (hứng thú, tự giác, vui vẻ). Thang đánh giá chia thành 3 mức: Mức độ 1 - Cao (3 điểm), Mức độ 2 - Trung bình (2 điểm) và Mức độ 3 - Thấp (1 điểm).
3. Tỷ lệ giáo viên tự thiết kế trò chơi học tập phục vụ giáo dục dinh dưỡng đạt mức độ nào theo kết quả khảo sát?
Theo bảng khảo sát số 1.2, tỷ lệ giáo viên thường xuyên tự thiết kế trò chơi học tập chỉ đạt 13,9%; trong khi có tới 53,5% giáo viên không thường xuyên tự thiết kế và 32,6% giáo viên không bao giờ tự thiết kế trò chơi học tập mới mà phụ thuộc chủ yếu vào tài liệu tham khảo có sẵn (74,3%) hoặc tuyển tập trò chơi (65,7%).
4. Những khó khăn lớn nhất mà giáo viên mầm non gặp phải khi tổ chức TCHT nhằm giáo dục dinh dưỡng là gì?
Kết quả khảo sát tại Bảng 1.6 chỉ ra 4 khó khăn lớn nhất ở mức độ "Rất khó khăn": Trò chơi học tập giáo dục dinh dưỡng có sẵn quá ít (68,8%), Số lượng trẻ quá đông trong một lớp từ 25 - 30 trẻ/2 cô (65,6%), Trẻ ít hứng thú với trò chơi biên soạn sẵn trong tài liệu (62,5%) và Thiếu thiết bị, phương tiện, đồ chơi phục vụ hoạt động (46,8%).
5. Kết quả đánh giá mức độ giáo dục dinh dưỡng của trẻ 5 - 6 tuổi trước khi can thiệp tại các lớp khảo sát ra sao?
Theo Bảng 1.7, đa số trẻ ở cả 3 lớp đều xếp ở Mức độ 3 (Thấp): lớp 5 tuổi A1 có 60,0% trẻ mức Thấp (điểm TB: 2,04); lớp 5 tuổi A2 có 71,4% trẻ mức Thấp (điểm TB: 1,36); lớp 5 tuổi A3 có 76,5% trẻ mức Thấp (điểm TB: 1,29). Tỷ lệ trẻ đạt Mức độ 1 (Cao) ở cả 3 lớp đều rất thấp, dao động từ 5,9% đến 12,0%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hồng Ngọc đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục dinh dưỡng thông qua trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi). Dữ liệu khảo sát thực chứng trên 32 giáo viên và 82 trẻ tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã phản ánh trung thực thực trạng nhận thức dinh dưỡng còn thấp ở trẻ và những khó khăn, bất cập trong khâu thiết kế, lập kế hoạch trò chơi của giáo viên mầm non. Các nguyên tắc, biện pháp sư phạm đề xuất cùng quy trình thực nghiệm được xây dựng chặt chẽ, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển toàn diện trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non.