Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Giáo dục Mầm non của sinh viên Phạm Thị Thu Trang (Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, hoàn thành tháng 5 năm 2018 dưới sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Hồng Vân) tập trung giải quyết yêu cầu giáo dục nhân cách giai đoạn đầu đời. Lý do chọn đề tài xuất phát từ vai trò của đạo đức trong việc điều chỉnh hành vi con người, như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của cuộc sống, sức mạnh của con người" và quan điểm của nhà giáo dục A. S. Makarenko: "Giáo dục đạo đức mà không trở thành thói quen chẳng khác gì xây lâu đài trên cát".

Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), nhận thức và đời sống tình cảm phát triển mạnh, đặc biệt là tình cảm thẩm mỹ - đạo đức. Việc bồi dưỡng đạo đức cần được bắt đầu từ sớm thông qua các hình thức biểu đạt nghệ thuật phù hợp tâm lý lứa tuổi. Các sáng tác thơ ca của nhà thơ Phạm Hổ với ngôn ngữ trong sáng, vui tươi, giàu nhạc điệu và mang tính nhân văn sâu sắc vốn được đưa vào chương trình giáo dục mầm non. Tuy nhiên, qua quan sát thực tiễn tại các cơ sở giáo dục, việc khai thác giá trị đạo đức từ thơ Phạm Hổ còn mang tính áp đặt, thụ động và gò bó, chưa phát huy được tính chủ động của trẻ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tác phẩm thơ của Phạm Hổ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
    2. Tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục đạo đức thông qua các tác phẩm thơ của Phạm Hổ cho trẻ 5-6 tuổi.
    3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tác phẩm thơ của Phạm Hổ.
    4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tác phẩm thơ của Phạm Hổ.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Hệ thống các biện pháp sư phạm ứng dụng thơ Phạm Hổ trong giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn.
  • Phạm vi không gian: Tiến hành khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại trường mầm non Tiên Du, xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi thời gian điều tra thực trạng: Từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quan điểm triết học, tâm lý học và giáo dục học mầm non:

  • Khái niệm và bản chất đạo đức: Tiếp cận từ góc độ triết học Mác - Lênin và định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Từ điển Bách Khoa, 2005), xem đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người. Tác giả phân tích ba chức năng nền tảng của đạo đức: chức năng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng nhận thức.
  • Văn bản pháp lý và định hướng chuyên môn: Dựa trên Quyết định số 55/1990/QĐ-BGD của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mục tiêu giáo dục mầm non nhằm hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới; đồng thời căn cứ Mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020 về chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện thể chất, tình cảm, trí tuệ và xã hội.
  • Lý thuyết giáo dục văn học thiếu nhi: Kế thừa luận điểm của các nhà sư phạm kinh điển thế giới (N. Krupskaya, A. P. Usova, S. Shakhmayeva, S. Dimitrova, I. Yordanova) và các nhà nghiên cứu trong nước (Nguyễn Thu Thủy, Hà Nguyễn Kim Giang, Lã Thị Bắc Lý) về năng lực tiếp nhận hình tượng thẩm mỹ - đạo đức của trẻ mẫu giáo.
  • Hệ thống tác phẩm tác gia Phạm Hổ: Khái quát sự nghiệp của Phạm Hổ (1926-2007, bút danh Hồ Huy), người nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001. Hệ thống ngữ liệu tập trung vào các tập thơ tiêu biểu viết cho thiếu nhi: Chú bò tìm bạn (1957), Chú vịt bông (1967), Những người bạn nhỏ (1960), Những người bạn im lặng (1984), cùng các thi phẩm chọn lọc: Bắp cải xanh, Xe chữa cháy, Sen nở, Tàu dài, Đàn gà con, Mẹ ốm, Củ khoai của bé, Nói điều hay, Bàn tay búp lan.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hai nhóm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận, văn kiện giáo dục và công trình nghiên cứu văn học có liên quan.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng an-két (Anket): Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến gồm các câu hỏi đóng và mở đối với giáo viên mầm non.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát cách thức tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với thơ và hành vi ứng xử của trẻ trong sinh hoạt hằng ngày.
    • Phương pháp đàm thoại: Trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy nhằm thu thập thông tin định tính bổ trợ.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, tổ chức giảng dạy có áp dụng biện pháp mới trên nhóm thực nghiệm và đối chứng với nhóm không áp dụng.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực trạng và kết quả đo đạc thực nghiệm sư phạm.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu sơ cấp thu thập từ 50 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường mầm non Tiên Du (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm ngành giáo dục mầm non và các tuyển tập văn học thiếu nhi Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và trình bày kết quả điều tra thực trạng tại địa bàn nghiên cứu:

  • Cơ sở lý luận: Phân tích đặc điểm tâm lý trẻ 5-6 tuổi (tính dễ xúc cảm, trí tưởng tượng phong phú, khả năng hóa thân vào nhân vật) và xác định nội dung giáo dục đạo đức lứa tuổi này gồm: giáo dục lòng nhân ái (yêu gia đình, yêu mọi người, yêu thiên nhiên và quê hương), giáo dục quan hệ bạn bè trong tập thể lớp, giáo dục các quy tắc lễ phép và hành vi văn hóa (tính tự lập, tính mạnh dạn, tính kỷ luật). Chương này phân tích các đặc trưng nghệ thuật trong thơ Phạm Hổ giúp tối ưu hóa việc giáo dục đạo đức: lối nhại đồng dao nhịp nhàng (Bắp cải xanh), màu sắc cổ tích huyền thoại (Thị, Khế, Dưa hấu), nghệ thuật ngụ ngôn (Ngỗng và vịt, Bồ câu và Ngan), mô phỏng âm thanh tự nhiên (Tàu dài, Xe chữa cháy, Sen nở) và kết cấu đối thoại hỏi - đáp khơi gợi nhận thức (Hoa hồng, Lúa và gió).
  • Cơ sở thực tiễn: Điều tra 50 giáo viên trường mầm non Tiên Du từ tháng 11/2017 đến tháng 2/2018 thu được các số liệu cụ thể:
    • Về nhận thức: 100% (50/50) giáo viên khẳng định giáo dục đạo đức là cần thiết. 70% (35/50) giáo viên cho rằng mục đích cho trẻ làm quen tác phẩm văn học là phát triển toàn diện (đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ), trong khi 30% (15/50) xem mục đích chính chỉ là phát triển ngôn ngữ và cung cấp kiến thức xung quanh.
    • Về tần suất sử dụng tác phẩm thơ Phạm Hổ: 50% (25 giáo viên) thường xuyên sử dụng, 40% (20 giáo viên) thỉnh thoảng sử dụng, và 10% (5 giáo viên) hiếm khi sử dụng.
    • Về thời điểm tổ chức: 80% (40/50 giáo viên) chỉ sử dụng trong hoạt động học có chủ đích, chỉ 20% (10/50 giáo viên) sử dụng linh hoạt trong cả hoạt động học và các hoạt động khác trong ngày.
    • Về khó khăn: 76% giáo viên phản ánh gặp khó khăn trong việc tìm bài thơ phù hợp chủ đề, phương pháp truyền đạt nội dung giáo dục đạo đức còn lúng túng và trẻ dễ phân tán chú ý.

Chương 2: Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi thông qua thơ của Phạm Hổ

Chương 2 xác lập các căn cứ đề xuất biện pháp (dựa trên mục tiêu giáo dục mầm non, đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi, và tiêu chuẩn chọn lọc tác phẩm) trước khi xây dựng hệ thống 5 biện pháp sư phạm:

  • Biện pháp 1: Xác định giá trị của thơ Phạm Hổ đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi. Giáo viên chủ động phân tích nội dung tư tưởng của từng bài thơ để tích hợp đúng mục tiêu đạo đức: bồi dưỡng tình bạn qua Chú bò tìm bạn, Nói điều hay; tình cảm gia đình qua Mẹ ốm, Củ khoai của bé; ý thức vệ sinh cá nhân qua Bàn tay búp lan.
  • Biện pháp 2: Cho trẻ làm quen với thơ Phạm Hổ một cách thường xuyên. Tổ chức tiếp xúc lặp lại có chủ đích để khắc phục đặc điểm "dễ nhớ mau quên" của lứa tuổi. Kết hợp đọc thơ trong giờ đón/trả trẻ, hoạt động ngoài trời, dạo chơi và hoạt động chiều; ví dụ sử dụng bài thơ Nói điều hay làm lời dặn dò trước khi chơi góc, chọn bài Gà ấp cho chủ đề động vật nuôi.
  • Biện pháp 3: Có sử dụng thơ Phạm Hổ trong việc lập kế hoạch giáo dục đạo đức theo chủ đề giáo dục. Phân bổ các tác phẩm thơ Phạm Hổ phù hợp với mạng nội dung của từng chủ đề trong năm học (Trường mầm non, Bản thân, Gia đình, Nghề nghiệp, Thế giới động vật, Thực vật, Giao thông).
  • Biện pháp 4: Sử dụng thơ Phạm Hổ trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học và trong những hoạt động khác. Đổi mới phương pháp dạy tiết văn học chính khóa (đọc diễn cảm, đàm thoại gợi mở, trực quan hóa) kết hợp lồng ghép thơ Phạm Hổ làm phương tiện chuyển tiếp hoặc giáo dục hành vi trong hoạt động tạo hình, âm nhạc, khám phá khoa học.
  • Biện pháp 5: Sử dụng các tình huống thực tiễn để giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua thơ của Phạm Hổ. Đặt trẻ vào các tình huống giao tiếp, mâu thuẫn khi chơi hoặc sinh hoạt hằng ngày; dùng ngôn từ, hình ảnh nhân vật trong thơ Phạm Hổ để phân tích hành vi, định hướng trẻ tự điều chỉnh thái độ theo hướng chuẩn mực.
  • Mối quan hệ giữa các biện pháp: 5 biện pháp có sự gắn kết mật thiết: Biện pháp 1 là tiền đề định hướng; Biện pháp 2 và 3 giữ vai trò kế hoạch hóa và duy trì tần suất; Biện pháp 4 và 5 trực tiếp triển khai trong môi trường học tập và đời sống thực tế.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày thiết kế và kết quả kiểm chứng thực nghiệm sư phạm:

  • Tổ chức thực nghiệm: Xác định mục đích, nội dung và các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển đạo đức của trẻ mẫu giáo lớn. Tiến hành phân chia nhóm trẻ thành hai nhóm tương đồng về điều kiện học tập tại trường mầm non Tiên Du: nhóm đối chứng (học theo phương pháp thông thường) và nhóm thực nghiệm (áp dụng hệ thống 5 biện pháp của đề tài).
  • Quy trình thực hiện: Khảo sát đầu vào (trước thực nghiệm) để xác lập mặt bằng ban đầu, triển khai các hoạt động sư phạm có tác động theo kế hoạch, và tổ chức khảo sát đầu ra (sau thực nghiệm) theo các tiêu chí hành vi đạo đức đã đề ra.
  • Nội dung đánh giá: Phân tích dữ liệu so sánh giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước và sau can thiệp (thông qua hệ thống bảng thống kê từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.4 và Biểu đồ 2.1 đến Biểu đồ 2.4 được liệt kê trong danh mục công trình), từ đó khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận ghi nhận các kết quả nghiên cứu cụ thể qua số liệu khảo sát thực trạng:

Tiêu chí khảo sát Phân loại / Mức độ Số lượng (n=50) Tỷ lệ (%)
Mức độ sử dụng thơ Phạm Hổ (Bảng 1.1) Thường xuyên 25 50%
Thỉnh thoảng 20 40%
Hiếm khi 5 10%
Không bao giờ 0 0%
Phương pháp giáo dục đạo đức qua thơ (Bảng 1.2) Tác động về mặt tình cảm của trẻ 38 76%
Sử dụng tấm gương đạo đức cho trẻ noi theo 5 10%
Khen chê đúng mức gắn với thơ Phạm Hổ 7 14%
Ý kiến khác 0 0%
Thời điểm tổ chức sử dụng thơ Chỉ trong hoạt động học có chủ đích 40 80%
Cả hoạt động học và hoạt động khác 10 20%
Nhận thức về mục đích làm quen tác phẩm Phát triển toàn diện (đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ) 35 70%
Phát triển ngôn ngữ, kiến thức thế giới xung quanh 15 30%

Về mặt đóng góp, nghiên cứu mang lại các giá trị khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục chuẩn mực hành vi cho trẻ 5-6 tuổi; đồng thời làm rõ giá trị nội dung, chức năng sư phạm và đặc điểm thi pháp nổi bật của thơ Phạm Hổ đối với sự phát triển nhân cách trẻ mầm non.
  • Về mặt thực tiễn: Khóa luận chỉ ra thực trạng ứng dụng thơ thiếu nhi tại cơ sở mầm non nông thôn; đề xuất 5 biện pháp sư phạm đồng bộ có tính ứng dụng cao, giúp giáo viên khắc phục lối giáo dục áp đặt và tận dụng tối đa chất liệu văn học thiếu nhi trong các thời điểm sinh hoạt hằng ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Hạn chế về phạm vi mẫu và địa bàn: Nghiên cứu chỉ tiến hành điều tra trên 50 giáo viên và thực nghiệm tại một trường mầm non thuộc xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; số lượng tác phẩm thơ Phạm Hổ được phân tích chủ yếu tập trung vào các bài thơ quen thuộc đã được tuyển chọn trong chương trình hiện hành.
  • Hạn chế về nhóm đối tượng: Đề tài chỉ tập trung khảo sát nhóm trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), chưa đánh giá trên các độ tuổi khác của bậc mầm non (nhà trẻ, mẫu giáo bé 3-4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu áp dụng các biện pháp giáo dục đạo đức qua thơ Phạm Hổ sang các lứa tuổi mẫu giáo nhỡ và bé; đồng thời mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn tại nhiều trường mầm non thuộc các vùng miền địa lý khác nhau để tăng cường tính khái quát hóa cho phương pháp sư phạm.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Tiểu học: Tài liệu tham khảo hữu ích cho việc xây dựng khóa luận tốt nghiệp, tiểu luận chuyên ngành Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, và học phần Tâm lý học - Giáo dục học lứa tuổi mầm non.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy khối mẫu giáo lớn: Cung cấp định hướng cụ thể trong việc soạn giảng kế hoạch giáo dục theo chủ đề; cung cấp ngữ liệu phân tích giá trị từng bài thơ của Phạm Hổ (Bắp cải xanh, Xe chữa cháy, Sen nở, Mẹ ốm, Củ khoai của bé, Nói điều hay) để lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, thái độ và hành vi chuẩn mực cho trẻ.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Cung cấp số liệu khảo sát thực trạng nhận thức và thói quen giảng dạy của giáo viên cơ sở, phục vụ công tác tổ chức chuyên đề tập huấn về đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức thông qua nghệ thuật ngôn từ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiến hành khảo sát thực trạng trên đối tượng nào và trong khoảng thời gian nào?

Nghiên cứu tiến hành điều tra trên 50 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại trường mầm non Tiên Du, xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Thời gian điều tra thực trạng diễn ra từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018.

2. Giáo viên tại trường mầm non Tiên Du thường sử dụng phương pháp nào nhất để giáo dục đạo đức qua thơ Phạm Hổ?

Theo kết quả khảo sát tại Bảng 1.2 của khóa luận, phương pháp được sử dụng phổ biến nhất là "Phương pháp sử dụng thơ Phạm Hổ để tác động về mặt tình cảm của trẻ" với 38/50 giáo viên lựa chọn (chiếm tỷ lệ 76%). Hai phương pháp còn lại là "Khen chê đúng mức gắn với thơ Phạm Hổ" (7 giáo viên, chiếm 14%) và "Sử dụng tấm gương đạo đức trong thơ Phạm Hổ cho trẻ noi theo" (5 giáo viên, chiếm 10%).

3. Tỷ lệ giáo viên sử dụng thơ Phạm Hổ ngoài giờ học chính khóa được ghi nhận như thế nào?

Số liệu thực trạng cho thấy phần lớn giáo viên còn cứng nhắc về thời điểm áp dụng: có tới 80% (40/50 giáo viên) chỉ sử dụng thơ Phạm Hổ trong hoạt động học có chủ đích trên lớp. Chỉ có 20% (10/50 giáo viên) biết vận dụng thơ linh hoạt trong cả hoạt động học và các thời điểm sinh hoạt khác trong ngày (giờ đón trả trẻ, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, giờ ăn, dạo chơi).

4. Tác giả đề xuất bao nhiêu biện pháp sư phạm và điểm tựa của các biện pháp đó là gì?

Tác giả đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm: (1) Xác định giá trị giáo dục đạo đức của thơ Phạm Hổ; (2) Cho trẻ làm quen với thơ một cách thường xuyên; (3) Sử dụng thơ trong lập kế hoạch giáo dục theo chủ đề; (4) Sử dụng thơ trong hoạt động học văn học và các hoạt động khác; (5) Sử dụng các tình huống thực tiễn gắn với thơ để giáo dục trẻ. Hệ thống biện pháp dựa trên mục tiêu giáo dục mầm non, đặc điểm tâm lý giàu xúc cảm, trí tưởng tượng của trẻ 5-6 tuổi và nguyên tắc lựa chọn nội dung nghệ thuật.

5. Những đặc điểm nghệ thuật nổi bật nào của thơ Phạm Hổ được tác giả phân tích phục vụ giáo dục đạo đức?

Khóa luận phân tích 4 đặc trưng thi pháp chính: (1) Nghệ thuật sử dụng chất liệu dân gian qua lối nhại đồng dao và màu sắc cổ tích, ngụ ngôn; (2) Nghệ thuật sử dụng âm thanh, nhịp điệu mô phỏng âm thanh đời sống giàu nhạc tính; (3) Nghệ thuật sử dụng hình thức đối thoại và những câu hỏi tu từ khơi gợi trí tò mò; (4) Ngôn từ giản dị, hình tượng gần gũi, gắn kết giữa thế giới tự nhiên và đạo lý gia đình, tình bạn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu sư phạm thực nghiệm có kết cấu chặt chẽ, gắn kết giữa cơ sở lý luận giáo dục mầm non và khảo sát thực tiễn tại trường mầm non Tiên Du (Phú Thọ). Công trình đã làm rõ tiềm năng giáo dục nhân cách của kho tàng thơ thiếu nhi Phạm Hổ, đồng thời phản ánh khách quan những hạn chế trong thói quen áp dụng phương pháp dạy học của giáo viên tại cơ sở. Hệ thống 5 biện pháp sư phạm được đề xuất mang tính đồng bộ và ứng dụng rõ nét, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho giáo viên mầm non và sinh viên ngành sư phạm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi.