chương I, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005). Theo các tác giả: Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị Thanh [12] đã đưa ra khái niệm BVMT như sau: “BVMT là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên”. 21 Từ những quan điểm khác nhau về BVMT, chúng tôi khái quát khái niệm BVMT như sau: BVMT là những hoạt động tích cực của con người tác động đến môi trường giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường làm cho môi trường thêm trong sạch, sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường. Như vậy, thực chất của việc BVMT chính là thực hiện những việc làm của con người giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường.
Bảo vệ môi trường chỉ thực sự có hiệu quả khi chúng ta có những biện pháp, giải pháp kịp thời và phù hợp. Giáo dục KNBVMT cho trẻ mầm non * Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, là hoạt động riêng chỉ con người mới có, nó thể hiện ở chỗ con người truyền thụ cho nhau tri thức để tồn tại và phát triển. Đây chính là phương thức tồn tại của loài người. Giáo dục được xem như quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người.
Theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một bộ phận của quá trình sư phạm nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, hành vi, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội. Giáo dục môi trường là một công cụ nhằm thúc đẩy những thái độ tích cực đối với môi trường, đồng thời cung cấp các kĩ năng giúp con người có thể phân tích và đưa ra những quyết định sáng suốt về cách ứng xử của mình với môi trường. * Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường: Là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ở người học cách ứng xử tích cực đối với môi trường, giữ cho môi trường trong sạch, sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường.
Có thể nói giáo dục môi trường cho trẻ MN là khâu đầu tiên mang tính nền tảng, cơ sở cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của trẻ. Từ khái niệm về giáo dục hành vi BVMT chúng ta có thể hiểu rằng: 22 * Giáo dục KNBVMT cho trẻ MN là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ở trẻ MN cách đứng xử tích cực đối với môi trường, giữ cho môi trường trong sạch, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường. Các KNBVMT của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non * Nhóm kĩ năng giữ gìn môi trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp: Kĩ năng không vứt rác bừa bãi; Kĩ năng giữ gìn đồ dùng, đồ chơi; Kĩ năng sắp xếp gọn gàng đồ dùng đồ chơi; Kĩ năng dọn dẹp phòng học, sân trường. * Nhóm kĩ năng sử dụng nguyên vật liệu, thực phẩm tiết kiệm: Kĩ năng sử dụng các nguyên vật liệu, thực phẩm tiết kiệm; Kĩ năng sử dụng tiết kiện điện, nước; Kĩ năng sử dụng hợp lí các đồ dùng, đồ chơi.
* Nhóm kĩ năng chăm sóc bảo vệ vật nuôi, cây trồng: Kĩ năng chăm sóc cây, tưới cây, lau là, không bẻ cành, bứt lá; Kĩ năng chăm sóc con vật: cho con vật ăn, không trêu trọc con vật. Các giai đoạn giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Để hình thành kĩ năng về bất cứ một hành động nào đó, con người cần luyện tập theo quy trình. Các nhà nghiên cứu về vấn đề này có những cách phân chia giai đoạn hình thành kĩ năng khác nhau: * K.Goluev đưa ra 5 giai đoạn hình thành kĩ năng và cũng là 5 mức độ hình thành kĩ năng: - Giai đoạn một: hay còn gọi là giai đoạn kĩ năng sơ đẳng, con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách hành động dựa trên vốn hiểu biết và kĩ xảo sinh hoạt đời thường. Hành động được thực hiện bằng cách thử và sai.
- Giai đoạn hai: biết cách làm nhưng không đầy đủ, nghĩa là có hiểu biết về phương thức hành động, sử dụng được các kĩ xảo đã có nhưng không phải là kĩ xảo chuyên biệt dành cho hành động này. - Giai đoạn ba: có kĩ năng chung nhưng còn riêng lẻ. - Giai đoạn bốn: có kĩ năng phát triển cao, sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết, ý thức được không chỉ mục đích hành động mà cả động cơ lựa chọn cách thức đạt mục đích. - Giai đoạn năm: sử dụng sáng tạo các kĩ năng khác nhau.
23 Hai tác giả này đã không đề cập đến vai trò của mẫu hành động hay sự hướng dẫn của người có kiến thức, kĩ năng cao hơn mình mà đánh giá cao vai trò của tri thức và các kĩ xảo đã có. * Cùng quan điểm này còn có A. Họ cho rằng có hai loại kĩ năng. Đó là kĩ năng ban đầu và kĩ năng bậc cao.
Kĩ năng ban đầu là kĩ năng đơn giản được hình thành trên cơ sở tri thức và kinh nghiệm về hành động. Kĩ năng bậc cao là kĩ năng dựa trên các kiến thức và vốn kinh nghiệm, một số kĩ xảo cho trước. * Trần Quốc Thành nêu ra 3 giai đoạn hình thành kĩ năng: - Giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động. - Giai đoạn 2: giai đoạn quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.
- Giai đoạn 3: giai đoạn luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt mục đích đề ra. * Trên cơ sở các cách phân chia trên, theo chúng tôi, để hình thành KNBVMT cho trẻ 5-6 tuổi cần trải qua các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: trẻ phải có kiến thức về hành động: mục đích, đối tượng, cách thức, điều kiện hành động. - Giai đoạn 2: có sự hướng dẫn (gợi ý , làm mẫu) của người có kiến thức, kĩ năng cao hơn. Trẻ tích cực tham gia học hỏi, quan sát, làm thử.
- Giai đoạn 3: trẻ vận dụng kiên thức, kinh nghiệm và các kĩ năng đã có vào thực hành luyện tập để hình thành kĩ năng và sử dụng kĩ năng một cách linh hoạt trong những điều kiện khác nhau. Để có các KNBVMT, trẻ phải có cơ hội trải nghiệm thực tế, phải được rèn luyện thường xuyên trong cuộc sống sinh động hàng ngày với sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội. Tùy theo kinh nghiêm, khả năng, sức khỏe, cá tính của từng trẻ mà quá trình này có thể có sự thay đổi trình tự cho phù hợp. Hoạt động góc và giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động góc ở trường mầm non 1.
Khái niệm hoạt động góc Hoạt động được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, như trong triết học sinh lý, cấu trúc hoạt động. Cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, 24 giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người”. Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể (sự vật, hiện tượng, tri thức.) gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ hóa sự vật, hiện tượng, gọi chung là quá trình bên trong.
Nghĩa là, hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc. Hoạt động có một đặc điểm là bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, đối tượng của hoạt động là cái con người tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh nó. Và có tính mục đích, mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới và biến đổi bản thân con người, chính vì vậy hoạt động phải luôn có chủ thể là con người có ý thức tác động vào đối tượng của hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Con người tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu óc, qua việc sử dụng các công cụ lao động và ngôn ngữ.
Như vậy, tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà ta có thể hiểu khái niệm “hoạt động” theo các cách khác nhau. Nhưng nhìn chung “hoạt động” là biểu thị cái gì đó không đứng yên, luôn vận động. Hoạt động góc cũng là một dạng vận động, là hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ để thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ. Trẻ chơi trong hoạt động góc là một hoạt động độc lập tự do và tự nguyện của trẻ: Trẻ tự nghĩ ra dự định và cũng tự mình tiến hành điều khiển trò chơi.
Nội dung chơi của trẻ phản ánh cuộc sống hiện thực xung quanh. Bên cạnh đó, mặc dù chơi góc là hoạt động của trẻ nhưng vẫn cần có sự tổ chức, hướng dẫn của cô giáo. Từ đó có thể hiểu hoạt động góc là nơi trẻ chơi và tự hoạt động một mình hoặc nhóm nhỏ theo chủ đề. Qua đó, phát huy tính độc lập, sáng tạo, chủ động của trẻ; khuyến khích trẻ ra quyết định (tự chọn góc chơi của mình); giúp trẻ học cách cùng chơi, cùng hợp tác; hỗ trợ việc học các môn khác để trẻ phát triển một cách toàn diện.
Đặc điểm bản chất của hoạt động góc Hoạt động góc của trẻ được người lớn tổ chức, hướng dẫn, giúp trẻ tái tạo lại những kiến thức đã học. Trong giờ học trẻ được tiếp xúc với những sự việc, hiện tượng xảy ra trong môi trường sống gần gũi với trẻ, nên trẻ có nhu cầu bắt chước, 25 muốn được làm người lớn.