Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đang diễn ra ở mức độ ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, đặt con người trước những thách thức lớn về sinh thái và điều kiện sống. Báo cáo từ các tổ chức quốc tế cho thấy khoảng 50% dân số thế giới thiếu nước sạch, 80% diện tích rừng bị tàn phá hoặc suy thoái, 6 triệu ha đất trồng bị hoang mạc hóa, và theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có hơn 2 triệu người tử vong do các bệnh lý liên quan đến môi trường. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức của con người trong quá trình khai thác, sản xuất và tiêu dùng. Do đó, giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) được xác định là nhiệm vụ chiến lược, cần được triển khai ngay từ bậc học nền tảng là Giáo dục Mầm non.
Giai đoạn 5 - 6 tuổi là thời kỳ trẻ mầm non đang bước vào giai đoạn củng cố những nét nhân cách ban đầu, có tính tò mò, ham hiểu biết và nhạy cảm với thế giới xung quanh. Việc giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường (KNBVMT) trong trường mầm non đã được đưa vào chương trình từ năm học 2005 - 2006 như một nội dung tích hợp trọng tâm. Trong các hình thức tổ chức giáo dục, hoạt động góc giữ vai trò đặc biệt khi tạo môi trường cho trẻ tự do trải nghiệm, bắt chước và tái tạo hành vi xã hội của người lớn. Tuy nhiên, thực tiễn tại các cơ sở giáo dục mầm non cho thấy việc tổ chức hoạt động góc nhằm hình thành KNBVMT vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: mục đích giáo dục chưa được xác định thường xuyên, đồ dùng đồ chơi tại các góc chưa phong phú, giáo viên chưa tạo đủ cơ hội thực hành cho trẻ, dẫn đến nhận thức và kĩ năng BVMT của trẻ chưa cao. Từ thực tế này, đề tài "Giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động góc ở trường mầm non" được thực hiện.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động góc ở trường mầm non. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động góc.
- Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện và tổ chức hoạt động góc nhằm giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động góc.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quá trình giáo dục môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian và thực nghiệm được giới hạn tại Trường Mầm non Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lí luận dựa trên sự tổng hợp các quan điểm tâm lý học và giáo dục học:
- Khái niệm kĩ năng: Tác giả phân tích quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu như Golubev (năng lực thực hiện công việc đạt chất lượng trong điều kiện mới), Ngô Công Hoàn và Nguyễn Quang Uẩn (năng lực vận dụng các thao tác theo đúng quy trình), Krutexki và Trần Trọng Thủy (kĩ thuật và phương thức hành động), Covaliov (tính mục đích và điều kiện thực hiện), Lêvitôp (thực hiện có kết quả hành động dựa trên việc lựa chọn cách thức đúng đắn), và Đặng Thành Hưng (dạng hành động tự giác, có kĩ thuật, dựa trên tri thức và điều kiện tâm - sinh lý). Khóa luận thống nhất: Kĩ năng là khả năng thực hiện một hành động hoặc công việc đã định sẵn dựa trên tri thức và kinh nghiệm.
- Khái niệm môi trường và BVMT: Dẫn chiếu theo Từ điển Môi trường của Gurdey Rej (1981), định nghĩa của UNESCO, Điều 1 Luật BVMT Việt Nam năm 1993 và Điều 3 Luật BVMT Việt Nam năm 2005; kết hợp quan điểm của Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị Thanh (2012) để xác định BVMT là các hoạt động tích cực ngăn chặn tác động xấu, giữ gìn môi trường trong sạch, khai thác tiết kiệm và tái tạo tài nguyên.
- Giáo dục KNBVMT cho trẻ mầm non: Là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành ở trẻ cách ứng xử tích cực với môi trường sống. Nội dung KNBVMT của trẻ 5 - 6 tuổi được phân thành 3 nhóm kĩ năng:
- Nhóm kĩ năng giữ gìn môi trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp: Không vứt rác bừa bãi, giữ gìn và sắp xếp đồ dùng đồ chơi ngăn nắp, dọn dẹp phòng học và sân trường.
- Nhóm kĩ năng sử dụng nguyên vật liệu, thực phẩm tiết kiệm: Tiết kiệm điện, nước, thực phẩm và sử dụng hợp lý đồ dùng đồ chơi.
- Nhóm kĩ năng chăm sóc, bảo vệ vật nuôi và cây trồng: Tưới cây, lau lá, nhổ cỏ, không bẻ cành bứt lá, cho vật nuôi ăn và không trêu chọc con vật.
- Giai đoạn hình thành kĩ năng: Dựa trên mô hình 5 giai đoạn của K. Golubev và 3 giai đoạn của Trần Quốc Thành, tác giả xác định quy trình 3 giai đoạn rèn luyện KNBVMT cho trẻ mầm non: Giai đoạn 1 (Hình thành tri thức về mục đích, đối tượng, cách thức hành động) $\rightarrow$ Giai đoạn 2 (Quan sát mẫu, làm thử dưới sự hướng dẫn của giáo viên) $\rightarrow$ Giai đoạn 3 (Thực hành, luyện tập linh hoạt trong các điều kiện khác nhau).
- Hoạt động góc: Khóa luận làm rõ bản chất hoạt động góc là hoạt động phản ánh sáng tạo mang tính giả vờ nhưng có ý nghĩa thực tế sâu sắc đối với sự phát triển tâm lý lứa tuổi mẫu giáo lớn.
Cơ sở pháp lý
Nghiên cứu viện dẫn hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và năm 2005.
- Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân.
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Công văn số 3200 ngày 21/04/2006 của Vụ Giáo dục Mầm non hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục BVMT giai đoạn 2005 - 2010.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu phối hợp các nhóm phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát trực tiếp hành vi BVMT của trẻ và quá trình tổ chức hoạt động góc của giáo viên.
- Điều tra bằng Anket: Phát phiếu hỏi cấu trúc in sẵn để khảo sát nhận thức, mức độ tổ chức và khó khăn của giáo viên.
- Đàm thoại, phỏng vấn: Trao đổi chuyên môn với giáo viên, cán bộ quản lý và trò chuyện với trẻ.
- Lấy ý kiến chuyên gia: Trưng cầu ý kiến các nhà khoa học, giảng viên giáo dục mầm non.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Đánh giá kế hoạch giáo dục, giáo án, hồ sơ chuyên đề và báo cáo thi giáo viên giỏi các cấp tại Phú Thọ.
- Tổng kết kinh nghiệm sư phạm: Khái quát các điển hình tổ chức hoạt động góc hiệu quả.
- Thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và thực nghiệm.
- Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm và đối chứng tại trường mầm non.
- Dữ liệu khảo sát: Được thu thập từ ngày 05/11/2017 đến ngày 05/12/2017 tại Trường Mầm non Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; mẫu khảo sát gồm 30 giáo viên mầm non (10 trình độ trung cấp, 12 cao đẳng, 8 đại học; 24 giáo viên có thâm niên trên 5 năm) và 60 trẻ 5 - 6 tuổi thuộc 2 lớp mẫu giáo (5 tuổi A1 và 5 tuổi A2).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu giáo dục môi trường trên thế giới qua các mốc: Hội nghị Pari (1948), Chương trình IEEP tại Belyrade (1975), Hội nghị Tbilisi của UNESCO (1977), Báo cáo WCED "Tương lai chung của chúng ta" (1987), Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro (1992), Nghị định thư Kyoto (1997), Hội nghị Pari (2007), Ngày Môi trường Thế giới (2013, 2014), Hội nghị COP 21 (2015) và COP 22. Tác giả phân tích hai xu hướng tiếp cận giáo dục môi trường quốc tế: tiếp cận môn học độc lập (Philippines, Indonesia) và tiếp cận tích hợp, lồng ghép (Liên Xô cũ, Nhật Bản). Tại Việt Nam, chương điểm lại các dự án của Viện Khoa học Giáo dục (1996, 1998 - 2000), Trường CĐSP Nhà trẻ - Mẫu giáo TW1 (1998 - 1999, 2001 - 2002), Trường CĐSP Mẫu giáo TW2 (2001 - 2003) và các giáo trình của Hoàng Thị Phương (2013), tài liệu của Trần Lan Hương, Ngô Công Hoàn - Nguyễn Thị Mai Hoan.
Khóa luận xây dựng bộ tiêu chí đánh giá KNBVMT gồm 3 tiêu chí với thang điểm 10:
- Tiêu chí 1: Nhận ra sự cần thiết của môi trường đối với cuộc sống con người (Tối đa 3 điểm).
- Tiêu chí 2: Trẻ thực hiện các hành động BVMT hợp lí, phù hợp hoàn cảnh (Tối đa 3 điểm).
- Tiêu chí 3: Trẻ thực hiện các hành động BVMT một cách có hiệu quả (Tối đa 4 điểm).
- Thang phân loại: Tốt (8 - 10 điểm), Khá (6 - 8 điểm), Trung bình (5 - 6 điểm), Yếu (dưới 5 điểm).
Khảo sát thực trạng tại Trường Mầm non Kim Đức phản ánh các số liệu thực nghiệm:
- Về nhận thức của giáo viên: 100% giáo viên đánh giá việc giáo dục KNBVMT cho trẻ là cần thiết, trong đó 63,3% (19 GV) đánh giá "Rất quan trọng" và 36,7% (11 GV) đánh giá "Quan trọng".
- Về tần suất tổ chức: Chỉ có 13,3% (4 GV) thường xuyên tổ chức hoạt động góc nhằm giáo dục KNBVMT; 86,7% (26 GV) chỉ thỉnh thoảng tổ chức; 0% chưa bao giờ tổ chức.
- Về biện pháp giáo viên sử dụng: Giáo viên sử dụng thường xuyên nhất các biện pháp trực quan (76,7%), quan sát (73,3%), giải thích (66,7%), đàm thoại (63,3%), động viên khuyến khích (60,0%); trong khi các biện pháp thiết kế môi trường giáo dục (16,7%) và sử dụng tình huống có vấn đề (23,3%) ít được sử dụng.
- Về khó khăn của giáo viên: Khó khăn lớn nhất là thiếu tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động góc (90,0%), thiếu đồ dùng đồ chơi ở các góc (80,0%), khó khăn trong phối hợp với phụ huynh (63,3%), thiếu diện tích phòng học (33,3%) và thiếu thời gian (30,0%).
- Về mức độ thực hiện KNBVMT của 60 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:
| Nhóm kĩ năng đánh giá |
Mức Tốt (SL / %) |
Mức Khá (SL / %) |
Mức Trung bình (SL / %) |
Mức Yếu (SL / %) |
| Kĩ năng giữ gìn đồ dùng, đồ chơi |
7 (11,67%) |
10 (16,67%) |
30 (50,00%) |
13 (21,67%) |
| Kĩ năng vệ sinh môi trường |
5 (8,33%) |
12 (20,00%) |
33 (55,00%) |
10 (16,67%) |
| Kĩ năng sử dụng đồ dùng hợp lí |
6 (10,00%) |
11 (18,33%) |
35 (58,33%) |
8 (13,33%) |
| Kĩ năng sử dụng tiết kiệm nước |
8 (13,33%) |
13 (21,67%) |
29 (48,33%) |
10 (16,67%) |
| Kĩ năng chăm sóc cây cối |
3 (5,00%) |
10 (16,67%) |
27 (45,00%) |
20 (33,33%) |
Số liệu cho thấy trẻ đạt mức Tốt rất thấp (chỉ từ 5,00% đến 13,33%), tập trung chủ yếu ở mức Trung bình (45,00% - 58,33%), và tỷ lệ xếp loại Yếu còn cao (13,33% - 33,33%, cao nhất ở kĩ năng chăm sóc cây cối với 33,33%). Nguyên nhân là do giáo viên chưa khai thác hết ưu thế của hoạt động góc, phương pháp giáo dục còn cứng nhắc và thiếu sự rèn luyện thường xuyên.
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động góc ở trường mầm non
Chương 2 xác lập 5 nguyên tắc đề xuất biện pháp sư phạm:
- Dựa trên quan điểm tiếp cận tích hợp trong chăm sóc giáo dục trẻ.
- Dựa trên mục tiêu giáo dục môi trường cho trẻ mầm non hiện nay.
- Đáp ứng mục đích phát triển toàn diện của hoạt động góc.
- Phù hợp với hứng thú và khả năng nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi.
- Dựa vào điều kiện thực tiễn trường lớp mầm non.
Nội dung trọng tâm của chương là hệ thống các biện pháp giáo dục:
- Biện pháp 1: Xác định mục đích giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi và tổ chức hoạt động góc theo mục đích đã xác định.
- Mục đích - ý nghĩa: Giúp giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, cách chơi, đồ dùng nhằm đạt hiệu quả hình thành kĩ năng cao nhất.
- Quy trình tổ chức 3 bước:
- Bước 1: Xác định nội dung, mục đích giáo dục KNBVMT cụ thể cho từng góc chơi theo chủ đề (Góc lắp ghép - xây dựng: phân biệt môi trường sạch/bẩn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng; Góc thiên nhiên: hiểu lợi ích cây xanh, tưới nước, lau lá; Góc phân vai: hành vi ứng xử, bảo vệ môi trường sinh hoạt).
- Bước 2: Chuẩn bị và điều chỉnh cách chơi, nguyên vật liệu, phương tiện trực quan phù hợp với mục đích đã định.
- Bước 3: Tổ chức hoạt động góc theo trình tự sư phạm: Giới thiệu góc chơi (trực tiếp hoặc gián tiếp) $\rightarrow$ Thăm dò ý tưởng và phân vai chơi của trẻ $\rightarrow$ Hướng dẫn trẻ vào góc chơi, quan sát, hỗ trợ và củng cố kĩ năng $\rightarrow$ Nhận xét, đánh giá sản phẩm và nhắc nhở thu dọn đồ chơi.
- Phương pháp bổ trợ: Kết hợp nâng cao nhận thức (phân tích, so sánh, đặt câu hỏi gợi mở) và kích thích cảm xúc tích cực (tạo yếu tố bất ngờ, sử dụng yếu tố hài hước mang tính giáo dục). Tác giả minh họa cụ thể qua việc thiết kế hoạt động góc cho chủ đề "Thế giới động vật" (phân vai bác sĩ thú y, xây dựng công viên xanh, tạo hình vẽ động vật, làm album bảo vệ động vật).
- Biện pháp 2: Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục KNBVMT ở các góc chơi.
- Nhấn mạnh việc tận dụng cơ hội chơi ở góc phân vai, góc tạo hình, góc nghệ thuật, góc học tập và góc thiên nhiên để trẻ thực hành thường xuyên các hành vi: tiết kiệm nguyên vật liệu, dọn dẹp sau khi chơi, chăm sóc cây cối và phản ứng đúng trước các hành vi gây hại môi trường.
- Chương 2 cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các biện pháp và điều kiện vận dụng về phía giáo viên (phải nắm vững đặc điểm nhận thức của trẻ, linh hoạt điều chỉnh tình huống sư phạm).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày kế hoạch và kết quả kiểm chứng thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Kim Đức:
- Thiết kế thực nghiệm so sánh giữa nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) trên trẻ 5 - 6 tuổi.
- Sử dụng thang điểm và tiêu chí đã xây dựng ở Chương 1 để đo lường mức độ KNBVMT của trẻ ở hai nhóm trước và sau khi áp dụng hệ thống biện pháp mới.
- Khóa luận lập bảng đối chiếu kết quả theo tỷ lệ phần trăm (%) xếp loại (Tốt, Khá, Trung bình, Yếu) và theo điểm trung bình (TB) của từng kĩ năng, minh chứng sự tiến bộ rõ rệt của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng sau quá trình tác động sư phạm.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lí luận về KNBVMT và hoạt động góc của trẻ 5 - 6 tuổi, xác lập cấu trúc 3 nhóm kĩ năng và quy trình 3 giai đoạn hình thành kĩ năng phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo lớn.
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện tại Trường Mầm non Kim Đức: chỉ ra độ lệch giữa nhận thức của giáo viên (100% đánh giá quan trọng) và hành vi thực tế (chỉ 13,3% tổ chức thường xuyên); xác định các rào cản chính gồm thiếu tài liệu hướng dẫn (90,0%), thiếu đồ chơi (80,0%) và khó khăn trong liên phối hợp phụ huynh (63,3%).
- Khảo sát thực trạng kĩ năng của 60 trẻ cho thấy kĩ năng đạt mức tốt cao nhất là giữ gìn đồ chơi (11,67%) và tiết kiệm nước (13,33%), trong khi kĩ năng chăm sóc cây cối yếu nhất (33,33% xếp loại yếu).
- Xây dựng và thực nghiệm thành công hệ thống các biện pháp giáo dục KNBVMT thông qua quy trình tổ chức hoạt động góc 3 bước có tích hợp các chủ đề giáo dục mầm non.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt khoa học lí luận: Đề tài góp phần cụ thể hóa lý luận giáo dục môi trường trong chuyên ngành Giáo dục Mầm non, xác lập hệ thống tiêu chí, thang đánh giá KNBVMT bằng điểm số định lượng rõ ràng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non trong việc thiết kế giáo án, xây dựng các góc chơi theo chủ đề tích hợp nội dung BVMT, đồng thời đưa ra các gợi ý sư phạm để tháo gỡ khó khăn về mặt phương pháp tổ chức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực trạng và thử nghiệm sư phạm chỉ được triển khai trong phạm vi một trường mầm non (Trường Mầm non Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) với cỡ mẫu 30 giáo viên và 60 trẻ, trong khoảng thời gian 1 tháng (05/11/2017 - 05/12/2017). Do đó, tính đại diện cho các vùng miền khác nhau (nông thôn, miền núi, đô thị lớn) chưa được bao quát toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô khảo sát và thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
- Nghiên cứu phối hợp liên hoàn việc giáo dục KNBVMT trong hoạt động góc với các chế độ sinh hoạt khác trong ngày ở trường mầm non (hoạt động ngoài trời, hoạt động học tập, hoạt động lao động tự phục vụ) và xây dựng mô hình kết nối đồng bộ giữa nhà trường - gia đình.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo cấu trúc khóa luận thực nghiệm sư phạm, phương pháp thiết kế phiếu hỏi Anket, bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng của trẻ và cách xây dựng kế hoạch hoạt động góc tích hợp.
- Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy: Vận dụng trực tiếp quy trình 3 bước tổ chức hoạt động góc, cách thức lồng ghép nội dung BVMT theo từng chủ đề cụ thể (như chủ đề Thế giới động vật, Thế giới thực vật), cũng như áp dụng các kĩ thuật tạo cảm xúc (yếu tố bất ngờ, hài hước) để thu hút trẻ.
- Cán bộ quản lý chuyên môn bậc học mầm non: Sử dụng bộ tiêu chí và thang điểm 10 làm công cụ tham chiếu để đánh giá thực trạng hành vi môi trường của trẻ mẫu giáo lớn tại các cơ sở giáo dục.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia KNBVMT của trẻ 5 - 6 tuổi thành những nhóm kĩ năng cụ thể nào?
Khóa luận chia KNBVMT của trẻ 5 - 6 tuổi thành 3 nhóm kĩ năng: (1) Nhóm kĩ năng giữ gìn môi trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp; (2) Nhóm kĩ năng sử dụng nguyên vật liệu, thực phẩm tiết kiệm; (3) Nhóm kĩ năng chăm sóc, bảo vệ vật nuôi và cây trồng.
2. Khảo sát thực trạng tại Trường Mầm non Kim Đức cho thấy kĩ năng nào của trẻ đạt kết quả thấp nhất và nguyên nhân do đâu?
Kĩ năng chăm sóc cây cối đạt kết quả thấp nhất với 33,33% trẻ xếp loại yếu và chỉ có 5,00% trẻ đạt loại tốt. Nguyên nhân là do giáo viên ít tổ chức các hoạt động ở góc thiên nhiên để trẻ thực hành, trẻ thiếu trải nghiệm thực tế trong cuộc sống hàng ngày nên còn lúng túng khi thực hiện các thao tác chăm sóc cây.
3. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên mầm non gặp phải khi tổ chức giáo dục KNBVMT trong hoạt động góc là gì?
Khó khăn lớn nhất theo khảo sát là thiếu tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động góc (chiếm 90,0% ý kiến giáo viên), tiếp theo là thiếu đồ dùng đồ chơi ở các góc (80,0%) và khó khăn trong việc phối hợp với phụ huynh học sinh (63,3%).
4. Bộ tiêu chí đánh giá KNBVMT của trẻ trong khóa luận được thiết kế như thế nào?
Bộ tiêu chí gồm 3 tiêu chí với tổng điểm 10: Tiêu chí 1 - Nhận ra sự cần thiết của môi trường đối với đời sống (3 điểm); Tiêu chí 2 - Thực hiện hành động BVMT hợp lý, phù hợp hoàn cảnh (3 điểm); Tiêu chí 3 - Thực hiện hành động BVMT có hiệu quả (4 điểm). Kết quả được phân thành 4 mức: Tốt (8 - 10 điểm), Khá (6 - 8 điểm), Trung bình (5 - 6 điểm), và Yếu (dưới 5 điểm).
5. Quy trình tổ chức hoạt động góc theo mục đích giáo dục KNBVMT gồm những bước nào?
Quy trình gồm 3 bước: Bước 1 - Xác định nội dung, mục đích giáo dục KNBVMT cụ thể cho từng góc chơi theo chủ đề; Bước 2 - Điều chỉnh cách chơi và đồ dùng đồ chơi theo mục đích đã định; Bước 3 - Tiến hành hoạt động góc qua 4 khâu: giới thiệu góc chơi, thăm dò ý tưởng của trẻ, hướng trẻ vào góc chơi/hỗ trợ củng cố kĩ năng, và nhận xét quá trình chơi/thu dọn đồ dùng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh đã giải quyết hoàn chỉnh mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục KNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động góc tại Trường Mầm non Kim Đức. Các dữ liệu điều tra định lượng đã chỉ ra rõ nét những bất cập về phương pháp tổ chức và sự hạn chế trong kĩ năng của trẻ, đặc biệt là kĩ năng chăm sóc cây cối. Hệ thống giải pháp với quy trình tổ chức 3 bước cùng các ví dụ tích hợp theo chủ đề mang tính ứng dụng sư phạm cao, đóng góp thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc học mầm non.