CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Phức điệu là hình thức âm nhạc nhiều bè, mỗi bè là một giai điệu có tính tự lập nhất định và được khơi nguồn từ âm nhạc dân gian châu Âu. Để góp phần hoàn thành nghiên cứu Phức điệu trong các tác phẩm thính phòng giao hưởng Việt Nam chúng tôi nhận thấy việc tìm hiểu một cách hệ thống về lịch sử phát triển âm nhạc phức điệu phương Tây để từ đó làm căn cứ, rồi so sánh, đối chiếu với việc vận dụng phức điệu phương Tây trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng của các nhạc sĩ Việt Nam là việc làm cần thiết. Tuy nhiên, trước đó, chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm về các thuật ngữ chuyên ngành dùng trong luận án.
Một số khái niệm về thuật ngữ chuyên ngành dùng trong luận án Khái niệm là sự hiểu biết sơ lược về một sự vật, hiện tượng, vấn đề nào đó. Thuật ngữ là từ, ngữ biểu đạt các khái niệm chuyên môn khoa học, kỹ thuật. Bởi vậy trước khi nghiên cứu âm nhạc phức điệu, trong mục này, chúng tôi sẽ trình bày quan điểm và cách sử dụng một số thuật ngữ dùng trong luận án. Chủ điệu và phức điệu: là hai thuật ngữ tương phản nhau nhưng cùng chỉ cách cấu tạo của âm nhạc nhiều bè.
Hai thuật ngữ đã được định nghĩa trong nhiều tài liệu về âm nhạc như Từ điển Harvard về âm nhạc (Harvard Dictionary of music); Từ điển Oxford về âm nhạc minh hoạ bằng hình ảnh (The Oxford Illustrated Dictionary of music); trong sách giáo khoa môn Phân tích tác phẩm âm nhạc và môn Phức điệu đang được sử dụng tại HVANQGVN và Trường ĐH Văn hoá Nghệ thuật Quân đội. - Theo sách giáo khoa Phức điệu của tác giả Phạm Tú Hương: o Chủ điệu là sự kết hợp giữa bè độc tấu với phần đệm. [27/10] o Phức điệu là hình thức âm nhạc nhiều bè, mỗi giai điệu có tính tự lập nhất định. [27/10] - Trong sách Phân tích tác phẩm của tác giả Nguyễn Thị Nhung viết: 8 o Cấu tạo chủ điệu: gồm một bè dẫn dắt còn các bè khác có ý nghĩa phụ thuộc với tính chất đệm.
[55/34] o Cấu tạo phức điệu là dạng nhiều bè phức tạp nhất, các bè đều phát triển và độc lập. [55/35] - Trong Từ điển Oxford về âm nhạc minh hoạ bằng hình ảnh định nghĩa: o Homophonic, Homophony: là một thuật ngữ được dùng để miêu tả cấu trúc âm nhạc trong đó, các bè chuyển động liền bậc với nhau và không thể hiện loại độc lập tiết tấu như gặp trong phức điệu.1 [83/173] o Polyphony: mô tả âm nhạc có nhiều giai điệu độc lập chuyển động cùng một lúc với nhau.2 [83/268] - Trong Từ điển Harvard về âm nhạc định nghĩa: o Homophonic, Homophony: Âm nhạc trong đó có một bè dẫn dắt mang tính giai điệu được hỗ trợ bởi phần đệm theo phong cách liên kết hợp âm hoặc một phong cách khác tỉ mỉ hơn.3 [85/390] o Polyphony: Phức điệu là loại âm nhạc kết hợp đồng thời nhiều bè, mỗi bè có tính độc lập riêng.4 [85/687] Như vậy các tài liệu đều thống nhất ý nghĩa của các thuật ngữ chủ điệu và phức điệu. Mặc dù là hai thuật ngữ tương phản nhau nhưng trong xu hướng hiện nay, tác phẩm có sự kết hợp cả hai cách cấu tạo âm nhạc nhiều bè đó đã trở nên phổ biến. Trong quá trình trình bày và phát triển ý nhạc, mỗi bè có tính độc lập, phát triển riêng lẻ thì vẫn được gọi là phức điệu mà không phụ thuộc vào tác phẩm đó thuộc tác phẩm chủ điệu hay tác phẩm phức điệu độc lập.
Tương phản và mô phỏng Đây là hai thuật ngữ chỉ các thủ pháp chính của âm nhạc phức điệu, đó là thủ pháp phức điệu tương phản và thủ pháp phức điệu mô phỏng. Theo sách giáo khoa Phức điệu của tác giả Phạm Tú Hương: [27/10] 1 A term used to describe musical textures in which all the parts move “in step” with one another and do not show the kind of rhythmic independence you get in Polyphony 2 We use this Greek word to describe music in which several strands of independent melody move along together at the same time 3 Music in which one voice leads melodically, being supported by an accompaniment in chordal or a slightly more elaborate style 4 Music that combines several simultaneous voice-parts of individual design 9 - Phức điệu tương phản là kết hợp hai hay nhiều giai điệu có cá tính riêng và sự phát triển tương đối độc lập. - Phức điệu mô phỏng là sự xuất hiện lần lượt của cùng một giai điệu ở các bè khác nhau. Mặc dù là hai thủ pháp độc lập nhưng trong phức điệu mô phỏng luôn hiện diện cả phức điệu tương phản.
Mỗi thủ pháp phức điệu lại có các dạng khác nhau như trong phức điệu tương phản có đối vị đơn giản và các loại đối vị phức tạp; hoặc trong phức điệu mô phỏng có các dạng mô phỏng đơn giản và các loại canon. Trong luận án này, những vấn đề thuộc lĩnh vực phức điệu phương Tây chúng tôi dựa vào sách giáo khoa Phức điệu của tác giả Phạm Tú Hương hiện đang được dùng làm giáo trình giảng dạy tại HVÂNQGVN, bên cạnh đó chúng tôi đã trình bày khái quát hoá các thủ pháp phức điệu bằng bảng biểu trong PL 1. Thang âm và điệu thức Thang âm là tập hợp các loại cao độ được sắp xếp sít chặt nhất theo một trật tự tiếp nối nhất định, trong đó mỗi loại cao độ được gọi là một bậc âm. [2/123] như thang 7 âm trong âm nhạc phương Tây, thang 5 âm hay thang 3,4 âm trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Điệu thức là cơ sở tổ chức mối tương quan về độ cao của âm thanh trong âm nhạc. [34/95] Luận án không nhằm mục đích nghiên cứu các loại thang âm, điệu thức, mà chúng tôi chỉ nêu lên các dạng và thống nhất cách gọi tên trong luận án: - Điệu thức âm nhạc phương Tây gồm hai hệ thống: o Điệu thức 7 âm với tên gọi trưởng, thứ được sử dụng thống nhất trong âm nhạc chuyên nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam. o Điệu thức 7 âm tự nhiên được xây dựng theo chuỗi, lần lượt từ các bậc cơ bản của thang âm tự nhiên trong phạm vi một quãng 8. Đây được gọi là các điệu thức diatonique cổ.[28/22,23] - Điệu thức 5 âm trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam: Âm nhạc cổ truyền Việt Nam cho đến nay vẫn chưa xây dựng một hệ thống lý thuyết đồng bộ và các điệu thức dân tộc cũng chưa thống nhất về thuật 10 ngữ.
Mỗi vùng miền, mỗi thể loại âm nhạc cổ truyền lại có những dạng điệu thức với tên gọi riêng. Trong khi đó, các tác phẩm làm tư liệu phân tích trong luận án lại khá đa dạng về chất liệu âm nhạc nên khó có thể sử dụng theo một hệ thống nào. Vì vậy, tổng hợp một số nghiên cứu về thang âm, điệu thức cổ truyền Việt Nam của các nhà nghiên cứu Lư Nhất Vũ và Nguyễn Thuỵ Loan chúng tôi gọi tên các điệu thức 5 âm như sau: Trong các điệu thức 5 âm thường gặp trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam, những điệu có cách sắp xếp và cấu trúc quãng giống với điệu thức ngũ cung trong âm nhạc Trung Hoa sẽ dùng thuật ngữ Việt Nam: điệu Bắc (giống điệu Chuỷ), điệu Ai hay Nam ai (giống điệu Vũ), điệu Xuân hay Nam xuân (giống điệu Thương). Điệu Cung và điệu Giốc người Việt không có tên gọi tương ứng nên tạm dùng thuật ngữ Trung Hoa.
Điệu thức Oán và các biến thể là hệ thống đặc biệt, nó là hệ quả của mối giao lưu văn hoá giữa âm nhạc Việt và Chăm (rồi Tây Nguyên và Khmer) trong tiến trình lịch sử lâu dài. [66/144] Cùng với đó là 3 dạng điệu thức đặc trưng của vùng âm nhạc Tây Nguyên. Lấy nốt Đô trong cách ghi âm của âm nhạc phương Tây làm âm gốc thì sẽ có 13 thang 5 âm các loại và được trình bày trong PL 2 của luận án. Sơ lược lịch sử phát triển của âm nhạc phức điệu phương Tây Lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật phức điệu qua các thời đại là kho tàng âm nhạc vô giá.
Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, các thế hệ nhạc sĩ phương Tây đã dần hoàn thiện các hình thức và thủ pháp khiến âm nhạc phức điệu trở thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng âm nhạc của nhân loại. Trước khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển âm nhạc phức điệu phương Tây chúng tôi xin đề cập đến cách phân chia thời kỳ âm nhạc phức điệu trong lịch sử âm nhạc phương Tây nói chung được trình bày ở một số sách giáo khoa, sách chuyên khảo đã xuất bản. Đây là cơ sở quan trọng trong việc làm rõ cách hiểu toàn diện và sâu sắc về âm nhạc phức điệu phương Tây. Phân chia thời kỳ lịch sử phát triển phức điệu phương Tây Để phân chia thời kỳ lịch sử âm nhạc phức điệu phương Tây, trên thế giới các nhà lý luận âm nhạc chia thành hai giai đoạn theo phong cách sáng tác: 11 - Giai đoạn Phức điệu viết theo lối nghiêm khắc - hay còn gọi là “Phức điệu thời Phục hưng” từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI.
- Giai đoạn Phức điệu viết theo lối tự do từ thế kỷ XVII đến ngày nay. “Nghiêm khắc” và “tự do” là khái niệm mang tính khái quát phản ánh một cách tương đối sự khác nhau giữa hai giai đoạn phát triển của âm nhạc phức điệu. [26/2] Có thể thấy sự phân chia này trong các cuốn sách chuyên khảo về phức điệu như: - Sách Giáo khoa phức điệu của các tác giả: S.Miuler do Nguyễn Xinh dịch và in tại NVHN năm 1997. Theo lời giới thiệu của PGS.PTS Phạm Minh Khang thì đây là một trong những sách giáo khoa tốt nhất sử dụng để giảng dạy tại các Nhạc viện thuộc Liên Xô (cũ) và nhiều nước trên thế giới.
[71/1] Trong Lời nói đầu, tác giả cuốn sách trình bày chương trình chia thành hai phần là lối viết nghiêm khắc và lối viết tự do. Tác giả cho rằng nhan đề đó phù hợp để phân biệt một bên là phức điệu thế kỷ XV - XVI: phong cách nghệ thuật phức điệu trong hợp xướng A cappella, với một bên là phức điệu thể hiện phong cách nghệ thuật nhạc hát kết hợp với nhạc đàn và nhạc đàn thuần tuý.