Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ âm nhạc học chuyên ngành Âm nhạc học (mã số: 62 21 02 01) được thực hiện tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam dưới tiêu đề "Phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam" (bảo vệ năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nền âm nhạc mới Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX từ những biến động lịch sử của dân tộc ở thế kỷ XIX. Đến cuối những năm 50 của thế kỷ XX, lĩnh vực âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam mới chính thức hình thành và từng bước phát triển nhờ sự ra đời của các nhà hát, dàn nhạc và Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), cùng lực lượng nhạc sĩ được đào tạo trong nước và tại các quốc gia như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Đông Âu.
Trong tiến trình xây dựng khí nhạc chuyên nghiệp, các nhạc sĩ Việt Nam không chỉ khai thác chất liệu âm nhạc cổ truyền mà còn tiếp thu hệ thống lý thuyết và kỹ thuật sáng tác phương Tây ở các lĩnh vực hòa âm, phối khí, hình thức, thể loại và phức điệu. Phức điệu là hình thức âm nhạc nhiều bè mà mỗi bè có tính độc lập nhất định, đóng vai trò phương tiện biểu đạt chiều sâu cho các cấu trúc âm nhạc phức tạp. Đặc biệt, tư duy âm nhạc truyền thống Việt Nam và phương Đông vốn mang đặc trưng phát triển theo "chiều ngang" (giai điệu và tuyến tính). Việc vận dụng phức điệu phương Tây kết hợp tư duy chiều ngang bản địa đã trở thành một thủ pháp quan trọng. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống hóa sự kế thừa phức điệu phương Tây song hành với việc tiếp thu tư duy bè tòng cổ truyền trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích sự vận dụng các hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
- Khảo sát nguồn chất liệu âm nhạc được khai thác để xây dựng các đoạn phức điệu bằng ngôn ngữ mang tính dân tộc.
- Làm rõ sự tiếp thu và vận dụng phương pháp biến hóa lòng bản, bè tòng của hòa tấu cổ truyền Việt Nam trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng nhằm thể hiện bản sắc dân tộc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Các hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây được vận dụng trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng của các nhạc sĩ Việt Nam.
- Những tìm tòi nhằm thể hiện bản sắc dân tộc khi sử dụng hình thức và thủ pháp phức điệu.
- Sự tiếp thu và vận dụng nguyên tắc bè tòng trong hòa tấu cổ truyền Việt Nam vào tác phẩm thính phòng - giao hưởng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thể loại và nhạc cụ: Tác phẩm khí nhạc thính phòng (độc tấu piano, song tấu, tam tấu, tứ tấu...) và tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng (ouverture, ballade, rhapsody, concerto cho nhạc cụ phương Tây hoặc nhạc cụ dân tộc diễn tấu cùng dàn nhạc giao hưởng, giao hưởng thơ, tổ khúc giao hưởng, liên khúc giao hưởng nhiều chương).
- Dạng cấu trúc: Giới hạn trong các tác phẩm chủ điệu có những chương hoặc những phần sử dụng hình thức và thủ pháp phức điệu.
- Quy mô tư liệu: Khảo sát giới hạn trong 120 tác phẩm khí nhạc đã được in ấn, phổ biến, công diễn hoặc đưa vào giáo trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các cơ sở đào tạo âm nhạc trong nước, hoặc các tác phẩm đã đạt giải thưởng âm nhạc quốc gia và quốc tế.
- Phần loại trừ: Luận án không nghiên cứu phần khí nhạc trong các tác phẩm hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc phim, và các tác phẩm viết hoàn toàn ở hình thức phức điệu độc lập (như các bản Invention, Fugue đứng riêng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả hệ thống hóa 21 tài liệu nghiên cứu chuyên ngành liên quan trực tiếp đến cơ sở lý thuyết phức điệu và tình hình sáng tác khí nhạc Việt Nam:
- Tài liệu giáo trình và chuyên khảo về phức điệu:
- Giáo trình Phức điệu của S. Miuler (Nguyễn Xinh dịch, Nhạc viện Hà Nội xuất bản năm 1997), phân chia hai giai đoạn: lối viết nghiêm khắc (thế kỷ XV - XVI với hợp xướng A cappella) và lối viết tự do (từ thế kỷ XVII với nhạc đàn và nhạc hát phối hợp).
- Công trình Phức điệu thực hành của Hoàng Đạm (Nxb Âm nhạc, 1997), hệ thống hóa các loại hình phức điệu nghiêm khắc và cách ứng dụng vào lối viết tự do.
- Hệ thống giáo trình của Phạm Tú Hương: Sách giáo khoa phức điệu (Nhạc viện Hà Nội, 1998) tập trung vào phức điệu tự do; Phức điệu (Giáo trình bậc đại học, Nxb Quân đội Nhân dân, 2006) chia thành hai phần tương ứng với hai giai đoạn nghiêm khắc và tự do.
- Chuyên khảo Phức điệu nghiêm khắc của Cù Lệ Duyên (Nhạc viện Hà Nội, 2004), phân tích các thủ pháp phức điệu thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV - XVI).
- Tài liệu lý luận, phân tích tác phẩm và lịch sử âm nhạc:
- Phân tích tác phẩm của Nguyễn Thị Nhung (1998, 2006), phân định rõ cấu tạo chủ điệu và cấu tạo phức điệu.
- Lịch sử âm nhạc thế giới tập 1 của Nguyễn Xinh (Nhạc viện Hà Nội, 1983) và Lịch sử âm nhạc thế giới của Nguyễn Thị Nhung (Nxb Quân đội Nhân dân, 2008), phân kỳ lịch sử phát triển của phức điệu từ thời Trung cổ qua Baroque, Cổ điển đến Lãng mạn.
- Công trình Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong thế kỷ XX của Phạm Phương Hoa, phân tích việc tái hiện phong cách phức điệu cổ điển trong âm nhạc Tân cổ điển và hiện đại.
- Tài liệu về thang âm, điệu thức cổ truyền: Các công trình nghiên cứu thang âm, điệu thức năm âm Việt Nam của các tác giả Lư Nhất Vũ và Nguyễn Thụy Loan.
- Từ điển chuyên ngành quốc tế: Harvard Dictionary of Music và The Oxford Illustrated Dictionary of Music.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc biên soạn giáo trình lý thuyết thuần túy về phức điệu phương Tây hoặc phân tích tổng thể cấu trúc tác phẩm khí nhạc Việt Nam ở góc độ hình thức - hòa âm. Luận án xác định vị trí nghiên cứu chuyên sâu vào giao điểm giữa kỹ thuật phức điệu phương Tây và tư duy "chiều ngang", nguyên tắc "bè tòng", "lòng bản" của âm nhạc dân gian cổ truyền trên mẫu khảo sát 120 tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành:
- Chủ điệu (Homophony) và Phức điệu (Polyphony): Chủ điệu là cấu tạo nhiều bè gồm một bè giai điệu chính dẫn dắt và các bè đệm hòa âm phụ thuộc. Phức điệu là hình thức âm nhạc nhiều bè, trong đó mỗi bè là một giai điệu có tính độc lập tương đối.
- Phức điệu tương phản (Contrast Polyphony): Sự kết hợp đồng thời từ hai giai điệu trở lên có cá tính riêng biệt và tiến trình phát triển độc lập, bao gồm đối vị đơn giản và đối vị phức tạp (đối vị chuyển động chiều dọc tính theo chỉ số $I_v$, đối vị đảo ảnh).
- Phức điệu mô phỏng (Imitation Polyphony): Sự xuất hiện lần lượt của cùng một giai điệu ở các bè khác nhau, bao gồm mô phỏng đơn giản, canon, mô phỏng dồn (stretto), mô phỏng đảo ảnh, mô phỏng đảo đầu.
- Các hình thức cấu trúc phức điệu:
- Fugue: Hình thức phức điệu hoàn chỉnh dựa trên sự tiến hành nhiều lần một, hai hoặc ba chủ đề ở tất cả các bè (gồm phần trình bày, phát triển, tái hiện).
- Fugato: Hình thức fugue dạng không hoàn chỉnh, được tích hợp làm một phần hoặc một đoạn phát triển trong tác phẩm chủ điệu.
- Ostinato: Âm hình trì tục lặp lại ở bè trầm làm nền tảng cho các bè trên đối vị.
- Khái niệm âm nhạc cổ truyền Việt Nam:
- Bè tòng (Heterophony / Phân điệu): Hình thức trình bày âm nhạc nhiều bè, trong đó có một bè giữ vai trò dẫn dắt, các bè khác trình bày biến hóa, họa lại các âm điệu cốt lõi.
- Lòng bản: Bài bản âm nhạc ước lệ mang tính mô hình (giai điệu lõi) trong âm nhạc tài tử và cải lương Nam Bộ.
- Chữ chính đồng âm: Quy tắc gặp nhau ở điểm đồng âm tại phách mạnh hoặc kết câu giữa các bè biến tấu.
- Hệ thống thang âm và điệu thức:
- Điệu thức 7 âm phương Tây (trưởng, thứ tự nhiên, hòa thanh, giai điệu và các điệu thức diatonique cổ).
- Hệ thống 13 thang âm 5 âm cổ truyền Việt Nam (quy chiếu từ âm gốc Đô): điệu Bắc, điệu Nam ai, điệu Nam xuân, điệu Cung, điệu Giốc, hệ thống điệu Oán và các biến thể giao lưu văn hóa Chăm, Tây Nguyên, Khmer.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính trong âm nhạc học:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích văn bản tổng phổ âm nhạc để bóc tách các bè, nhận diện các nhân tố phức điệu (chủ đề, đáp đề, đối đề, thủ pháp biến đổi) và đánh giá cách thức kết hợp chất liệu bản địa.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Khảo sát, đối chiếu giữa cấu trúc phức điệu phương Tây nguyên bản với các biến thể trong tác phẩm khí nhạc Việt Nam; so sánh tần suất và mức độ xuất hiện giữa các thể loại.
- Phương pháp nghị luận âm nhạc học: Đánh giá giá trị nghệ thuật, phong cách tư duy và thẩm mỹ của tác giả thông qua ngôn ngữ âm nhạc.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phỏng vấn sâu, tham khảo ý kiến chuyên môn của các nhạc sĩ sáng tác và nhà lý luận âm nhạc.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu gồm 120 tổng phổ tác phẩm thính phòng - giao hưởng của các thế hệ nhạc sĩ Việt Nam (Nguyễn Văn Thương, Đỗ Nhuận, Hoàng Việt, Nguyễn Đình Tấn, Đàm Linh, Nguyễn Văn Nam, Doãn Nho, Vĩnh Cát, Nguyễn Thị Nhung, Thế Bảo, Ca Lê Thuần, Hoàng Cương, Đặng Hữu Phúc, Đỗ Hồng Quân, Trọng Đài, Trần Mạnh Hùng, Vũ Nhật Tân...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận - Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung lý luận và phân kỳ lịch sử phát triển âm nhạc phức điệu phương Tây qua hai giai đoạn lớn:
Chương 1 cũng tổng thuật 21 công trình nghiên cứu và tài liệu chuyên ngành tại Việt Nam, phân tích tình hình giảng dạy môn Phức điệu tại các cơ sở đào tạo âm nhạc, chỉ ra sự cần thiết của việc nghiên cứu có hệ thống về phức điệu trong khí nhạc Việt Nam.
| Bảng 1.1: Điệu tính chủ đề từ phần trình bày đến cao trào phần phát triển trong Music for Strings, Percussion and Celesta của Bela Bartok (Trích xuất từ luận án) |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| Số nhịp |
1 |
4 |
8 |
12 |
16 |
26 |
27 |
33 |
34 |
35 |
44 |
| Nhạc cụ diễn tấu |
Vla |
Vln 2 |
Vc |
Vln 1 |
Cb |
Vla + Vc |
Vln 1, 2 |
Vln 3, 4 |
Vc + Cb |
Vla |
Vln 1, 2 |
| Thủ pháp phát triển |
Chủ đề nguyên dạng |
Mô phỏng quãng 5 đúng |
Stretto |
Stretto |
Stretto |
Stretto |
Biến đổi chủ đề |
Biến đổi chủ đề |
Biến đổi kết hợp stretto |
Cắt ngắn một phần |
Cắt ngắn kết hợp stretto |
| Điệu tính CĐ (vòng q.5 đi lên) |
A |
E |
H |
Fis |
Cis |
Gis |
- |
- |
- |
- |
Dis = Es |
| Điệu tính CĐ (vòng q.5 đi xuống) |
A |
D |
G |
C |
F |
B |
- |
- |
- |
- |
Es |
Chương 2: Hình thức và thủ pháp phức điệu phương Tây trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích việc ứng dụng kỹ thuật phức điệu phương Tây trong các sáng tác khí nhạc Việt Nam qua ba nhóm cấu trúc chính:
1. Các hình thức fugue là một chương hoặc một phần tác phẩm
- Fugue một chủ đề:
- Sonate Polyphonique của Đặng Hữu Phúc: Xây dựng fugue theo tư duy phức điệu chặt chẽ kết hợp ngôn ngữ khí nhạc hiện đại.
- Chương II "Suối" trong Tứ tấu đàn dây của Thế Bảo: Sử dụng cấu trúc fugue một chủ đề để miêu tả hình tượng thiên nhiên chuyển động liên tục.
- Sonate in C của Hoàng Cương: Ứng dụng fugue một chủ đề trong cấu trúc thính phòng cổ điển.
- Fugue nhiều chủ đề:
- Giao hưởng thơ Tuổi trẻ anh hùng của Vĩnh Cát: Tác giả xây dựng bản fugue ba chủ đề (ô vuông 17), mỗi chủ đề đại diện cho một tuyến hình tượng âm nhạc tương phản và đan cài chặt chẽ.
- Không chỉ là huyền thoại (chương II) của Vĩnh Cát: Cấu trúc fugue nhiều chủ đề phản ánh tính kịch kịch tính lịch sử.
- Những cánh chim không mỏi của Nguyễn Đình Tấn: Vận dụng fugue đa chủ đề nhằm tạo bước phát triển cao trào.
- Hình thức hỗn hợp: Kết hợp giữa cấu trúc liên khúc sonate, biến tấu với fugue, tiêu biểu trong Concerto giọng Es dur của Ca Lê Thuần (chương II).
2. Sử dụng Fugato trong tác phẩm
- Fugato mở đầu chương nhạc hoặc mở đầu tác phẩm:
- Giao hưởng số 1 (chương II) của Vĩnh Cát: Đoạn fugato mở đầu tạo không gian tự sự, dẫn dắt vào chủ đề chính.
- Tam tấu Về làng của Đỗ Kiên Cường: Fugato mở đầu với âm hưởng dân gian miền Bắc.
- Tứ tấu dây Âm thanh đồng bằng của Ca Lê Thuần: Sử dụng đoạn fugato từ nhịp 50 đến 67 để triển khai các tuyến giai điệu mang âm hưởng Nam Bộ.
- Giao hưởng Dáng rồng lên (chương I) của Đỗ Hồng Quân.
- Fugato trong cấu trúc tác phẩm (phần phát triển hoặc tái hiện):
- Giao hưởng số 7 (chương IV) và Ngũ tấu dây và piano của Nguyễn Văn Nam: Fugato đóng vai trò đẩy xung đột âm nhạc lên đỉnh điểm kịch tính.
- Tứ tấu dây số 2, Giao hưởng thơ Hào khí Thăng Long, Giao hưởng thơ Bạch Đằng Giang của Trần Mạnh Hùng: Sử dụng fugato đa bè ở bộ dây để tạo lớp sóng âm thanh cuộn trào.
- Ballade Symphonie của Ca Lê Thuần (ô vuông 11), Giao hưởng Đất nước của Nguyễn Đức Toàn.
3. Các thủ pháp phức điệu
- Phức điệu tương phản:
- Đối vị tương phản hai bè, ba bè và bốn bè xuất hiện dày đặc trong Tứ tấu dây của Nguyễn Văn Nam, Sonate Tuổi trẻ anh hùng của Phạm Minh Khang, Tam tấu Kể chuyện sông Hồng của Huy Du, Miền Nam tuyến đầu của Chu Minh, Pizzicato Việt Nam của Đặng Hữu Phúc.
- Ứng dụng đối vị chuyển chỗ (chiều dọc, đảo ảnh) để tái cấu trúc giai điệu ở phần biến đổi.
- Phức điệu mô phỏng:
- Thủ pháp canon (canon hai bè, ba bè, bốn bè): Bản Không gian của Vũ Nhật Tân sử dụng canon bốn bè từ nhịp 10 đến nhịp 31; Giao hưởng Mở đất của Đỗ Hồng Quân; Cửu Long mênh mông, Tháng 3 Tây Nguyên của Thế Bảo.
- Thủ pháp mô phỏng dồn (stretto) được áp dụng tại các đoạn kết hoặc đỉnh cao trào để dồn dập hóa tiết tấu.
- Phức điệu với bè trầm cố định (Ostinato): Sử dụng các âm hình tiết tấu hoặc nét giai điệu ngắn lặp đi lặp lại liên tục ở bè trầm (contrabass, cello hoặc phần tay trái piano) để các bè trên tự do đối vị, tạo không gian trang trọng, trầm hùng.
Chương 3: Khai thác các yếu tố mang bản sắc dân tộc khi sử dụng hình thức và các thủ pháp phức điệu
Chương 3 khẳng định sự sáng tạo của các nhạc sĩ Việt Nam khi bản địa hóa các kỹ thuật phức điệu phương Tây thông qua chất liệu và phương thức diễn tấu truyền thống:
1. Khai thác nguồn chất liệu âm nhạc dân tộc
- Âm nhạc dân tộc cổ truyền:
- Dân ca Quan họ Bắc Ninh: Giai điệu bài Người ở đừng về được đưa vào làm chủ đề phức điệu trong tác phẩm của Nguyễn Phúc Linh và Tổ khúc Hương quê của Nguyễn Thị Nhung.
- Dân ca Nam Bộ: Các bài Lý rẫy lý vườn (Sông Bé), Lý con cua được khai thác trong Giao hưởng số 6 của Nguyễn Văn Nam và Tứ tấu dây Âm thanh đồng bằng của Ca Lê Thuần.
- Hát Xẩm, Chèo, Tuồng: Giai điệu Xẩm xoan và trích đoạn nghệ thuật truyền thống được đưa vào Giao hưởng số 8, Giao hưởng Chuyện nàng Kiều của Nguyễn Văn Nam; Trổ một, Đối thoại, Trống hội của Đỗ Hồng Quân.
- Âm nhạc Tây Nguyên: Khai thác thang âm cồng chiêng và tiết tấu lễ hội trong Capriccio Tây Nguyên của Đặng Hồng Anh, Giao hưởng số 3 của Nguyễn Văn Nam.
- Giai điệu ca khúc đương đại: Tiếp thu và đưa các giai điệu ca khúc cách mạng, trữ tình quê hương vào cấu trúc phức điệu nhiều bè: Người về đem tới niềm vui (Trọng Bằng), Trở về đất mẹ, Rhapsody số 2 (Nguyễn Văn Thương), Tiếng rao (Trọng Đài), Concertino Biển quê hương (Trần Quý), Non sông một dải (Nguyễn Xinh), Cây đuốc sống (Nguyễn Đình Tấn).
- Ngữ điệu tiếng nói: Khai thác các thanh điệu (bằng, trắc, hỏi, ngã, sắc, nặng) của tiếng Việt để tạo ra các bước nhảy quãng, đường nét lượn sóng của giai điệu đối vị, tránh sự gượng gạo khi các bè lồng ghép vào nhau.
2. Biến hóa lòng bản và bè tòng trong âm nhạc cổ truyền
- Phương pháp biến hóa lòng bản và bè tòng: Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, hòa tấu không dựa trên sự phối hợp hòa âm cột dọc phương Tây mà dựa trên nguyên tắc "dị điệu" (heterophony). Từ một "lòng bản" (giai điệu khung mang tính ước lệ), mỗi nhạc cụ (đàn tranh, đàn bầu, đàn nguyệt, nhị, sáo...) tự do biến hóa, thêm hoa mỹ, luyến láy, tạo nên nhiều đường tuyến giai điệu độc lập nhưng cùng gặp nhau ở các "chữ chính đồng âm" tại phách mạnh hoặc điểm kết câu.
- Phương thức tiếp thu bè tòng vào tác phẩm thính phòng - giao hưởng:
- Các nhạc sĩ sử dụng dàn nhạc giao hưởng phương Tây để tái hiện không gian bè tòng cổ truyền: bè chính xướng lên giai điệu gốc, các bè phụ dùng kỹ thuật chạy ngón, lướt quãng, mô phỏng biến thể để bao bọc quanh bè chính.
- Tiêu biểu trong: Hòa tấu Thăng Long của Đàm Linh, Phật nghìn tay nghìn mắt, Giao hưởng số 3 (chương II, ô 58) của Nguyễn Văn Nam, Pizzicato Việt Nam của Đặng Hữu Phúc, Trống hội, Trổ một, Đối thoại của Đỗ Hồng Quân, Trio số 2 của Nguyễn Phúc Linh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án phân tích và hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm của âm nhạc phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX đến giai đoạn đương đại.
- Làm sáng tỏ cơ chế tiếp biến văn hóa âm nhạc: chứng minh quá trình các nhạc sĩ Việt Nam tiếp thu có chọn lọc các hình thức (fugue, fugato) và thủ pháp (đối vị tương phản, mô phỏng, canon, stretto, ostinato) của phức điệu phương Tây, đồng thời dung hợp với tư duy phát triển "chiều ngang" của âm nhạc truyền thống phương Đông.
- Xác lập cơ sở lý thuyết về việc chuyển hóa phương pháp "lòng bản" và nguyên tắc "bè tòng" từ nghệ thuật hòa tấu cổ truyền dân tộc thành các thủ pháp đối vị nhiều bè trong dàn nhạc giao hưởng và thính phòng hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng nguồn dữ liệu và hệ thống phân tích chi tiết trên 120 tổng phổ tác phẩm khí nhạc tiêu biểu của Việt Nam, cung cấp hệ thống dẫn chứng chuẩn xác cho nghiên cứu âm nhạc học.
- Luận án trực tiếp bổ sung nguồn tài liệu tham khảo và giáo trình phục vụ công tác giảng dạy các môn Phức điệu, Phân tích tác phẩm âm nhạc, Lịch sử âm nhạc Việt Nam tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các trường văn hóa nghệ thuật trên toàn quốc.
- Đóng góp kinh nghiệm thực tiễn và gợi mở các phương thức xử lý kỹ thuật cho các nhạc sĩ sáng tác khí nhạc trong việc kết hợp bản sắc dân tộc với kỹ thuật đa bè phương Tây.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do điều kiện lưu trữ, in ấn và công diễn các tác phẩm khí nhạc quy mô lớn tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, luận án chưa thể bao quát toàn bộ di sản tác phẩm khí nhạc của tất cả các nhạc sĩ mà phải giới hạn trong mẫu khảo sát 120 tác phẩm đáp ứng tiêu chí đã công bố/đạt giải thưởng. Đồng thời, phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào tác phẩm chủ điệu có sử dụng phức điệu và tác phẩm viết cho nhạc cụ phương Tây/nhạc cụ dân tộc với dàn nhạc giao hưởng, không khảo cứu các thể loại sân khấu âm nhạc (vũ kịch, nhạc kịch), nhạc phim hoặc hợp xướng trọn vẹn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu kỹ thuật phức điệu trong các thể loại thanh xướng kịch, nhạc kịch, vũ kịch và khảo sát sâu hơn các xu hướng sáng tác phức điệu đương đại của thế hệ nhạc sĩ trẻ Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Âm nhạc học, Sáng tác, Chỉ huy, Lý luận âm nhạc: Cung cấp phương pháp luận phân tích phức điệu và hệ thống ví dụ tổng phổ thực tế của Việt Nam.
- Giảng viên giảng dạy âm nhạc: Là tài liệu đối chiếu trực quan phục vụ bài giảng môn Phức điệu và Phân tích tác phẩm, giúp người học tiếp cận phức điệu không chỉ qua các tác phẩm cổ điển châu Âu mà qua chính di sản âm nhạc dân tộc.
- Nhạc sĩ sáng tác: Cung cấp các mô hình kỹ thuật kết hợp giữa thang âm 5 âm, điệu Oán, điệu Bắc, điệu Nam, kỹ thuật bè tòng với các cấu trúc fugue, fugato, canon trong dàn nhạc thính phòng và giao hưởng.
- Các phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng tra cứu thuật ngữ đối chiếu đa ngôn ngữ (Việt - Anh - Ý - Pháp - Đức), hệ thống sơ đồ phân tích cấu trúc fugue/fugato của các tác giả Việt Nam, và danh mục 120 tác phẩm khí nhạc nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia lịch sử phát triển phức điệu phương Tây thành những giai đoạn nào?
Luận án thống nhất phân chia lịch sử âm nhạc phức điệu phương Tây thành hai giai đoạn phong cách chính:
- Giai đoạn phức điệu nghiêm khắc (thế kỷ XIV - XVI): Gắn liền với nghệ thuật phức điệu thời kỳ Phục hưng (trường phái Rome, Venise, Pháp, Hà Lan), đặc trưng bởi hợp xướng A cappella, sử dụng điệu thức diatonique cổ, hạn chế biến âm và tránh âm nghịch ở phách mạnh.
- Giai đoạn phức điệu tự do (từ thế kỷ XVII đến ngày nay): Bắt đầu từ G. Frescobaldi, đạt đỉnh cao kinh điển ở J.S. Bach, tiếp tục phát triển qua các thời kỳ Cổ điển Viên (Haydn, Mozart, Beethoven), Lãng mạn thế kỷ XIX và Hiện đại thế kỷ XX.
2. Thuật ngữ "Bè tòng" (Heterophony) được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa: Bè tòng (tiếng Anh: Heterophony; từ đồng nghĩa: Phân điệu) là một hình thức trình bày âm nhạc nhiều bè trong đó có một bè mang ý nghĩa dẫn dắt, còn những bè khác trình bày biến hóa, họa lại những âm điệu điển hình nhất của bè chính dựa trên nguyên tắc "lòng bản" và gặp nhau ở các "chữ chính đồng âm".
3. Tiêu chí lựa chọn 120 tác phẩm nghiên cứu trong luận án là gì?
120 tác phẩm được lựa chọn theo hai nhóm tiêu chí:
- Các tác phẩm đã được in ấn, phổ biến, công diễn hoặc được sử dụng làm giáo trình giảng dạy trong Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các cơ sở đào tạo âm nhạc tại Việt Nam.
- Các tác phẩm đã đạt giải thưởng trong các kỳ thi khí nhạc trong nước và quốc tế.
4. Các nhạc sĩ Việt Nam đã vận dụng những hình thức fugue nào trong tác phẩm thính phòng - giao hưởng?
Các nhạc sĩ Việt Nam vận dụng ba hình thức fugue chính:
- Fugue một chủ đề: Tiêu biểu trong Sonate Polyphonique (Đặng Hữu Phúc), Tứ tấu đàn dây chương II (Thế Bảo), Sonate in C (Hoàng Cương).
- Fugue nhiều chủ đề: Tiêu biểu là Fugue ba chủ đề trong Giao hưởng thơ Tuổi trẻ anh hùng và Không chỉ là huyền thoại (Vĩnh Cát), Những cánh chim không mỏi (Nguyễn Đình Tấn).
- Hình thức hỗn hợp: Kết hợp sonate - fugue, biến tấu - fugue trong Concerto Es dur (Ca Lê Thuần).
5. Nguồn chất liệu dân tộc nào được khai thác nhiều nhất để xây dựng các đoạn phức điệu trong khí nhạc Việt Nam?
Nguồn chất liệu bao gồm ba nhóm chính:
- Âm nhạc cổ truyền: Dân ca Quan họ Bắc Ninh (Người ở đừng về), Dân ca Nam Bộ (Lý con cua, Lý rẫy lý vườn), Hát Xẩm (Xẩm xoan), âm nhạc Chèo, Tuồng và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên.
- Giai điệu ca khúc đương đại: Các ca khúc cách mạng, kháng chiến của Trọng Bằng, Nguyễn Văn Thương, Trọng Đài, Trần Quý...
- Ngữ điệu tiếng nói: Vận dụng hệ thống thanh điệu tiếng Việt để cấu tạo đường nét giai điệu đối vị.
Kết luận
Luận án "Phức điệu trong các tác phẩm thính phòng - giao hưởng Việt Nam" là công trình âm nhạc học khảo cứu một cách hệ thống việc tiếp thu và vận dụng nghệ thuật phức điệu phương Tây trong khí nhạc chuyên nghiệp Việt Nam từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX đến nay. Dựa trên việc phân tích 120 tác phẩm tiêu biểu, luận án làm sáng tỏ cách thức các nhạc sĩ Việt Nam bản địa hóa các hình thức fugue, fugato và các thủ pháp đối vị, mô phỏng, ostinato thông qua việc khai thác thang âm, điệu thức dân gian cùng nguyên lý "lòng bản" và "bè tòng" truyền thống. Công trình khẳng định tư duy sáng tạo độc lập của các thế hệ nhạc sĩ trong việc dung hợp kỹ thuật khí nhạc phương Tây với bản sắc dân tộc, đồng thời cung cấp tài liệu lý luận và thực tiễn phục vụ công tác nghiên cứu, sáng tác và đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp tại Việt Nam.