Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9.40) với đề tài "Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nhung thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Hồng Lý.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ quan sát thực địa về những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống văn hóa cơ sở: các nghệ nhân Hát Xoan tại các phường Xoan cổ yêu thích việc tự đặt lời mới và ngẫu hứng sáng tạo nhưng buộc phải "hát trộm", bởi hệ thống quản lý văn hóa địa phương yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt 31 bài bản cổ đã ghi danh, kiểm soát trang phục biểu diễn mới và thậm chí yêu cầu nghệ nhân diễn chân đất trong thời tiết giá lạnh để giữ tính chất mộc mạc của người nông dân. Hát Xoan Phú Thọ từng được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 24/11/2011, sau đó được chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 08/12/2017. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc làm rõ bản chất của quá trình di sản hóa: di sản sau khi được vinh danh không còn tồn tại nguyên vẹn như trước mà chịu sự tác động sâu sắc của các cơ quan quản lý nhà nước, dẫn đến tình trạng hành chính hóa, làm thay đổi quyền sở hữu và quyền thực hành của cộng đồng chủ thể.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát diện mạo của Hát Xoan Phú Thọ sau khi được UNESCO ghi danh qua hai giai đoạn (bảo vệ khẩn cấp năm 2011 và đại diện nhân loại năm 2017), tập trung vào các khía cạnh: thực hành bài bản, sưu tầm, ký âm, truyền dạy, chính sách nghệ nhân, cùng phương thức Hát Xoan hiện diện trong các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế, giáo dục và du lịch; qua đó bàn luận về công tác bảo vệ, phát huy di sản và nhận diện các động thái kinh tế, chính trị, văn hóa chi phối thực hành này.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án xác định gồm hai câu hỏi chính:

  1. Quá trình di sản hóa Hát Xoan Phú Thọ diễn ra như thế nào?
  2. Những động thái chi phối quá trình di sản hóa Hát Xoan và những vấn đề đặt ra với Hát Xoan hiện nay?

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành bốn nội dung:

  • Nghiên cứu vấn đề di sản hóa các di sản văn hóa, tập trung vào phương diện tính chính trị của di sản.
  • Nghiên cứu bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam trên các bình diện kinh tế, chính trị và văn hóa.
  • Tìm hiểu tiến trình Hát Xoan Phú Thọ được lựa chọn và xây dựng hồ sơ ghi danh di sản của UNESCO.
  • Khảo sát các diễn biến sau ghi danh của Hát Xoan, quá trình bảo vệ khẩn cấp và thảo luận các vấn đề lý luận về di sản hóa trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

Đối tượng nghiên cứu là các thực hành Hát Xoan tại tỉnh Phú Thọ diễn ra sau quá trình ghi danh của UNESCO, đặt trong sự đối sánh với các thực hành Hát Xoan ở các giai đoạn lịch sử trước đó. Phạm vi không gian tập trung vào 4 làng Xoan cổ: An Thái, Phù Đức, Kim Đái, Thét, đồng thời mở rộng tới các làng Xoan mới, câu lạc bộ dân ca, trường học, công sở và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ mốc ghi danh năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án, trong đó dữ liệu khảo sát thực địa được tác giả thu thập từ năm 2016 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu về di sản hóa và tính chính trị của di sản: Luận án điểm lại thuật ngữ di sản hóa (heritagization) do Robert Hewison đề xuất năm 1987 trong công trình nghiên cứu về công nghiệp di sản tại Vương quốc Anh, sau đó được Regina Bendix (2009) mở rộng dưới góc độ nhân học văn hóa nhằm chỉ ra tính chọn lọc của ký ức và sự kiến tạo giá trị biểu tượng. Rosemary Coombe và Joseph Turcotte (2012) phân tích các thiết chế quyền lực mới tác động lên di sản bản địa. Tại Việt Nam, Oscar Salemink (2001, 2012, 2014, 2015) là tác giả phân tích sâu sắc khái niệm di sản hóa và tính chính trị của di sản văn hóa phi vật thể, nhận định việc ghi danh biến di sản của cộng đồng thành tài sản quốc gia, kéo theo sự chiếm đoạt văn hóa và can thiệp hành chính làm xói mòn quyền sở hữu của người dân bản địa. Lê Hồng Lý và các cộng sự (2012) khảo sát các trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hội Gióng, Tháp Bà Poh Nagar và Cồng chiêng người Lạch để chỉ ra nguy cơ ngoài lề hóa cộng đồng chủ. Các công trình của Phan Phương Anh khảo sát tính thiêng bị suy giảm do hành chính hóa tại Lễ hội Đền Hùng; Lê Thị Ngà (2015) nghiên cứu biến đổi tại làng cổ Đường Lâm; Đào Xuân Quý (2016) nghiên cứu làng Cổ Tích hậu di sản; Nguyễn Thị Nhung (2017) khảo sát sự can thiệp nhà nước tại Lễ hội Chùa Hương; Lương Hồng Quang (2013, 2015) bàn về quản lý lễ hội và cân bằng lợi ích; nhóm tác giả Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm, Hoàng Cầm, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức (2018) tổng kết thành tựu và bất cập sau ghi danh UNESCO như xu hướng hoành tráng hóa, sân khấu hóa và bất cập trong công tác nghệ nhân.

Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về Hát Xoan: Các tác giả nghiên cứu tên gọi, nguồn gốc và âm nhạc gồm Nguyễn Khắc Xương (1978, 2003, 2008), Đức Bằng (1982), Tú Ngọc (1981, 1997), Phạm Phúc Minh, Dương Huy Thiện (1979, 2015), Phạm Bá Khiêm (2005), Trần Thị Kim Anh (2010), Nguyễn Lộc (1974, 1975), Phạm Trọng Toàn (2001, 2006), Phạm Thị Thiên Nga (2012), Dương Anh (2005), Trần Văn Thục (2009). Các công trình này xác lập các đặc điểm văn hóa dân gian: Hát Xoan gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thể thức 13 quả cách hoặc 14 quả cách, các giọng vặt, thang âm không bán âm, lề lối giữ cửa đình và quan hệ kết nước nghĩa.

Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và di sản hóa Hát Xoan: Tú Ngọc (1994) đề xuất bốn hướng bảo tồn gồm lễ hội hóa, phổ cập hóa, khuyến khích sáng tác mới và hội nhập du lịch; Cao Khắc Thùy (2011) và Cao Hồng Phương (2011) nhấn mạnh khôi phục phường Xoan và tăng cường vai trò quản lý nhà nước; Nguyễn Thị Phương Châm (2017) cùng nhóm nghiên cứu Hoàng Cầm, Nguyễn Thị Hiền (2018) chỉ ra nguy cơ khi bảo tồn trên diện rộng dẫn tới "Xoan hóa" toàn tỉnh, làm mất cân đối với các loại hình dân ca khác và làm biến dạng tính tự nguyện của nghệ nhân.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: nghiên cứu một cách hệ thống toàn bộ tiến trình di sản hóa Hát Xoan từ khâu chuẩn bị hồ sơ đến giai đoạn hậu ghi danh; phân tích trực diện sự xung đột giữa thiết chế quản lý hành chính với quyền năng thực hành của nghệ nhân; nhận diện xu hướng phân hóa cấu trúc di sản và sự thích ứng của thực hành diễn xướng như một thực thể văn hóa sống trong bối cảnh đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận hành trên cơ sở hệ thống các khái niệm công cụ và khung lý thuyết chuyên ngành:

Khái niệm công cụ:

  • Di sản văn hóa: Sử dụng định nghĩa theo Công ước UNESCO 1972 và Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2009).
  • Di sản văn hóa phi vật thể: Căn cứ Điều 2 Công ước 2003 của UNESCO và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, nhấn mạnh yếu tố không ngừng được tái tạo và lưu truyền qua các thế hệ.
  • Di sản hóa: Dựa trên quan niệm của Robert Hewison (1987), Pierre Bourdieu (1982) và Oscar Salemink (2014), xác định di sản hóa là quá trình thể chế đưa một thực hành văn hóa trở thành di sản qua hai giai đoạn: lập hồ sơ khoa học và triển khai các biện pháp bảo vệ hậu ghi danh.
  • Cộng đồng: Tiếp cận theo khung định nghĩa của Keith W. Sproule, Ary S. Suhandi và Hội nghị quốc tế UNESCO năm 2002, chia thành cộng đồng văn hóa, cộng đồng bản địa và cộng đồng địa phương.

Khung lý thuyết tiếp cận:

  • Quan điểm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước 2003 của UNESCO: Nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ thiết chế, nhưng khẳng định cộng đồng mới là chủ thể sở hữu và đòi hỏi sự tham gia tối đa của cộng đồng vào mọi hoạt động bảo tồn (Điều 11 đến Điều 15).
  • Quan điểm Quản lý di sản bảo tồn - phát triển của G.J. Ashworth (1997), được bổ trợ bởi Laurajane Smith và Natsuko Akagawa (2008), Phạm Duy Đức (2010): Coi di sản là quá trình sáng tạo văn hóa trong thực tại; thước đo tính xác thực không nằm ở dạng thức bất biến của quá khứ mà dựa trên sự đồng thuận và trải nghiệm sống của cộng đồng.
  • Lý thuyết di sản hóa và tính chính trị của di sản của Oscar Salemink (2012, 2014): Phân tích hiện tượng nhà nước hóa di sản thành tài sản quốc gia, kéo theo sự can thiệp hành chính có nguy cơ làm xói mòn hoặc tước đoạt quyền tự quyết của người mang di sản.
  • Lý thuyết diễn xướng (performance) của Richard Bauman (1975): Khảo sát sự kiện nghệ thuật tổng thể bao gồm người biểu diễn, hình thức nghệ thuật, thính giả và bối cảnh cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu thực tế hoàn toàn theo hướng định tính, kết hợp liên ngành văn hóa học, dân tộc học và âm nhạc học:

  • Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Khảo cứu nguồn tư liệu lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, hồ sơ khoa học của UNESCO, kỷ yếu hội thảo và các văn bản chỉ đạo hành chính của địa phương.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học (trọng tâm là quan sát tham dự và phỏng vấn sâu): Tác giả tham dự các buổi diễn xướng tại đình miếu vào dịp hội xuân và lễ giỗ Tổ Hùng Vương; quan sát các lớp truyền dạy thường nhật, các hội thi, câu lạc bộ, lớp tập huấn công sở và trường học, các điểm diễn xướng du lịch. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu nghệ nhân tại 4 phường Xoan cổ, hội viên các câu lạc bộ, cán bộ quản lý văn hóa các cấp, cán bộ ngành giáo dục, giáo viên, học sinh, đạo diễn chương trình và cán bộ ký âm.
  • Tiếp cận nhạc học và dân tộc học âm nhạc: Phân tích thang âm, nhịp phách, giai điệu, kỹ thuật ký âm và các điệu múa nghi lễ.
  • Nguồn tư liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập qua điền dã (2016-2021), tư liệu phỏng vấn gỡ băng trực tiếp, dữ liệu trang tin địa phương. Luận án tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc đạo đức nghiên cứu thông qua việc ẩn danh toàn bộ tên thông tín viên.
Tiêu chí Dữ liệu ghi nhận trong văn bản luận án
Số lượng di sản toàn quốc (ghi nhận đến 2017) Gần 10.000 di tích cấp tỉnh/thành phố; 3.463 di tích quốc gia; 95 di tích quốc gia đặc biệt; 249 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 8 di sản thế giới; 14 di sản phi vật thể UNESCO (tính đến 2021)
Căn cứ địa bàn Hát Xoan (điều tra 2010) 30 cửa đình, đền tại Phú Thọ và Vĩnh Phúc; 4 làng có họ Xoan cổ (An Thái, Thét, Phù Đức, Kim Đái)
Bài bản Hát Xoan cổ lưu giữ 31 bài bản cổ; cấu trúc cuộc hát gồm 14 quả cách và các bài giọng vặt
Các mốc thời gian sưu tầm điền dã lịch sử Năm 1954; giai đoạn 1971-1973; năm 1978; giai đoạn 1998-2006
Mốc ghi danh của UNESCO 24/11/2011 (Bảo vệ khẩn cấp); 08/12/2017 (Đại diện nhân loại)
Thời gian khảo sát thực địa của tác giả Từ năm 2016 đến năm 2021

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về di sản hóa, tính chính trị của di sản và các chuyên khảo về nghệ thuật Hát Xoan. Luận án phân tích bối cảnh tự nhiên, lịch sử, văn hóa của vùng đất cổ Phong Châu - Phú Thọ, cái nôi của nền văn minh sông Hồng qua các di chỉ khảo cổ học Sơn Vi, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, nơi tập trung dày đặc các di tích thờ cúng thời Hùng Vương.

Về nguồn gốc và thể loại, Hát Xoan được xác định là dân ca nghi lễ phong tục gắn liền với truyền thuyết thời Hùng Vương; đồng thời qua ca từ của các bài Giáo pháo, Tứ mùa cách, Đóng đám, tác giả chỉ ra dấu ấn đậm nét của thời Hậu Lê (thế kỷ XV) với sự dung hợp Nho giáo vào văn hóa dân gian bản địa. Về mặt tổ chức xã hội, Hát Xoan tồn tại theo mô hình phường họ do ông Trùm đứng đầu, quản lý đào và kép; hoạt động mang tính thời vụ nông nhàn, tập luyện từ giữa tháng 11 đến hết tháng Chạp để phục vụ mùa hát từ mùng một Tết đến hết tháng Giêng. Lệ tục Hát Xoan mang tính cố kết cộng đồng cao, thể hiện qua tục giữ 14 cửa đình tại 18 xã thuộc Phú Thọ và Vĩnh Phúc, cùng tục "kết nước nghĩa" độc đáo giữa họ Xoan và dân làng sở tại (dân luôn ở vai anh, họ Xoan ở vai em, duy trì quan hệ vĩnh viễn và cấm kết hôn giữa hai bên).

Về cấu trúc diễn xướng nghệ thuật, cuộc Hát Xoan truyền thống diễn ra tuần tự qua năm chặng: Khai cuộc (hát Nhập tịch); Phần 1 (bốn giọng lề lối gồm Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Đóng đám); Phần 2 (14 quả cách: Kiều Dương, Nhàn ngâm, Tràng mai, Xoan thời, Hạ thời, Thu thời, Đông thời, Tứ mùa, Ngư tiều canh mục, Đối rẫy, Hồi liên, Tứ dân, Chơi dân...); Phần 3 (hát giọng nhà tơ); Phần 4 (các điệu hát hội, giao duyên như Bỏ bộ, Chơi bợm, Đúm, Xin huê Đố chữ, Cài huê - Mó cá); Phần 5 (hát Chào giã kết thúc hội).

Chương 2: Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ

Chương 2 phân tích bối cảnh đổi mới kinh tế, chính trị, văn hóa tại Việt Nam đã thúc đẩy sự bùng nổ các danh hiệu di sản văn hóa nhằm xây dựng bản sắc và phát triển kinh tế du lịch. Tác giả tái hiện tiến trình Hát Xoan được lựa chọn để lập hồ sơ đệ trình UNESCO, bắt đầu từ các cứ liệu điền dã lịch sử năm 1954 của các đoàn văn công, các đợt sưu tầm của Nguyễn Khắc Xương (1971-1978), đến giai đoạn phục hồi các câu lạc bộ (1998-2006).

Luận án làm rõ quá trình xây dựng hồ sơ khoa học năm 2010 với số liệu điều tra tại 30 cửa đình, đền và chuẩn hóa 31 bài bản. Quá trình di sản hóa trong giai đoạn ghi danh bộc lộ sự mở rộng quyền sở hữu: di sản vốn thuộc về cộng đồng 4 làng Xoan cổ dần chuyển dịch thành tài sản văn hóa thuộc quyền quản lý của nhà nước và các chuyên gia. Để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, quá trình lập hồ sơ buộc phải lựa chọn, định hình các yếu tố được xem là "có tính truyền thống và có tính xác thực", tạo nên sự can thiệp bước đầu vào cách hiểu và cách thức diễn xướng nguyên bản của cộng đồng.

Chương 3: Diện mạo Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản

Chương 3 tập trung khảo tả bức tranh thực hành Hát Xoan trên địa bàn tỉnh Phú Thọ sau các mốc ghi danh năm 2011 và 2017. Về công tác tư liệu, các cơ quan chức năng đẩy mạnh kiểm kê, sưu tầm và ký âm bài bản Xoan cổ; song hành cùng hiện tượng người dân và nghệ nhân tự đặt lời mới trên các điệu Xoan cổ để phản ánh các chủ đề thời sự như bầu cử, phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Về không gian thực hành và truyền dạy, Hát Xoan chứng kiến sự mở rộng chưa từng có: không chỉ diễn ra tại 4 làng Xoan cổ mà phát triển mạnh mẽ tại hệ thống câu lạc bộ Hát Xoan và Dân ca Phú Thọ, đưa vào giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông (từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông) và tổ chức các lớp tập huấn bắt buộc cho cán bộ công sở.

Về trình diễn, Hát Xoan bước ra khỏi không gian đình miếu truyền thống để xuất hiện trên các sân khấu văn nghệ quần chúng, các sự kiện chính trị của tỉnh và tham gia sâu rộng vào hoạt động quảng bá du lịch tại các điểm di tích lịch sử (đình Hùng Lô, miếu Lãi Lèn), biến di sản thành sản phẩm phục vụ du khách thập phương.

Chương 4: Di sản hóa Hát Xoan: những vấn đề bàn luận

Chương 4 dành trọn vẹn cho việc phân tích, thảo luận lý luận về các hệ quả của quá trình di sản hóa. Tác giả chỉ ra nguy cơ nhất thể hóa bài bản Hát Xoan khi cơ quan quản lý áp đặt duy nhất khung 31 bài bản chuẩn hóa, triệt tiêu các biến thể và tính ngẫu hứng vốn có trong truyền khẩu dân gian. Xu hướng bảo tồn bảo tàng hóa khiến di sản bị đóng băng trong các quy định hành chính về trang phục, động tác biểu diễn, làm suy giảm vai trò tự quyết của cộng đồng chủ thể.

Bên cạnh đó, việc phổ quát hóa Hát Xoan trên phạm vi toàn tỉnh dẫn đến hiện tượng "Xoan hóa" gượng ép, gây phản cảm ở những địa phương không có gốc tích Xoan và làm lu mờ các loại hình dân ca bản địa khác. Quá trình định giá di sản dẫn đến sự can thiệp sâu sắc của nhà nước qua việc trả thù lao giảng dạy, cấp kinh phí hành chính, phong tặng danh hiệu nghệ nhân theo tiêu chí bàn giấy. Luận án đúc kết sự phân hóa rõ rệt của Hát Xoan thành hai tiểu loại: "Xoan tín ngưỡng" và "Xoan văn nghệ", qua đó yêu cầu tôn trọng đời sống riêng của di sản như một thực thể sống tự nhiên.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án khẳng định Hát Xoan là một thực hành văn hóa được kiến tạo trong lịch sử và tiếp tục được tái kiến tạo trong hiện tại nhằm thích ứng với các biến chuyển chính trị, kinh tế, xã hội. Công trình chứng minh tính xác thực của di sản phi vật thể không phải là một thuộc tính tĩnh tại, bất biến mà là một tiến trình vận động gắn liền với cảm nhận và nhu cầu của cộng đồng thực hành. Luận án đóng góp vào hệ thống lý thuyết văn hóa học cách tiếp cận "di sản văn hóa sống", phê phán xu hướng can thiệp hành chính làm xơ cứng di sản.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:

  • Phát hiện và xác lập sự tồn tại của hai tiểu loại thực hành sau ghi danh: "Xoan tín ngưỡng" (gắn với không gian thiêng đình miếu, phục vụ nhu cầu tâm linh nội bộ cộng đồng làng) và "Xoan văn nghệ" (phục vụ biểu diễn sân khấu, quảng bá du lịch, thi thố và giáo dục đại trà ngoài cộng đồng gốc).
  • Chỉ ra các hệ lụy thực tế của công tác quản lý: nguy cơ nhất thể hóa làm nghèo nàn vốn bài bản cổ, hiện tượng bảo tàng hóa tước đoạt quyền sáng tạo tự nhiên của nghệ nhân, sự bất cập trong quy chuẩn trang phục và phong tặng nghệ nhân.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách văn hóa điều chỉnh phương thức bảo tồn di sản, trả lại vai trò trung tâm cho cộng đồng chủ thể theo đúng tinh thần Công ước 2003 của UNESCO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Địa bàn khảo sát điền dã thực tế tập trung chủ yếu tại tỉnh Phú Thọ (trọng tâm là thành phố Việt Trì và huyện Tam Nông), chưa thể bao quát khảo sát sâu toàn bộ 14 cửa đình kết nghĩa nằm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Khung thời gian khảo sát thực địa khép lại vào năm 2021, chưa phản ánh được toàn diện các biến động văn hóa mới phát sinh sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch Covid-19.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát điền dã so sánh thực hành Hát Xoan tại các làng kết nước nghĩa thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Nghiên cứu dài hạn về sự biến đổi kinh tế - xã hội của cộng đồng nghệ nhân khi Hát Xoan tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa và du lịch di sản.
  • Đào sâu phân tích âm nhạc học so sánh giữa Hát Xoan với các thể loại dân ca nghi lễ lân cận như Ca trù, hát Dậm, hát Chèo tàu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học âm nhạc và Quản lý văn hóa.
  • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trong việc xây dựng bài giảng về di sản học và chính sách văn hóa.
  • Cán bộ quản lý di sản tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa trong việc xây dựng hồ sơ, hoạch định chính sách bảo tồn di sản phi vật thể.

Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 và Chương 4, nơi cung cấp nguồn tư liệu điền dã sống động về xung đột văn hóa giữa nghệ nhân và cơ quan quản lý, cùng hệ thống luận giải sâu sắc về tính chính trị của di sản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bốn họ Xoan cổ (vùng Xoan gốc) được xác định trong luận án gồm những làng nào? Bốn làng Xoan cổ nằm tại vùng sơn phận núi Hùng, trước Cách mạng tháng Tám thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh, nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, gồm: An Thái, Thét, Phù Đức và Kim Đái.

  2. Cấu trúc một cuộc Hát Xoan truyền thống gồm những chặng nào? Cuộc Hát Xoan đầy đủ tuần tự diễn ra qua 5 phần: Khai cuộc (hát Nhập tịch); Phần 1 (bốn giọng lề lối: Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang, Đóng đám); Phần 2 (14 quả cách); Phần 3 (hát giọng nhà tơ); Phần 4 (các bài hát hội giao duyên: Bỏ bộ, Chơi bợm/Bợm gái, Đúm, Xin huê Đố chữ, Cài huê - Mó cá); Phần 5 (hát Chào giã kết thúc hội).

  3. Hát Xoan được UNESCO ghi danh vào những mốc thời gian nào? Hát Xoan Phú Thọ được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 24/11/2011; sau đó được đưa ra khỏi danh sách bảo vệ khẩn cấp và ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 08/12/2017.

  4. Mối quan hệ "kết nước nghĩa" trong Hát Xoan có quy định gì đặc biệt? Nước nghĩa là quan hệ kết nghĩa giữa họ Xoan với dân làng sở tại nơi Xoan giữ cửa đình (không phải kết nghĩa giữa hai làng). Trong quan hệ này, dân làng luôn ở vai anh, họ Xoan ở vai em mãi mãi không đổi. Người hai bên dân và họ Xoan tuyệt đối bị cấm kết hôn với nhau.

  5. Vì sao luận án nhận định Hát Xoan hậu ghi danh phân hóa thành hai tiểu loại? Do sự tác động của di sản hóa, Hát Xoan bị tách khỏi môi trường nghi lễ duy nhất. Thực hành phân hóa thành "Xoan tín ngưỡng" phục vụ thờ cúng tâm linh tại đình miếu làng và "Xoan văn nghệ" phục vụ trình diễn sân khấu, tuyên truyền, giáo dục học đường và du lịch thương mại, mỗi loại có quy tắc biểu đạt và không gian hoàn toàn riêng biệt.

Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Thị Nhung là một công trình nghiên cứu hệ thống về sự biến đổi của Hát Xoan Phú Thọ dưới góc nhìn lý thuyết di sản hóa. Tác giả đã phân tích toàn diện tiến trình chuyển dịch của di sản từ không gian nghi lễ cổ truyền sang đời sống xã hội đương đại, vạch rõ những mặt trái của việc hành chính hóa và nhất thể hóa di sản. Luận án khẳng định giá trị bền vững của cách tiếp cận "di sản văn hóa sống", đòi hỏi các chính sách bảo tồn phải tôn trọng quyền tự quyết và không gian sáng tạo của cộng đồng chủ thể.