Luận Án Tiến Sĩ Về Hát Xoan Phú Thọ Trong Bối Cảnh Di Sản Hóa Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hát xoan phú thọ trong bối cảnh di sản hóa ở việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

293
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hát Xoan Phú Thọ Di sản văn hóa Việt Nam

Hát Xoan là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người dân Phú Thọ, gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Di sản này không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn thể hiện tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây. Hát Xoan đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại, Hát Xoan đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ việc bảo tồn đến việc phát huy giá trị di sản.

1.1. Hát Xoan Nguồn gốc và lịch sử phát triển

Hát Xoan có nguồn gốc từ các phường Xoan cổ tại Phú Thọ, nơi mà các nghệ nhân đã gìn giữ và phát triển nghệ thuật này qua nhiều thế hệ. Lịch sử của Hát Xoan gắn liền với các lễ hội truyền thống, đặc biệt là lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, nơi mà các bài hát được trình diễn để tưởng nhớ các vua Hùng.

1.2. Giá trị văn hóa của Hát Xoan trong đời sống hiện đại

Hát Xoan không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Phú Thọ. Nó thể hiện sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa các thế hệ, đồng thời góp phần vào việc xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

II. Những thách thức trong việc bảo tồn Hát Xoan Phú Thọ

Mặc dù Hát Xoan đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể, nhưng việc bảo tồn và phát huy giá trị của nó đang gặp nhiều khó khăn. Các nghệ nhân phải đối mặt với áp lực từ việc duy trì các bài bản cổ truyền trong khi vẫn phải thích ứng với nhu cầu và thị hiếu hiện đại. Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn lực và sự quan tâm từ cộng đồng cũng là một trong những thách thức lớn.

2.1. Nguy cơ mất mát di sản văn hóa

Sự biến đổi của xã hội hiện đại đã dẫn đến nguy cơ mất mát các giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều nghệ nhân không còn đủ sức khỏe để tiếp tục truyền dạy Hát Xoan, trong khi thế hệ trẻ lại ít quan tâm đến việc học hỏi và gìn giữ di sản này.

2.2. Sự nhất thể hóa và bảo tàng hóa di sản

Việc Hát Xoan trở thành một sản phẩm du lịch đã dẫn đến sự nhất thể hóa trong cách thức thực hành. Điều này có thể làm mất đi tính nguyên bản và giá trị văn hóa của Hát Xoan, khi mà các bài bản và phong cách trình diễn bị điều chỉnh để phù hợp với thị hiếu của du khách.

III. Phương pháp bảo tồn và phát huy Hát Xoan hiệu quả

Để bảo tồn và phát huy Hát Xoan, cần có những phương pháp hiệu quả và bền vững. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong các hoạt động văn hóa là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục, truyền dạy Hát Xoan tại trường học và cộng đồng cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức và sự quan tâm của thế hệ trẻ.

3.1. Tăng cường giáo dục và truyền dạy Hát Xoan

Các trường học và cộng đồng cần tổ chức các lớp học về Hát Xoan, giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa của di sản này. Việc mời các nghệ nhân tham gia giảng dạy sẽ giúp truyền tải kiến thức và kỹ năng một cách chân thực nhất.

3.2. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động bảo tồn Hát Xoan. Việc tổ chức các lễ hội, sự kiện văn hóa có sự tham gia của người dân sẽ tạo ra không khí sôi nổi và gắn kết, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ di sản.

IV. Ứng dụng Hát Xoan trong phát triển du lịch văn hóa

Hát Xoan có thể trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn, thu hút du khách đến với Phú Thọ. Việc kết hợp giữa Hát Xoan và các hoạt động du lịch khác sẽ tạo ra những trải nghiệm độc đáo cho du khách, đồng thời góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

4.1. Tổ chức các tour du lịch văn hóa

Các tour du lịch văn hóa có thể bao gồm các hoạt động trải nghiệm Hát Xoan, giúp du khách hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử của di sản này. Việc kết hợp với các hoạt động khác như tham quan di tích lịch sử sẽ tạo ra một hành trình phong phú.

4.2. Quảng bá Hát Xoan qua các phương tiện truyền thông

Sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để quảng bá Hát Xoan sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng và du khách. Các video, bài viết về Hát Xoan có thể được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của nhiều người.

V. Kết luận Tương lai của Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh hiện đại

Hát Xoan Phú Thọ là một di sản văn hóa quý giá, cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện đại. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cùng với sự tham gia của cộng đồng sẽ là chìa khóa để Hát Xoan tiếp tục sống mãi trong lòng người dân và du khách. Tương lai của Hát Xoan phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của tất cả chúng ta.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Việc gìn giữ Hát Xoan sẽ góp phần vào việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

5.2. Hướng đi cho Hát Xoan trong tương lai

Hát Xoan cần được phát triển theo hướng bền vững, kết hợp giữa bảo tồn và phát huy giá trị. Các chính sách hỗ trợ từ nhà nước và sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của Hát Xoan trong tương lai.

19/07/2025
Luận án tiến sĩ hát xoan phú thọ trong bối cảnh di sản hóa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lý luận và Đối tượng nghiên cứu Chương 2 - Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ Chương 3 - Diện mạo của Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản Chương 4 – Di sản hoá Hát Xoan: những vấn đề bàn luận 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về di sản hóa và tính chính trị của di sản Tính đến năm 2021, Việt Nam có 14 DSVHPVT được UNESCO ghi danh, gồm: Nhã nhạc cung đình Triều Nguyễn, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc, Hát Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca Ví, Giặm ở Nghệ Tĩnh, Nghi lễ và trò chơi Kéo co, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Nghệ thuật Bài Chòi ở Trung Bộ, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái, Nghệ thuật Xòe Thái. Ngoài các DSVHPVT kể trên, trên đất nước Việt Nam còn hiện hữu nhiều loại hình di sản phi vật thể như âm nhạc, múa, tín ngưỡng, lễ hội,.

của người Kinh và các dân tộc thiểu số khác. Những di sản này có lịch sử tồn tại gắn liền với đời sống văn hóa, xã hội của các cộng đồng, tộc người ở Việt Nam, cả trong quá khứ và trong hiện tại. Nghiên cứu về di sản văn hóa, trong đó có DSVHPVT, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý trong các lĩnh vực như văn hóa học, dân tộc học, nhân học, quản lý văn hóa, bảo tàng,. Tùy vào mục đích nghiên cứu, những chuyên gia có cách tiếp cận DSVHPVT khác nhau.

Một cách khái quát, có thể thấy các nghiên cứu về di sản thường tập trung vào một số vấn đề như: quan điểm về di sản và vai trò của di sản; công tác sưu tầm, kiểm kê, tư liệu hóa DSVHPVT; quá trình bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị DSVHPVT trong xã hội. Các tác giả đã khẳng định về tầm quan trọng của di sản trong đời sống văn hóa cộng đồng, trong việc xác định bản sắc quốc gia, dân tộc (Hoàng Vinh 2006, Đặng Văn Bài 2007, Cao Tự Thanh 2013). Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, 10 để DSVHPVT tồn tại và phát huy được những giá trị vốn có trong xã hội hiện nay, ngoài nhiệm vụ điền dã để sưu tầm, kiểm kê và tư liệu hóa, cần phải tôn trọng và khuyến khích cộng đồng chủ thể di sản để họ lưu giữ, trao truyền các loại hình DSVHPVT cho các thế hệ kế cận (Trần Văn Khê 2002, Đặng Văn Bài 2007, Tô Ngọc Thanh 2007, Nguyễn Xuân Kính 2009, Ngô Đức Thịnh 2010, Bùi Hoài Sơn 2010, Lê Thị Minh Lý 2013, Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014). Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn vai trò của các cơ quan, tổ chức, nhà nước với cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị của DSVHPVT của Việt Nam hiện nay.

Trong nghiên cứu về di sản, nổi bật là quan điểm lý thuyết về di sản hóa. Theo Salemink (2014), di sản hóa (heritagization) là khái niệm được Robert Hewison đưa ra năm 1987 trong “Công nghiệp di sản: Vương quốc Anh trong sự đi xuống” (The Heritage Industry: Britain in a Climate of Decline) và có một quá trình biến chuyển hàm nghĩa từ đó tới khoảng những năm 2009, 2010. Từ một khái niệm vốn chỉ dùng để nói về những biến đổi trong các địa điểm di sản, di sản hóa được Regina Bendix trong Di sản giữa kinh tế và chính trị: Đánh giá từ quan điểm nhân học văn hóa (Heritage between economy and politics: An assessment from the perspective of cultural anthropology) (2009) sử dụng với những hàm nghĩa mới. Theo đó, quá trình bảo tồn một cách có ý thức các di sản cho hiện tại và cho các thế hệ tương lai là quá trình "nhất thiết phải mang tính chọn lọc, do không phải mọi ký ức văn hóa đều được coi là di sản" (dẫn theo Salemink 2014: 489).

Bendix đã chỉ ra một số sự biến đổi do sự phong thánh một số địa điểm và thực hành nhất định là di sản đem lại: sự viện dẫn truyền thống và tính chân thực; sự hiện hình bản chất và nuôi dưỡng vốn biểu tượng; sự tranh cãi về những giá trị di sản; công việc mang tính biểu tượng về marketing. Đến Rosmary Coombe và Joseph Turcotte (2012) trong “Di sản văn hóa của người bản địa trong sự phát triển và thương mại: Quan điểm từ động năng Luật và chính sách di sản văn hóa” [Indigenous Cultural Heritage in Development and Trade: Perspectives from the Dynamics of Cultural 11 Heritage Law and Policy], vấn đề di sản hóa được nhận định: "Có thể cho rằng, sự nhấn mạnh mới lên việc kiểm kê DSVHPVT, cụ thể hóa chúng, gắn cho chúng những người bảo vệ phù hợp, và đầu tư xây dựng năng lực để phát triển các chuyên gia địa phương, tạo nên một chế độ quyền lực mới và chế độ này vừa hứa hẹn vừa gây nguy hiểm đến các cộng đồng địa phương và người bản xứ được coi là có một nền văn hóa riêng biệt mà những chế độ mới này tìm kiếm để đánh giá" (Coombe and Turcotte 2021: 31-32, dẫn theo Salemink 2014: 491). Nói theo cách của Salemink, do vướng vào những hệ thống đánh giá khác nhau (bởi người thực hành, bởi các chuyên gia văn hóa, bởi cán bộ nhà nước, bởi thị trường), ở những cấp độ khác nhau (địa phương, quốc gia, liên quốc gia và quốc tế), việc công nhận DSVHPVT có thể là một may mắn không trọn vẹn với những cộng đồng là người mang - nhưng có lẽ không còn là người sở hữu, khi thực hành văn hóa trở thành di sản (Salemink 2014: 491). Trong các nghiên cứu về di sản ở Việt Nam, từ khoảng năm 2010, các nhà nghiên cứu bắt đầu nói tới vấn đề di sản hóa.

Người đề cập trực tiếp và bàn luận nhiều nhất về vấn đề di sản hóa các loại hình DSVHPVT ở Việt Nam là Oscar Salemink. Trong bài viết “Di sản hóa văn hóa sống ở Việt Nam như DSVHPVT” in trong Hội thảo 10 năm thực hiện công ước bảo vệ DSVHPVT của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai, Salemink đã giới thiệu về khái niệm “di sản hóa” (heritagization) thông qua việc điểm lại quá trình thuật ngữ này xuất hiện và những hàm nghĩa của di sản hóa. Từ bối cảnh cụ thể ở Việt Nam, nhà nghiên cứu phát triển cách hiểu về khái niệm di sản hóa, "Di sản hóa - được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, cụ thể là gắn cho các di tích và thực hành văn hóa danh hiệu di sản" (tr. Quá trình này có khả năng đưa đến sự xói mòn các quyền của cộng đồng sở hữu di sản, cao hơn là sự tước mất quyền của các cộng đồng địa phương, "công cụ hóa các thực hành văn hóa bởi vì nó thường phù hợp với mối quan tâm của những người bên ngoài - các cá nhân và chuyên gia văn hóa, chính quyền địa phương, chính phủ quốc gia (tr.

Salemink đã bàn luận về vấn đề di sản hóa 12 một số loại hình DSVHPVT đại diện nhân loại của Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Hát Xoan Phú Thọ, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù. Theo tác giả, quá trình tuyên bố và công nhận di sản ở Việt Nam là quá trình chính trị hóa di sản ở các cấp, với những sự trùng lặp và tương tác. Ngoài ra, nhà nước còn phải chịu những trách nhiệm liên quan đến việc quản lý, bảo vệ hoặc giữ gìn di sản. Như vậy, di sản của cộng đồng khi được UNESCO công nhận sẽ trở thành “tài sản quốc gia” (Salemink 2015: 485).

Và khi trở thành tài sản quốc gia, nhà nước sẽ có những chính sách quản lý, bảo tồn di sản như sân khấu hóa, giảng dạy các di sản như Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Quan họ Bắc Ninh, Hát Xoan Phú Thọ trong trường học hoặc thế tục hóa lễ hội. Những việc làm trên thường hướng đến những người bên ngoài chứ không phải là chủ thể di sản, trong khi cộng đồng, chủ thể di sản mới đóng vai trò quyết định sự tồn tại của di sản. Nhấn mạnh thêm về tính chính trị của DSVHPVT ở Việt Nam, trong bài viết “Appropriating Culture: The politics of intangible cultural heritage in Vietnam - Chiếm đoạt để sở hữu văn hóa: Chính trị về DSVHPVT ở Việt Nam”, Oscar Salemink (2012) đã phân tích sự cạnh tranh mang tính địa phương, ở cấp quốc gia và toàn cầu để đạt được sự công nhận mang tính quốc gia và của tổ chức UNESCO. Sự công nhận dù mang tính quốc gia hay toàn cầu thì nhà nước cũng can thiệp trong việc quản lý, bảo vệ và giữ gìn di sản, sự can thiệp đó là một sự “chiếm đoạt” DSVHPVT từ chủ thể di sản - những người đã sáng tạo, gìn giữ và có các quyền lợi về di sản - ra khỏi những thực hành văn hóa của họ.

Sự can thiệp này mang tính hai mặt, nếu việc tổ chức, quản lý, bảo quản cũng như chia lợi ích hợp lý thì sẽ mang lại kết quả tốt; ngược lại, nó cũng có thể đẩy chính những người dân ra ngoài lề, mất độc quyền thực hành văn hóa của chính họ. Đề cập đến di sản hóa các loại hình DSVHPVT, trong chuyên khảo “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa: nghiên cứu trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hội Gióng (Hà Nội), Tháp bà Poh 13 Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đồng)”, tác giả Lê Hồng Lý và các cộng sự (2012) cho rằng, quan điểm bảo tồn có chọn lọc, xếp hạng các di sản, quản lý, sân khấu hóa, sáng tạo truyền thống trong công tác bảo tồn và phát huy di sản của các tác nhân bên ngoài chính là quá trình di sản hóa. Quá trình này có thể làm suy giảm quyền quản lý, tổ chức, sáng tạo, hưởng lợi của cộng đồng chủ thể di sản, thậm chí còn "ngoài lề hóa" cộng đồng chủ, tước đoạt các quyền của chủ nhân văn hóa đối với di sản. Quá trình này hình thành nên tâm lý trông chờ, ỷ lại, thờ ơ với chính di sản văn hóa vốn thuộc về cộng đồng, bởi sau khi được tôn vinh, những di sản này đã trở thành “tài sản của quốc gia” chứ không còn thuộc về người dân như trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hát Xoan Phú Thọ: Di Sản Văn Hóa Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Đại" khám phá giá trị văn hóa và nghệ thuật của Hát Xoan, một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của Hát Xoan trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời phân tích những thách thức mà nghệ thuật này đang phải đối mặt trong bối cảnh hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về Hát Xoan, từ việc nâng cao nhận thức về di sản văn hóa đến việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật này.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh văn hóa và xã hội liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ tục ngữ ca dao truyền thống qua một số tác giả văn xuôi việt nam đương đại, nơi phân tích ảnh hưởng của văn hóa đến xã hội Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận văn cận đại hóa văn hóa trung quốc giai đoạn từ chiến tranh nha phiến năm 1840 đến ngũ tứ vận động năm 1919 cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển văn hóa trong bối cảnh lịch sử. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa và di sản trong khu vực.