Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về vịnh Hạ Long và cộng đồng ngư dân ở vịnh Hạ Long 1. Khái quát về vịnh Hạ Long Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ; đồng thời, là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí. Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng.
Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa - lịch sử hào hùng của dân tộc. Là vùng biển đảo nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc tỉnh Quảng Ninh, vịnh Hạ Long có diện tích 1.223km², bao gồm 1. Phía Bắc và Tây Bắc vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần biển đảo huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp bờ Tây vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng). Vịnh Hạ Long có dạng địa hình đảo đất, đảo đá vôi xen lẫn với các trũng biển, các vùng bãi triều có sú vẹt mọc.
Các đảo trên vịnh Hạ Long có độ cao trung bình từ 50m đến 200m. Vịnh Hạ Long nổi bật với hệ thống đảo đá và hang động tuyệt đẹp. Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển.
Quá trình Carxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới. Đáy biển vịnh Hạ Long tương đối bằng phẳng, phần lớn là bùn, đôi chỗ là vỏ nhuyễn thể pha cát, có độ sâu trung bình từ 5m đến 10m, chỗ sâu nhất từ 20m đến 25m là các cửa biển hoặc luồng lạch. 8 Khí hậu Hạ Long mang tính nhiệt đới ẩm, bị phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều kéo dài, mùa đông lạnh, khô. Tuy nhiên, do tính chất biển nên khí hậu luôn được điều hòa, nhiệt độ trung bình năm từ 15ºC đến 25ºC.
Về thủy văn, vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều điển hình thuần nhất, với biên độ triều vào loại lớn nhất nước ta từ 0,1 đến 4,6m. Độ mặn của nước biển từ 31 đến 34,5%, dao động của độ mặn giữa các tháng trong mùa không lớn. Hàng trăm đảo đá, mỗi đảo mang một hình dáng khác nhau hết sức sinh động: hòn Đầu Người, hòn Rồng, hòn Lã Vọng, hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn Lư Hương… Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp gắn với nhiều truyền thuyết thần kỳ như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao”.
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m. Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Trong đó có thể kể tên một số hòn đảo nổi tiếng như: Hòn Con Cóc, Hòn Gà Chọi, Đảo Ngọc Vừng, Đảo Ti Tốp, Đảo Tuần Châu.
Ngoài ra, thiên nhiên cũng ban tặng cho vịnh Hạ Long rất nhiều hang động tuyệt đẹp với bề dày kiến tạo từ 2 triệu năm đến 11 ngàn năm như: hang Sửng Sốt, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ… Vịnh Hạ Long đã được xếp hạng di tích danh thắng quốc gia năm 1962, hai lần được Unesco công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (lần thứ nhất năm 1994; lần thứ 2 năm 2000). Khu vực được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới rộng 434km² gồm 775 hòn đảo, giới hạn bởi ba điểm: đảo Đầu Gỗ phía Tây, đảo Công Tây phía Đông và đảo Đầu Bê phía Nam. Năm 2009, vịnh Hạ Long được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quyết định xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Vịnh Hạ Long không chỉ là một tác phẩm điêu khắc hùng vĩ, một trang sử của thiên nhiên ban tặng cho con người, mà trong đó còn chứa nhiều giá trị, tiềm năng lớn 9 về lịch sử văn hóa, đa dạng sinh học, du lịch, giao thông cảng biển, thủy hải sản.
Trong đó, văn hóa của cộng đồng ngư dân sinh sống trên vịnh là một nét đẹp truyền thống mang những đặc trưng tiêu biểu của con người nơi đây, tạo nên bản chất con người Hạ Long với một bản sắc riêng biệt. Lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long Địa chí Quảng Ninh có viết: “Vào thời tiền sử (cách nay khoảng 18.000 năm), khi Hạ Long còn là môi trường lục địa, ở đây đã có bộ phận cư dân cổ thuộc nền văn hóa Soi Nhụ cư trú, sinh sống trong các hang động trên núi đá vôi (nay là các đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), với phương thức sinh sống chính là săn bắn và hái lượm” [34; tr. Bước sang giai đoạn văn hóa Cái Bèo (cách ngày nay từ 7.000 năm), khi mực nước biển dâng cao, con người tiền sử đã phải di dời đến khu vực cao hơn và bắt đầu thích nghi với môi trường biển, mặc dầu còn ở hình thức sơ khai. Tiếp đến giai đoạn văn hóa Hạ Long (cách ngày nay từ 5.500 năm) phương thức sinh sống chủ yếu của cư dân Hạ Long là khai thác nguồn hải sản ven bờ theo phương thức đánh bắt truyền thống, kết hợp săn bắt, hái lượm tự nhiên trên các đảo, núi đá.
Họ lợi dụng các dòng sông, luồng lạch và con nước đầu nguồn để thu lượm hải sản; cư dân nơi đây đã biết chế tác các công cụ đá mang đặc trưng nổi tiếng của nền văn hóa Hạ Long như: rìu, bôn có vai, có nấc độc đáo để nâng cao năng suất trong việc kiếm sống. Ngoài ra, họ còn biết chế tạo đồ gốm mang tính chất biển rõ nét với nguyên liệu được pha trộn vỏ nhuyễn thể để phục vụ đời sống sinh hoạt. Các di vật: xương cá, chì lưới được tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ cũng đã chứng minh rằng cư dân nơi đây còn biết tới nghề trồng trọt, trồng cây lấy sợi để se sợi đan lưới hoặc dây dâu để bắt cá. Mặt khác, khi nước biển dâng cao, cả khu vực trở thành biển đảo thì con người đã biết dùng các bộ công cụ bằng đá độc đáo để chế tạo ra những phương tiện đi biển để có thể di chuyển phù hợp với môi trường cư trú của mình.
Đầu thế kỉ XIX, cộng đồng ngư dân vạn chài ở vùng Cửa Lục tập trung chủ yếu tại hai làng thủy cư là Giang Võng (thuộc tổng An Khoái, huyện Hoành Bồ, phủ Hải 10 Đông, trấn An Quảng, nay thuộc phường Hà Khánh, TP. Hạ Long) và Trúc Võng (thuộc tổng Vạn Yên, huyện Hoành Bồ nay thuộc phường Bãi Cháy, TP. Từ năm 1946, phần lớn người dân ở hai làng Giang Võng và Trúc Võng đã di chuyển ra vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long (nay thuộc huyện Vân Đồn, Quảng Ninh) để cư trú và sinh sống. Năm 1948, huyện đảo Cẩm Phả được thành lập (tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả).
Cũng thời gian này, các xã Thắng Lợi (thuộc huyện Cẩm Phả, nay thuộc huyện Vân Đồn), Thành Công (thuộc huyện Hoành Bồ nay thuộc phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long) và Hùng Thắng (thuộc thành phố Hạ Long) ra đời, là nơi tập trung dân chài phiêu bạt từ nhiều nơi đến cư trú. Sau khi hòa bình lập lại, năm 1955, phần lớn ngư dân làng chài ở các xã Thành Công, Hùng Thắng trở về vùng vịnh Hạ Long sinh sống. Chính quyền địa phương đã lập ra các hợp tác xã để tập hợp dân chài, nhằm tập trung sản xuất, nâng cao đời sống và đảm bảo an ninh quốc phòng. Năm 1959 - 1960, trong cao trào hợp tác hóa để nâng cao tổ chức sản xuất và đời sống văn hóa xã hội, các làng chài được vận động lên định cư trên đất liền.
Thời gian đầu ở bãi biển Khe Cá thuộc thị trấn Hà Tu, về sau tập trung tại bãi biển Cọc 5. Sau đó tiếp tục chuyển về xã Hùng Thắng, lập thành hai hợp tác xã Quyết Thắng và Chiến Thắng. Trong thời gian vào hợp tác xã, họ làm nhà trên bờ nhưng vẫn thường xuyên xuống thuyền sinh sống. Khi hợp tác xã giải tán, họ chuyển xuống thuyền sống thủy cư.
Năm 1963, xã Hùng Thắng có các thôn Cửa Vạn, Cặp Dè, Cặp La ở giữa vịnh Hạ Long và các thôn Lán Bè, Cọc Năm ở sát ven bờ. Đối với các làng chài sống thủy cư trên mặt biển, chủ yếu là cư dân của xã Hùng Thắng. Ngoài ra còn có các hộ gia đình là cư dân các vùng khác đến đây sinh sống và làm ăn dựa vào sự phong phú của nguồn lợi thủy hải sản. Những hộ cư dân nơi đây tập trung chủ yếu ở bãi biển Cọc 5 và thôn Vông Viêng.
Ở xã Hùng Thắng (nay là phường Hùng Thắng) ngoài dân gốc chủ yếu là dân làng Giang Võng, Trúc Võng xưa, còn có dân ở các vùng khác trong tỉnh và ngoài tỉnh đến sinh cơ lập nghiệp như: Hà Nam, Thái Bình, Thanh Hóa,. 11 “Hiện nay, trên vịnh Hạ Long có sáu làng chài thủy cư (đều thuộc phường Hùng Thắng) gồm: Cửa Vạn, Vông Viêng (Vung Viêng), Cống Tàu, Ba Hang, Hoa Cương và Cống Đầm. Trong đó, Cửa Vạn là làng chài lớn nhất” [5; tr. Khái niệm ca dao, dân ca và khái quát chung về ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long 1.