Mở đầu nghiên cứu ngôn ngữ còn thiếu sót nhưng nó đã được cải thiện. 9 Ngữ pháp cổ điển, ngữ pháp cấu trúc luận và ngữ pháp sản sinh khi khảo sát ngôn ngữ đều chú trọng vào phần hình thức nhưng chưa chú ý hơn về hoạt động của nó trong giao tiếp. Ngữ pháp chức năng nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng nên có thể vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu nhan đề. Ngữ pháp sản sinh đã khắc phục tình trạng coi nhẹ cú pháp và quan niệm tĩnh đối với cấu trúc câu, những vẫn chưa có cách nhìn phù hợp với bản chất ngôn ngữ với tính cách và công cụ giao tiếp.
Nó tập trung chú ý vào mặt hình thức, vào tính ngữ pháp độc lập với nghĩa và đối với công dụng của câu trong giao tiếp. Ngôn ngữ đối với nó là một đối tượng trừu tượng – nó tập hợp những câu được sản sinh theo những quy tắc hình thức có phần võ đoán. Mặt nghĩa chỉ được nghiên cứu sau khi xác định một hệ thống chi phối việc sản sinh ra cấu trúc cú pháp, còn dụng pháp chỉ xác định ý nghĩa mà các cấu trúc cú pháp có thể có được. Ngữ pháp chức năng là một lí thuyết và là một hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người.
Ngữ pháp chức năng được nghiên cứu để miêu tả, giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ với chức năng. Quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong tình huống giao tiếp không chỉ để thống kê số liệu ngôn ngữ mà còn theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ trong sử dụng. Những quy tắc xây dựng cấu trúc của đơn vị ngôn từ cơ bản – câu – được ngữ pháp chức năng trình bày, giải thích trên cơ sở giữa các mối quan hệ ngôn ngữ và tư duy trong việc cấu trúc hoá và tuyến tính hoá những sự tình được phản ánh và trần thuật dưới sự tác động tối đa của các nhân tố trong tình huống văn cảnh, với sự chi phối của những quy ước cộng tác giữa người tạo lập và người lĩnh hội tham dự hội thoại. Hoạt động giao tiếp nhằm mục đích truyền đạt thông tin, yêu cầu giữa người với người thông qua ngôn ngữ.
K Halliday có mô hình lý thuyết về chức năng : ý niệm, liên nhân, văn bản. Trong đó ý niệm thể hiện kinh nghiệm biểu hiện sự tình, liên nhân là mối quan hệ giữa các tham thể, văn bản là tính quan yếu đối với ngôn cảnh. Cao Xuân Hạo, 1991, cho rằng: “Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện. Giữa ba bình diện ngôn từ có mối quan hệ khăng khít giữa nội dung, hình thức và mục đích.
Muốn làm rõ một khía cạnh cần thông qua hai khía cạnh còn lại. Ngữ pháp chức năng là một lí thuyết và là một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người. Chính vì vậy, luận văn chọn lựa ngữ pháp chức năng làm rõ cấu trúc nhan đề, nó giúp người tạo lập và người tiếp nhận sẽ ứng dụng được trong cuộc sống. Câu Về phương diện cấu trúc, theo Cao Xuân Hạo thì trong một hệ thống tôn ti của các đơn vị ngôn từ làm thành một ngôn bản, câu là đơn vị trung tâm, đơn vị bản lề.
Hiểu cấu trúc câu để hiểu đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó, hiểu đơn vị ngôn từ lớn hơn nó. Về phương diện chức năng, Sapir cho rằng câu là “sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh đề”. Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu thị một nhận định gồm chủ đề kết hợp với điều nói về chủ đề đó. Cao Xuân Hạo đã nhận xét định nghĩa này vẫn là một trong những định nghĩa tốt nhất về phương diện lí luận cũng như về phương diện thủ pháp.
Ông cho rằng những câu trần thuật là loại câu tiêu biểu nhất và thông dụng nhất. Về căn bản, nó đúng với mọi kiểu câu khác vì vốn nó là những kiểu câu phát sinh từ kiểu câu trần thuật và chỉ khác về những chi tiết liên quan đến tình thái phát ngôn. Cao Xuân Hạo cho rằng bình diện câu thuộc bình diện khác với bình diện của các đơn vị của ngôn ngữ. Các đơn vị ngôn ngữ đều làm thành một hệ đối vị còn câu thì không thuộc hệ đối vị nào.
Theo ông : “Câu được cấu tạo bằng những đơn vị chức năng gọi là ngữ đoạn. Một ngữ đoạn được định nghĩa không phải bằng những thuộc tính nội tại của nó mà bằng chức năng cú pháp (chủ ngữ hay vị ngữ của câu, bổ ngữ 11 cho ngữ đoạn nào, định ngữ cho ngữ đoạn nào,.và một ngữ đoạn phức hợp được cấu tạo bằng những ngữ đoạn ở bậc thấp hơn, chứ không phải bằng đơn vị ngôn ngữ. Vì vậy, trong mỗi cấu trúc câu có những ngữ đoạn đơn giản, chúng ta không thể phân tích thành những ngữ đoạn nhỏ hơn của chúng mà thôi. Theo Cao Xuân Hạo, một ngữ đoạn được cấu tạo từ các đơn vị ngôn ngữ, đảm nhiệm một chức năng cú pháp, đơn vị đó là từ.
Vì vậy, luận văn có thể vận dụng cách xác định này để miêu tả cấu trúc nhan đề nói chung, nhan đề của ca khúc Trịnh Công Sơn nói riêng. Cấu trúc Đề - Thuyết trong ngôn ngữ Một câu tiếng Việt hiện nay có thể được phân tích theo bốn phương pháp: Một là theo cấu trúc chủ - vị (ngữ pháp truyền thống). Hai là theo cấu trúc vị từ - tham thể (ngữ pháp ngữ nghĩa). Ba là theo cấu trúc Đề - Thuyết (ngữ pháp chức năng).
Và bốn là theo cấu trúc cái cho sẵn - cái mới (cấu trúc thông tin). Trong cấu trúc chủ - vị không biểu thị rõ chủ đề và cái được nói ra. Cấu trúc đề thuyết qua nghĩa biểu hiện làm rõ người hành động, đối tượng hành động, công cụ, phương thức, thời gian hành động, v.v… Cấu trúc Đề - Thuyết là cấu trúc trình bày rõ ràng các nhân tố tham gia trong hoạt động như: khả năng thực hiện hành động, suy đoán sự vật, mục đích thông báo, mạch lạc, thứ bậc người nói, nhân vật và sự vật hữu quan trong tôn ti của tham tố tham gia sự tình (tham tố trung tâm chỉ chủ thể hành động, trạng thái, tính chất do vị từ biểu thị) Chính vì việc xét theo cấu trúc đề thuyết để làm rõ chủ thể sự tình và diễn tố nói đến sự tình. Qua việc làm rõ sự tình, diễn tố được nói đến trong nhan đề giúp người viết xác định chính xác vấn đề được nói đến, để sử dụng từ ngữ phù hợp trong tạo lập nhan đề.
Đối với người nghe cần xác định rõ vấn đề được nói để tránh việc nghe ca khúc xong những chưa xác định được vấn đề nói đến là gì. Nghĩa của câu Các tác giả phương Tây quan điểm rằng bình diện nghĩa của câu là phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những cái mảng của thế giới hiện thực. Đa phần giới nghiên cứu đều gọi là bình diện nghĩa còn M. Halliday (1985) xác định là bình diện biểu hiện (represetation), nó là cái phần nằm trong nội 12 dung nghĩa phản ánh một sự tình được rút ra từ thế giới miêu tả, bên cạnh nội dung bình diện nội dung khác của câu khi nó được xét trong một thông điệp, như sự trao đổi giữa những người tham gia giao tiếp, như một bộ phận văn bản trong hệ thống chức năng của ông.
Ở phương diện biểu hiện, câu được diễn đạt một cách trọn vẹn thì câu được phân tích trên mô hình nghĩa gồm ba yếu tố: bản thân quá trình, các tham tố, hoàn cảnh liên quan đến quá trình. Theo Cao Xuân Hạo, phân tích theo mô hình trên dẫn đến việc phân chia vị từ, danh từ và các từ loại khác. Nó thể hiện điển hình của ba yếu tố trên phương diện ngữ pháp sau: Loại yếu tố trong quá trình Cách thể hiện điển hình Quá trình Ngữ đoạn vị từ Tham tố Ngữ đoạn danh từ Hoàn cảnh Ngữ đoạn phó từ hay giới từ Trong các quá trình được chia thành loại như sau: 1. Quá trình vật chất (material process), trong đó bao giờ cũng có một người hành động (actor) làm một cái gì, có thể có có đối thể (goal).
Quá trình tinh thần (mental process), trong đó bao giờ cũng có một người thể nghiệm (sensor) và có thể có thêm hiện tượng gây cảm xúc. Quá trình quan hệ (relational process), câu đề cập nó là cái gì, ở chỗ nào, là của ai. Tham tố ở đây là một vật mang (carrier) một thuộc tính (attribute) hay được đồng nhất (indentified) với một cái gì (indentififier) 4. Quá trình ứng xử (behavioural process) như nhìn, nghe, cười, thường chỉ có một tham tố (behaver – người ứng xử).
Quá trình nói năng (verbal process), trong quá trình nói năng có người nói (sayer), điều được nói ra (target), người nghe (recipiens). Nếu lời nói có tác dụng (thuyết phục, cắt nghĩa), thì có cả người chịu tác dụng (receiver). Quá trình tồn tại (existential process) trong đó tham tố là vật tồn tại (existent). Cao Xuân Hạo cho rằng ngữ pháp của các ngôn ngữ có phân biệt các phạm trù, chức năng, các sắc độ tình thái một cách khác nhau đến đâu, thì cách cảm thụ những sự tình của thế giới hiện thực vẫn như nhau.
13 Trong logic học, nội dung của mệnh đề được chia ra làm hai phần. Phần thứ nhất là ngôn liệu tức là cái tập hợp sở thuyết (vị ngữ logich) và các tham tố được xét bởi mối quan hệ tiềm năng. Phần thứ 2 gọi là tình thái, cách thực hiện mối liên hệ ấy với hai cực có hoặc không. Trong tiếng Việt, tình thái “hiện thực” hay “trần thuật khẳng định” được diễn đạt bằng cách sắp xếp từ ngữ biểu thị sở thuyết và các tham tố của nó theo trật tự được quy định cho một câu cơ bản có cấu trúc Đề - Thuyết.
Nếu trật từ này không được thực hiện thì câu sẽ trở nên rời rạc. Trong ngôn ngữ, các tình thái của phát ngôn làm thành một bảng màu cực kì đa dạng, trong đó nó đều có liên quan đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng và nó được thể hiện dưới nhiều sắc thái khác nhau, nhiều cách biểu hiện khác nhau. Ở tình thái thì cần phân biệt tình thái của hành động và tình thái của phát ngôn.