Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 1. Sự tương đồng giữa văn học và điện ảnh 1. Văn học, điện ảnh cùng ra đời từ lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người Xét về nguồn gốc, văn học, điện ảnh cũng như các loại hình nghệ thuật khác đều nảy sinh trong lòng xã hội. Chúng có quan hệ huyết thống gần gũi vì đều ra đời từ trong lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người.
Lao động đã biến con người thành một chủ thể thẩm mỹ, có khả năng sáng tạo, đánh giá và thưởng thức các hiện tượng thẩm mỹ. Quá trình lao động lâu dài đã khiến bàn tay của con người ngày càng trở nên khéo léo, dấu hiệu làm đẹp dần xuất hiện. Từ việc làm ra những vật trang trí đơn sơ thời nguyên thủy, dần dà, lao động đã “tinh luyện” bàn tay của con người để nó sáng tạo ra những kỳ quan như kim tự tháp Ai Cập, đền thờ Parthenon ở Hi Lạp, Tượng người ném đĩa của Polycléte, các bức tranh của Raphael, Leonardevinci… Lao động cũng sáng tạo ra ở con người năng lực cảm giác và một thế giới tâm hồn nhạy cảm, phong phú. Quá trình lao động lâu dài khiến tư duy của con người ngày càng phát triển, sự cảm thụ cũng trở nên tinh tế và nhạy bén.
Con người dần có con mắt biết cảm nhận vẻ đẹp của hình thức, có cái tai biết nghe âm nhạc để viết nên những bản nhạc mãi làm say đắm lòng người như các bản nhạc của Môza, Bethoven… Lao động cũng phát triển ở con người trí tưởng tượng bay bổng - cội nguồn tạo nên những hình tượng nghệ thuật kỳ diệu như trong các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết hay truyện cổ tích thần kỳ… Ngay từ thuở hồng hoang đó, con người đã mơ ước có thể bay lên không trung hay di chuyển nhanh hơn trên mặt đất với những câu chuyện về tấm thảm biết bay, đôi hài vạn dặm… Cũng từ trong lao động và hoạt động thực tiễn, vào đầu thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã phát hiện ra một hiện tượng lý thú về khả năng của đôi mắt người: có thể lưu lại hình ảnh của một vật trong khoảng một phần nhỏ của giây sau khi vật đó được dời đi. Đó là hiện tượng lưu ảnh. Mắt người có khả năng nhận ra dư ảnh, và đó là tiền đề cho sự ra đời của điện ảnh (motion pictures: những bức ảnh chuyển 10 động). Khái niệm về lưu ảnh đã đưa đến những sáng chế mang tính thực nghiệm đầu tiên với các thiết bị chiếu phim trong suốt thế kỷ XIX.
Đầu tiên là những thiết bị thô sơ rồi tiếp tục cải tiến, phát triển thành những phiên bản máy chiếu hiện đại và tối ưu hơn khiến cho nghệ thuật nhiếp ảnh phát triển nhanh vào những năm 30 của thế kỷ XIX. Đến lúc đó, các nhà phát minh đã biết kết hợp thiết bị chiếu ảnh chuyển động với thiết bị chụp ảnh để tạo ra những hình ảnh chuyển động thực sự. Sau đó, nghệ thuật nhiếp ảnh tiếp tục phát triển lên những nấc thang cao hơn, đặt tiền đề khai sinh ra điện ảnh. Chiếc máy quay phim và chiếc máy chiếu phim đầu tiên còn thô sơ, cồng kềnh nhanh chóng được thay thế bằng những phiên bản hiện đại hơn.
Từ phòng chiếu phim đầu tiên chỉ phục vụ được tối đa một người, chiếc máy chiếu đã được cải tiến để có thể chiếu tại khán phòng lớn. Những nhà làm phim chuyên nghiệp cũng dần xuất hiện đặt những cột mốc đầu tiên trong lịch sử hơn một thế kỷ của ngành điện ảnh. Không chỉ sáng tạo ra con người - chủ thể thẩm mỹ, lao động còn sáng tạo ra các đối tượng thẩm mỹ và các giá trị thẩm mỹ. Các hình vẽ thú vật thời nguyên thủy xuất phát từ nhu cầu giúp cộng đồng nhận ra những con vật hiền lành có thể săn bắn được và những con thú dữ cần tránh xa, về sau, ý nghĩa thực dụng dần biến mất, để lại cho đời sau những tác phẩm tạo hình.
Trong cuộc sống lao động, âm nhạc hình thành từ những tiếng reo hò, những âm thanh hiệu lệnh, tiếng trống gõ nhịp khi làm ăn và đánh trận… Ý nghĩa xã hội của nhịp và điệu cũng được phát hiện ra trong lao động tập thể. Nhịp là sự lặp lại đều đặn các đơn vị vận động giống nhau như bước đi, tim đập, hơi thở… Lao động nhịp nhàng thì thoải mái và có hiệu quả. Vì vậy, ban đầu nhịp được vận dụng như một phương tiện hữu hiệu để tổ chức lao động tập thể như kéo gỗ, giã gạo, chèo thuyền… Sau, nhịp được sử dụng như một hiện tượng thẩm mỹ để thể hiện niềm say mê hứng khởi. Văn học dân gian vẫn còn lưu lại nhiều điệu hò lao động với nhịp điệu khác nhau như hò chèo thuyền, hò giã gạo, hò kéo sợi… Cũng do nhu cầu lao động sản xuất mà xã hội người dần được hình thành đồng thời với quá trình hình thành phân công lao động để các thành viên vừa được tự do vừa lệ thuộc vào nhau mà tồn tại.
Xã hội có nhu cầu đoàn kết các thành viên thành một thể thống nhất, điều chỉnh đời sống cộng đồng, muốn giữ gìn và truyền lại cho hậu thế toàn bộ kinh nghiệm đời sống phong phú từ thực tế chiến đấu và 11 sản xuất. Sự nhìn nhận về cái có ích cũng có sự thay đổi. Nó không chỉ còn là công cụ lao động, khả năng chăn nuôi, săn bắn, mà còn là lòng ham sống, tình yêu đời, yêu thiên nhiên, tình yêu lao động, lòng nhân ái, vị tha… Đó là những lợi ích trên bình diện tinh thần, tiềm ẩn, đòi hỏi phải có sự xuất hiện của văn học nghệ thuật và được thể hiện thông qua văn học nghệ thuật. Như vậy, với tư cách là hoạt động sáng tạo, vừa biến cải tự nhiên, vừa biến cải bản thân con người, lao động đã sáng tạo ra con người, xã hội người, các hình thức giao tiếp giữa người với người, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, trong đó có văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật.
Cội nguồn chung này là một trong những nguyên nhân khiến cho các loại hình nghệ thuật dù nảy nở hết sức đa dạng vẫn thống nhất trong một chỉnh thể với những mối liên hệ mật thiết. Văn học, điện ảnh cùng là hình thái ý thức xã hội Ngoài cội nguồn chung, văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều là những yếu tố hữu cơ trong cấu trúc chung của toàn bộ đời sống xã hội. Bản chất của chúng cũng được bộc lộ khi được đặt trong toàn bộ cấu trúc này. Mác chia cấu trúc xã hội ra làm hai bộ phận: tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Tồn tại xã hội là tổng hoà của sức sản xuất và các quan hệ xã hội thích ứng với sức sản xuất đó tạo nên, nói chung là toàn bộ đời sống vật chất của xã hội, còn gọi là cơ sở hạ tầng. Kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ các giá trị tinh thần của xã hội như các chế độ chính trị, xã hội, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội như đạo đức, tôn giáo, triết học và các loại hình nghệ thuật. Bản chất của một hình thái ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, là sự thể hiện của ý thức chủ thể con người đối với tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Ngược lại, trong phạm vi nào đó, nó có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng mà trên đó nó ra đời và phát triển.
Văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều có chung bản chất này. Ở chiều thứ nhất, văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều chịu sự quy định của tồn tại xã hội (hiện thực cuộc sống). Đời sống vật chất xã hội là yếu tố năng động đề xuất nhu cầu, khả năng và quy định toàn bộ nội dung nghệ thuật từ đề tài, chủ đề, tư tưởng cho tới cảm hứng. Nó cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của các hình thức nghệ thuật.
Đến lượt mình, nghệ thuật phát huy khả năng, đáp ứng nhu cầu, do đó cũng đổi thay và phát triển. Xã hội phong kiến sinh ra nền 12 nghệ thuật phong kiến, xã hội hiện đại sinh ra nền nghệ thuật hiện đại. Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh 1945 - 1975 thì cả văn học và điện ảnh cùng hướng về hiện thực cuộc sống chiến đấu và sản xuất gian khổ, nhiều mất mát hi sinh nhưng cũng vẻ vang của dân tộc. Hiện thực cuộc sống ấy vừa là mảnh đất màu mỡ khơi nguồn sáng tạo vừa là động lực thúc đẩy để văn học cách mạng có một bước phát triển mới với nhiều thành tựu vừa là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều tác phẩm văn chương.
Đó là hiện thực cuộc sống chiến đấu và sản xuất muôn người như một đồng sức, đồng lòng, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng cao đẹp là giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Ở đó, có biết bao lớp người hăng say lao động và chiến đấu, bao cuộc đời đẹp như Đinh Núp, chị Tư Hậu… dễ làm nảy sinh những cảm hứng sử thi lãng mạn, là cơ sở cho sáng tạo văn học. Nền văn học cách mạng do đó cũng phát triển nhanh và nở rộ, nhiều thành tựu, mở rộng về dung lượng, đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, trong đó, thơ ca và kí phát triển mạnh mẽ… Trong những năm chiến tranh cứu nước hào hùng ấy, điện ảnh Việt Nam cũng từng được mệnh danh là “nền điện ảnh chiến tranh”. Nhiều bộ phim có giá trị nhất của Việt Nam là phim về chiến tranh như Sao Tháng Tám (đạo diễn - NSND Trần Ðắc), Hoài vũ trắng (đạo diễn Đào Duy Phúc), Chớp mắt cùng số phận (đạo diễn Lê Ngọc Linh), Chung một dòng sông (đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân), Không nơi ẩn nấp (đạo diễn Phạm Kỳ Nam), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội (đạo diễn Hải Ninh), Cánh đồng hoang (đạo diễn Nguyễn Hồng Sến), Bao giờ cho đến tháng Mười (đạo diễn Đặng Nhật Minh)… Từ 1975 trở đi, dân tộc Việt Nam chuyển sang quỹ đạo hoà bình.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra cho văn học nghệ thuật nhu cầu đổi mới.