Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nhật ký đặng thùy trâm và đừng đốt đặng nhật minh sự hóa thân từ văn học thành điện ảnh

Khám phá sự chuyển thể từ văn học sang điện ảnh qua đề tài nghiên cứu khoa học về "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và "Đừng đốt" của Đặng Nhật Minh.

Trường đại học

Trường Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Ngữ văn và Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp trường

2022 - 2023

93
21
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

1.1. Sự tương đồng giữa văn học và điện ảnh

1.1.1. Văn học, điện ảnh cùng ra đời từ lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người

1.1.2. Văn học, điện ảnh cùng là hình thái ý thức xã hội

1.1.3. Văn học, điện ảnh cùng là thành viên trong gia đình nghệ thuật

1.2. Sự khác nhau giữa văn học và điện ảnh

1.2.1. Sự khác nhau về chất liệu và ngôn ngữ biểu hiện

1.2.2. Sự khác nhau về khả năng và cách thức thể hiện nội tâm, tư tưởng

1.2.3. Sự khác nhau về tính tổng hợp

1.3. Sự tác động qua lại giữa văn học và điện ảnh

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỪ NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM ĐẾN ĐỪNG ĐỐT - NHỮNG SÁNG TẠO VỀ NHAN ĐỀ, CHỦ ĐỀ, CỐT TRUYỆN

2.1. Nhật ký Đặng Thùy Trâm và sự chắp cánh cho bộ phim Đừng đốt

2.2. Phim Đừng đốt và những sáng tạo về nhan đề, chủ đề, cốt truyện

2.2.1. Sáng tạo về nhan đề và chủ đề

2.2.2. Sáng tạo về cốt truyện kịch bản

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỪ NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM ĐẾN ĐỪNG ĐỐT – SỰ SÁNG TẠO VỀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ NHÂN VẬT

3.1. Phim Đừng đốt và sự sáng tạo về không gian, thời gian

3.2. Phim Đừng đốt và sự sáng tạo hình tượng nhân vật

3.2.1. Nhân vật Đặng Thùy Trâm

3.2.2. Các nhân vật khác

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu khoa học và sự hóa thân từ văn học sang điện ảnh

Nghiên cứu khoa học về sự chuyển thể từ văn học sang điện ảnh là một hướng tiếp cận liên ngành, mang tính thời sự và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đề tài này tập trung vào quá trình chuyển thể từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm sang bộ phim Đừng đốt của đạo diễn Đặng Nhật Minh, nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai loại hình nghệ thuật này. Văn họcđiện ảnh có sự tương đồng về nguồn gốc và mục đích phản ánh hiện thực, nhưng khác biệt về chất liệu và ngôn ngữ biểu đạt. Quá trình chuyển thể đòi hỏi sự sáng tạo và tái hiện nghệ thuật, giúp tác phẩm văn học sống lại trong một hình thức mới, tiếp cận rộng rãi hơn với công chúng.

1.1. Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh

Văn họcđiện ảnh đều là hình thái ý thức xã hội, phản ánh hiện thực thông qua ngôn ngữ riêng. Sự tương đồng giữa hai loại hình này thể hiện ở việc cùng ra đời từ lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, điện ảnh sử dụng hình ảnh, âm thanh và kỹ thuật quay phim để truyền tải thông điệp, trong khi văn học dựa vào ngôn từ và trí tưởng tượng của độc giả. Sự khác biệt này tạo nên những thách thức và cơ hội trong quá trình chuyển thể, đòi hỏi sự sáng tạo và tinh tế của người làm phim.

1.2. Quá trình chuyển thể từ văn học sang điện ảnh

Quá trình chuyển thể từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm sang Đừng đốt là một ví dụ điển hình về sự hóa thân từ văn học sang điện ảnh. Đạo diễn Đặng Nhật Minh đã chắt lọc những chi tiết quan trọng từ cuốn nhật ký, tái hiện chân thực hình ảnh nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm trong bối cảnh chiến tranh. Sự sáng tạo trong việc xây dựng nhan đề, chủ đề và cốt truyện đã giúp bộ phim không chỉ truyền tải được tinh thần của tác phẩm gốc mà còn mang lại những giá trị nghệ thuật và nhân văn mới.

II. Phân tích văn học và chuyển thể điện ảnh qua Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Đừng đốt

Phân tích văn họcchuyển thể điện ảnh là hai quá trình song hành trong nghiên cứu này. Nhật ký Đặng Thùy Trâm là một tác phẩm văn học đặc sắc, ghi lại những suy nghĩ và cảm xúc chân thực của nữ bác sĩ trong chiến tranh. Khi chuyển thể thành phim Đừng đốt, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã tái hiện lại câu chuyện với những sáng tạo về không gian, thời gian và nhân vật. Sự chuyển thể này không chỉ làm sống lại tác phẩm gốc mà còn mang lại những góc nhìn mới, giúp khán giả cảm nhận sâu sắc hơn về tinh thần và thông điệp của tác phẩm.

2.1. Sáng tạo về nhan đề và chủ đề

Nhan đề Đừng đốt là một sáng tạo đặc biệt của đạo diễn Đặng Nhật Minh, mang ý nghĩa sâu sắc về sự bảo tồn và tôn vinh giá trị nhân văn. Chủ đề của bộ phim xoay quanh tình yêu thương, sự hy sinh và khát vọng hòa bình, được thể hiện qua hình ảnh nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Sự sáng tạo này giúp bộ phim không chỉ là một tác phẩm điện ảnh mà còn là một thông điệp mạnh mẽ về lòng nhân ái và sự trân trọng cuộc sống.

2.2. Sáng tạo về cốt truyện và nhân vật

Cốt truyện của Đừng đốt được xây dựng dựa trên những sự kiện chính trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm, nhưng được sắp xếp và phát triển theo cách riêng của đạo diễn. Nhân vật Đặng Thùy Trâm được tái hiện một cách chân thực và sống động, thể hiện sự dũng cảm, kiên cường nhưng cũng đầy lãng mạn và mộng mơ. Sự sáng tạo này giúp bộ phim không chỉ là một câu chuyện về chiến tranh mà còn là một bức tranh đa chiều về con người và cuộc sống.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc phân tích quá trình chuyển thể từ văn học sang điện ảnh giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai loại hình nghệ thuật, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Ngữ văn và Sư phạm Ngữ văn, cũng như những người quan tâm đến văn họcđiện ảnh.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục và nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong giảng dạy các học phần về văn học Việt Nam, lí luận văn họcđiện ảnh. Đề tài cung cấp nguồn tài liệu phong phú, giúp sinh viên và nhà nghiên cứu hiểu sâu hơn về quá trình chuyển thể và sự tương tác giữa các loại hình nghệ thuật. Đồng thời, nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao năng lực cảm thụ và tiếp nhận văn học, điện ảnh của người học.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn sáng tạo

Nghiên cứu này cũng có giá trị thực tiễn trong việc hỗ trợ các nhà làm phim trong quá trình chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh. Những phân tích và đánh giá về quá trình sáng tạo trong Đừng đốt có thể trở thành kinh nghiệm quý báu cho các đạo diễn và biên kịch, giúp họ tạo ra những tác phẩm điện ảnh chất lượng, vừa trung thành với tác phẩm gốc vừa mang tính sáng tạo độc đáo.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 1. Sự tương đồng giữa văn học và điện ảnh 1. Văn học, điện ảnh cùng ra đời từ lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người Xét về nguồn gốc, văn học, điện ảnh cũng như các loại hình nghệ thuật khác đều nảy sinh trong lòng xã hội. Chúng có quan hệ huyết thống gần gũi vì đều ra đời từ trong lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người.

Lao động đã biến con người thành một chủ thể thẩm mỹ, có khả năng sáng tạo, đánh giá và thưởng thức các hiện tượng thẩm mỹ. Quá trình lao động lâu dài đã khiến bàn tay của con người ngày càng trở nên khéo léo, dấu hiệu làm đẹp dần xuất hiện. Từ việc làm ra những vật trang trí đơn sơ thời nguyên thủy, dần dà, lao động đã “tinh luyện” bàn tay của con người để nó sáng tạo ra những kỳ quan như kim tự tháp Ai Cập, đền thờ Parthenon ở Hi Lạp, Tượng người ném đĩa của Polycléte, các bức tranh của Raphael, Leonardevinci… Lao động cũng sáng tạo ra ở con người năng lực cảm giác và một thế giới tâm hồn nhạy cảm, phong phú. Quá trình lao động lâu dài khiến tư duy của con người ngày càng phát triển, sự cảm thụ cũng trở nên tinh tế và nhạy bén.

Con người dần có con mắt biết cảm nhận vẻ đẹp của hình thức, có cái tai biết nghe âm nhạc để viết nên những bản nhạc mãi làm say đắm lòng người như các bản nhạc của Môza, Bethoven… Lao động cũng phát triển ở con người trí tưởng tượng bay bổng - cội nguồn tạo nên những hình tượng nghệ thuật kỳ diệu như trong các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết hay truyện cổ tích thần kỳ… Ngay từ thuở hồng hoang đó, con người đã mơ ước có thể bay lên không trung hay di chuyển nhanh hơn trên mặt đất với những câu chuyện về tấm thảm biết bay, đôi hài vạn dặm… Cũng từ trong lao động và hoạt động thực tiễn, vào đầu thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã phát hiện ra một hiện tượng lý thú về khả năng của đôi mắt người: có thể lưu lại hình ảnh của một vật trong khoảng một phần nhỏ của giây sau khi vật đó được dời đi. Đó là hiện tượng lưu ảnh. Mắt người có khả năng nhận ra dư ảnh, và đó là tiền đề cho sự ra đời của điện ảnh (motion pictures: những bức ảnh chuyển 10 động). Khái niệm về lưu ảnh đã đưa đến những sáng chế mang tính thực nghiệm đầu tiên với các thiết bị chiếu phim trong suốt thế kỷ XIX.

Đầu tiên là những thiết bị thô sơ rồi tiếp tục cải tiến, phát triển thành những phiên bản máy chiếu hiện đại và tối ưu hơn khiến cho nghệ thuật nhiếp ảnh phát triển nhanh vào những năm 30 của thế kỷ XIX. Đến lúc đó, các nhà phát minh đã biết kết hợp thiết bị chiếu ảnh chuyển động với thiết bị chụp ảnh để tạo ra những hình ảnh chuyển động thực sự. Sau đó, nghệ thuật nhiếp ảnh tiếp tục phát triển lên những nấc thang cao hơn, đặt tiền đề khai sinh ra điện ảnh. Chiếc máy quay phim và chiếc máy chiếu phim đầu tiên còn thô sơ, cồng kềnh nhanh chóng được thay thế bằng những phiên bản hiện đại hơn.

Từ phòng chiếu phim đầu tiên chỉ phục vụ được tối đa một người, chiếc máy chiếu đã được cải tiến để có thể chiếu tại khán phòng lớn. Những nhà làm phim chuyên nghiệp cũng dần xuất hiện đặt những cột mốc đầu tiên trong lịch sử hơn một thế kỷ của ngành điện ảnh. Không chỉ sáng tạo ra con người - chủ thể thẩm mỹ, lao động còn sáng tạo ra các đối tượng thẩm mỹ và các giá trị thẩm mỹ. Các hình vẽ thú vật thời nguyên thủy xuất phát từ nhu cầu giúp cộng đồng nhận ra những con vật hiền lành có thể săn bắn được và những con thú dữ cần tránh xa, về sau, ý nghĩa thực dụng dần biến mất, để lại cho đời sau những tác phẩm tạo hình.

Trong cuộc sống lao động, âm nhạc hình thành từ những tiếng reo hò, những âm thanh hiệu lệnh, tiếng trống gõ nhịp khi làm ăn và đánh trận… Ý nghĩa xã hội của nhịp và điệu cũng được phát hiện ra trong lao động tập thể. Nhịp là sự lặp lại đều đặn các đơn vị vận động giống nhau như bước đi, tim đập, hơi thở… Lao động nhịp nhàng thì thoải mái và có hiệu quả. Vì vậy, ban đầu nhịp được vận dụng như một phương tiện hữu hiệu để tổ chức lao động tập thể như kéo gỗ, giã gạo, chèo thuyền… Sau, nhịp được sử dụng như một hiện tượng thẩm mỹ để thể hiện niềm say mê hứng khởi. Văn học dân gian vẫn còn lưu lại nhiều điệu hò lao động với nhịp điệu khác nhau như hò chèo thuyền, hò giã gạo, hò kéo sợi… Cũng do nhu cầu lao động sản xuất mà xã hội người dần được hình thành đồng thời với quá trình hình thành phân công lao động để các thành viên vừa được tự do vừa lệ thuộc vào nhau mà tồn tại.

Xã hội có nhu cầu đoàn kết các thành viên thành một thể thống nhất, điều chỉnh đời sống cộng đồng, muốn giữ gìn và truyền lại cho hậu thế toàn bộ kinh nghiệm đời sống phong phú từ thực tế chiến đấu và 11 sản xuất. Sự nhìn nhận về cái có ích cũng có sự thay đổi. Nó không chỉ còn là công cụ lao động, khả năng chăn nuôi, săn bắn, mà còn là lòng ham sống, tình yêu đời, yêu thiên nhiên, tình yêu lao động, lòng nhân ái, vị tha… Đó là những lợi ích trên bình diện tinh thần, tiềm ẩn, đòi hỏi phải có sự xuất hiện của văn học nghệ thuật và được thể hiện thông qua văn học nghệ thuật. Như vậy, với tư cách là hoạt động sáng tạo, vừa biến cải tự nhiên, vừa biến cải bản thân con người, lao động đã sáng tạo ra con người, xã hội người, các hình thức giao tiếp giữa người với người, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, trong đó có văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật.

Cội nguồn chung này là một trong những nguyên nhân khiến cho các loại hình nghệ thuật dù nảy nở hết sức đa dạng vẫn thống nhất trong một chỉnh thể với những mối liên hệ mật thiết. Văn học, điện ảnh cùng là hình thái ý thức xã hội Ngoài cội nguồn chung, văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều là những yếu tố hữu cơ trong cấu trúc chung của toàn bộ đời sống xã hội. Bản chất của chúng cũng được bộc lộ khi được đặt trong toàn bộ cấu trúc này. Mác chia cấu trúc xã hội ra làm hai bộ phận: tồn tại xã hội và ý thức xã hội.

Tồn tại xã hội là tổng hoà của sức sản xuất và các quan hệ xã hội thích ứng với sức sản xuất đó tạo nên, nói chung là toàn bộ đời sống vật chất của xã hội, còn gọi là cơ sở hạ tầng. Kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ các giá trị tinh thần của xã hội như các chế độ chính trị, xã hội, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội như đạo đức, tôn giáo, triết học và các loại hình nghệ thuật. Bản chất của một hình thái ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, là sự thể hiện của ý thức chủ thể con người đối với tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Ngược lại, trong phạm vi nào đó, nó có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng mà trên đó nó ra đời và phát triển.

Văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều có chung bản chất này. Ở chiều thứ nhất, văn học, điện ảnh và các loại hình nghệ thuật đều chịu sự quy định của tồn tại xã hội (hiện thực cuộc sống). Đời sống vật chất xã hội là yếu tố năng động đề xuất nhu cầu, khả năng và quy định toàn bộ nội dung nghệ thuật từ đề tài, chủ đề, tư tưởng cho tới cảm hứng. Nó cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của các hình thức nghệ thuật.

Đến lượt mình, nghệ thuật phát huy khả năng, đáp ứng nhu cầu, do đó cũng đổi thay và phát triển. Xã hội phong kiến sinh ra nền 12 nghệ thuật phong kiến, xã hội hiện đại sinh ra nền nghệ thuật hiện đại. Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh 1945 - 1975 thì cả văn học và điện ảnh cùng hướng về hiện thực cuộc sống chiến đấu và sản xuất gian khổ, nhiều mất mát hi sinh nhưng cũng vẻ vang của dân tộc. Hiện thực cuộc sống ấy vừa là mảnh đất màu mỡ khơi nguồn sáng tạo vừa là động lực thúc đẩy để văn học cách mạng có một bước phát triển mới với nhiều thành tựu vừa là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều tác phẩm văn chương.

Đó là hiện thực cuộc sống chiến đấu và sản xuất muôn người như một đồng sức, đồng lòng, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng cao đẹp là giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Ở đó, có biết bao lớp người hăng say lao động và chiến đấu, bao cuộc đời đẹp như Đinh Núp, chị Tư Hậu… dễ làm nảy sinh những cảm hứng sử thi lãng mạn, là cơ sở cho sáng tạo văn học. Nền văn học cách mạng do đó cũng phát triển nhanh và nở rộ, nhiều thành tựu, mở rộng về dung lượng, đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, trong đó, thơ ca và kí phát triển mạnh mẽ… Trong những năm chiến tranh cứu nước hào hùng ấy, điện ảnh Việt Nam cũng từng được mệnh danh là “nền điện ảnh chiến tranh”. Nhiều bộ phim có giá trị nhất của Việt Nam là phim về chiến tranh như Sao Tháng Tám (đạo diễn - NSND Trần Ðắc), Hoài vũ trắng (đạo diễn Đào Duy Phúc), Chớp mắt cùng số phận (đạo diễn Lê Ngọc Linh), Chung một dòng sông (đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân), Không nơi ẩn nấp (đạo diễn Phạm Kỳ Nam), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội (đạo diễn Hải Ninh), Cánh đồng hoang (đạo diễn Nguyễn Hồng Sến), Bao giờ cho đến tháng Mười (đạo diễn Đặng Nhật Minh)… Từ 1975 trở đi, dân tộc Việt Nam chuyển sang quỹ đạo hoà bình.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra cho văn học nghệ thuật nhu cầu đổi mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học: Sự hóa thân từ văn học sang điện ảnh qua 'Nhật ký Đặng Thùy Trâm' và 'Đừng đốt' của Đặng Nhật Minh là một tài liệu chuyên sâu khám phá quá trình chuyển thể từ tác phẩm văn học sang điện ảnh, tập trung vào hai tác phẩm nổi tiếng của Đặng Nhật Minh. Nghiên cứu này không chỉ phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa hai hình thức nghệ thuật mà còn làm nổi bật cách điện ảnh tái hiện và phát triển các giá trị nhân văn, lịch sử từ nguyên tác văn học. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự sáng tạo của đạo diễn cũng như tầm quan trọng của việc bảo tồn tinh thần nguyên bản trong quá trình chuyển thể.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu văn học và nghệ thuật, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ văn học phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải, khám phá phong cách sáng tác độc đáo của một nhà văn lớn. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh cung cấp cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật kể chuyện trong văn học hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự đa dạng trong phong cách sáng tác của các nhà văn Việt Nam.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về thế giới văn học và nghệ thuật, từ đó mở rộng góc nhìn và kiến thức của mình.