CHƯƠNG 1. KHÁI LƯỢC LÀN SÓNG VĂN HOA HAN QUOC VA VAN ĐÈ TIẾP NHAN, CHUYỂN THE 1. Làn sóng văn hoá Hàn Quốc 1. Khái lược về Văn hoá đại chúng Van hóa đại chúng (Popular Culture) được định nghĩa là tổng thé các ý tưởng, quan niệm, thái độ, hành vi lan truyền, hình ảnh và các hiện tượng khác, những gì được cho rang có sự đồng tình một cách phô biến nhưng không tuân theo một thủ tục quy định của một nền tư tưởng văn hoá nhất định.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Raymond Williams (1921-1988), về cơ bản văn hoá đại chúng có 4 nghĩa, tương ứng với 4 nghĩa cua từ popular: Popular: well-liked by many people. (1) Văn hóa đại chúng bao gồm những hiện tượng, sản phẩm/ dịch vụ văn hóa được nhiều người ưa thích. Popular: inferior kinds of works. (2) Văn hóa đại chúng là hình thức văn hóa thấp hon của đa sô quân chúng phân biệt với van hóa cao hơn của một thiêu sô tinh hoa.
Popular: work deliberately setting out to win favor with the people. (3) Van hóa đại chúng bao gồm những san pham/ dịch vụ văn hóa người ta chu ý tạo ra (thường gắn với công nghiệp văn hóa, sản xuất hàng loạt) nhằm thỏa mãn thị hiếu của số đông (đại trà) Popular: actually made by the people for themselves. Pham vi của văn hoa đại chúng không giới hạn, nó bao gồm tất cả những thể loại, biểu tượng của nghệ thuật và văn hoá. Khái niệm văn hoá đại chúng được nhắc tới lần đầu tiên cho những biểu tượng nghệ thuật của phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, Anh.
Văn hoá đại chúng phương Tây vẫn đang khăng định vị thế của mình, nhưng bên cạnh đó, đầu thế kỷ này còn trỗi dậy một làn sóng văn hoá khác, phát triển cực nhanh, mạnh và có định hướng: văn hoá đại chúng Đông Á mà đại diện tiêu biểu là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản. 13 Một thập kỷ trước, các tác phẩm anime (hoạt hình) Nhật Bản như Pokemon va Digimon đã có vị trí cố định ở phương Tây. Hai ngôi sao võ thuật Hong Kong Thành Long và Lý Tiểu Long là những cái tên quen thuộc. Gần đây, nhóm nhạc pop Hàn Quốc BTS và Blackpink là một biểu tượng mạnh mẽ của văn hoá đại chúng dành cho giới trẻ.
Đặc biệt, bộ phim điện ảnh Parasite (Ky sinh trùng) đã trở thành bộ phim Hàn Quoc dau tiên giành được giải Oscar. Văn học đại ching Cũng tương tự như các loại hình trong văn hoá đại chúng, văn học đại chúng ra đời là một tất yếu khách quan của đời sống văn học, dựa trên nhu cầu và thị hiểu thâm mỹ của một đại bộ phận công chúng và sự chế định của nền kinh tế thị trường. Không phải đến thời kỳ này người ta mới coi văn chương là một loại “hàng hoá”. Từ đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, Tan Đà — người được goi là “gạch nối” giữa hai thế ky đã khang định hoạt động sáng tác nằm trong cơ chế thị trường, tác phẩm van học có gia tri mua bán trao đổi: “Van chương hạ giới rẻ như bèo/ Kiếm được đồng lai thực rất khó” (Hau trời).
Nhung bởi thời kỳ này khi sản xuất và lưu thông hàng hoá theo quy luật cung — cầu, văn học đại chúng chính thức được coi là một loại hang hoá bình đăng như các loại hàng hoá khác. Đó cũng là lý do người ta gọi nó là văn học thị trường. Dòng văn chương này phục vụ một tầng lớp công chúng đặc biệt: những người tiêu thụ trẻ tuổi, thiên về sự tìm kiếm giải trí, bị hấp dẫn bởi thần tượng và dễ bị cuốn theo những xu hướng mới. Văn học đại chúng được sinh ra là để đáp ứng nhu cầu thị trường, vì thế tính thẩm mỹ còn là một khoảng cách so với văn học tinh hoa.
Thế nhưng phải khăng định dòng văn học đại chúng là một đối trọng cần thiết, nó không đối lập với văn học đặc tuyên mà còn có vai trò thúc day sự phát triển của các dòng khác đang rơi vảo tình trạng cũ kỹ. Văn học thị trường là cái pho bién, 1a vat liéu, dưỡng chat làm nền tang, tiền đề cho sự xuất hiện những tac phẩm nghệ thuật dich thực. Rõ ràng phải có cái phổ quát, cái toàn dân thì mới xuất hiện những đỉnh cao, những cái kiệt xuât. Ở Việt Nam, sự bùng nổ của văn học — văn hoá đại chúng đã đem đến một hình thái mới cho đời sống văn học.
Người tiếp nhận trong thời đại “thế giới phăng” đã mở ra không gian của những diễn biến tinh than trong kỷ nguyên mới. Văn học đại chúng 14 Việt Nam ở kỷ nguyên này được biết tới qua những cây bút như Trang Hạ, Nguyễn Ngọc Thạch, Hamlet Trương, Iris Cao, Gao, Nguyễn Phong Việt. Không chỉ tiếp nhận những hiện tượng văn học đại chúng trong nước, người tiêu thụ văn hoá của thời kỳ này còn đón nhận những hiện tượng văn học — văn hoá nước ngoài. Trong đó dong tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc luôn chiếm lĩnh một khối lượng tiêu thụ không hề nhỏ trong thị trường, những cái tên nồi bật là Diệp Lạc Vô Tâm, Cố Mạn, Phi Ngã Tư Tôn.
Và việc tiếp nhận văn hoá — văn học Hàn Quốc cũng là một xu thé tat yếu khi làn sóng văn hoá Hàn tác động mạnh mẽ tới giới trẻ Việt Nam. Những tác phẩm văn học, du tồn tại với định danh “chuyền thé từ phim truyền hình” cũng thống lĩnh thị trường tiêu thụ như một lẽ tất yếu. Nói như vậy, chúng tôi không hề phủ định tính thâm mĩ hay khả năng sáng của tác phâm văn học — văn hoá đại chúng. Ở đề tài này, chúng tôi còn mong muốn đem lại một cái nhìn khác về văn hoá đại chúng, về khả năng sáng tạo, tính thâm mĩ tiềm an cũng như khả năng “vẫy gọi” của văn ban dù tồn tại ở dang văn hoc hay điện ảnh truyền hình.
Văn học nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo và cái đẹp. Những thứ tầm thường sẽ không tồn tại được qua sự sàng lọc của thời gian và của chính cộng đồng công chúng, những cách tân giả tạo hay những quảng cáo lập loè màu sắc cũng sẽ bị chính cộng đồng tiếp nhận dao thải. Những tác phẩm có giá trị thực sự thì dù được xếp vào hàng văn học tinh hoa hay văn học đại chúng thì vẫn luôn là một sinh thể nghệ thuật có sức lay động người đọc và ảnh hưởng tích cực tới nhân sinh quan và cảm xúc trong họ. Như vậy với tat cả những cơ sở trên, có thé khang định những tác phẩm văn hoá đại chúng, ngoài tính phô biến còn có tính giải trí.
Với đặc trưng này, ba cặp tác pham mà luận văn lựa chọn tiếp cận “Lời hồi đáp 1997”, “Hậu duệ mặt trời”, “Thư ký Kim sao thé?” được xếp vào văn hoá đại chúng. Làn sóng Hallyu và Quyền lực mém Lan sóng Hàn Quốc được gọi tên bằng thuật ngữ Hallyu, hay Việt hoá là Hàn lưu. Đó là khái niệm chỉ hiện tượng văn hoá đại chúng Hàn Quốc có sức lan toả mạnh mẽ và nhanh chóng tới công chúng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trẻ tuổi trên khắp thế giới. Đó là sự ảnh hưởng của thời trang, các sản phâm làm đẹp, phim truyền hình, 15 âm nhạc và mới đây là phim điện anh Han Quoc tới các nước khác, đặc biệt ở châu A.
Hallyu chính là sức mạnh làm nên “quyên lực mêm” của Hàn. Nhiêu nhà nghiên cứu văn hoá cho răng Hallyu chính là cuộc cách mạng văn hoá lớn nhât và nhanh nhât trong lịch sử thế giới hiện đại. Thuật ngữ Hallyu xuất hiện lần đầu tiên năm 1990 trong một bài báo của Nhân dân Nhật báo Trung Quốc. Hallyu trước hết là ảnh hưởng mạnh mẽ của hiện tượng văn hoá đại chúng Hàn tới giới trẻ Trung Quốc.
Kể từ khi Hàn Quốc xây dựng mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, văn hoá đại chúng Hàn đã xâm nhập vào thị trường vốn đã rất mạnh về văn hoá này. Cuộc dan thân đầu tiên của Làn sóng Hàn Quốc vào Trung Quốc phải kế đến sự có mặt của bộ phim truyền hình Ghen (1993), tiếp đến là Tinh yêu là gi? (1997) và đại nhạc hội của của nhóm nhạc H.T (2000) tại đất nước này. Ngay sau đó Làn sóng văn hoá đại chúng Hàn đã lan toả mạnh mẽ sang đến Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông và rộng khắp Đông Nam Á. Vào những năm đầu của thế ky XX, Hallyu là thứ mốt văn hoá thịnh hành ở Việt Nam đến mức khắp nơi trong trung tâm thương mại đều đán poster của các thần tượng nổi tiếng Hàn Quốc, các bộ phim truyền hình Hàn Quốc như Ban tinh ca mùa đông, Nang Dae Jang-geum là món ăn tinh thần không thể thiếu của các gia đình.
Không chỉ dừng lại ở đó, làn sóng Hàn Quốc còn nổi tiếng toàn châu A, lan truyền tới các quốc gia Trung Đông, va dan da xâm lấn cả khu vực Trung Nam Mỹ và châu Âu. Cựu tong thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm Hàn Quốc vào tháng 3 năm 2012 cũng đánh giá cao Han sóng Hàn Quốc va khang định Hallyu là hiện thân sinh động của tiễn bộ kỹ thuật và giải trí nước này. Chỉ từ một vài bộ phim hay bộ vài sản phâm âm nhạc, Hàn Quốc đã khang định vị thế của minh trong trường quốc tế, từ đó góp phần quảng bá âm thực và vẻ đẹp văn hoá Hàn ra thế giới, kéo theo sự vực dậy và phát triển nhanh chóng của nên kinh tê. Nhưng Hallyu không phải thứ đến ngẫu nhiên, không phải làn sóng 6 ạt nhất thời rồi rơi vào quên lãng.
Nó đã được chuẩn bị từ trước và là mục tiêu nhắm đến của quốc gia này trong bối cảnh nền kinh tế khủng khoảng trầm trọng năm 1997. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nếu không có cuộc đại khủng khoảng này thì có lẽ Hallyu cũng chưa xuất hiện. Tình hình nợ khẩn cấp chặn đứng nhiều ngành xuất khâu buộc 16 ngành công nghiệp Hàn Quốc phải tìm ra con người bù đắp doanh thu, người Hàn Quốc đã lựa chọn ngành công nghiệp giải trí, cụ thé là pop culture dé xuất khâu chúng ra nước ngoài. Nhung pop culture của Hàn Quốc thời kỳ đó gần như bằng con số không, và càng không có cửa cạnh tranh với những nền văn hoá đại chúng đã quá lớn mạnh như Mỹ và Anh.
Nhưng chính phủ Hàn đã thiết lập một bộ văn hoá rất khác biệt, một “bộ văn hoá hay ho bậc nhất thế giới” (theo tác giả cuén Gidi mã Han Quốc sành điệu). Hàn Quốc thậm chí đã cho xuất bản những cuốn sách và công trình nghiên cứu hướng dẫn thâm nhập thị trường văn hoá thế giới.