Luận án: Tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc

Phân tích cách tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu Chèo. Khám phá ứng dụng của yếu tố truyền thống vào thiết kế sân khấu đương đại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ nghệ thuật

2021

169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo

Luận án tiến sĩ nghệ thuật của Vũ Đình Toán (2021) thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội. Đề tài nghiên cứu sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu chèo qua hai họa sĩ tiêu biểu: Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc. Mỹ thuật dân gian Việt Nam, tiêu biểu là tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống, mang tính cách điệu cao, giá trị biểu đạt ẩn dụ sâu sắc. Các dòng tranh này sử dụng đường nét giản lược, mảng màu đậm nhạt đặc trưng, phản ánh đời sống tinh thần của người Việt xưa. Trong sân khấu chèo, tính ước lệ và cách điệu của mỹ thuật dân gian phù hợp tự nhiên với đặc trưng nghệ thuật chèo. Hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc đã phát hiện, vận dụng và phát triển các yếu tố mỹ thuật dân gian vào thiết kế trang trí sân khấu chèo, tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo, vừa bảo tồn giá trị truyền thống vừa đáp ứng yêu cầu sáng tạo hiện đại.

1.1. Đặc trưng mỹ thuật dân gian Việt Nam

Mỹ thuật dân gian Việt Nam bao gồm nhiều dòng tranh tiêu biểu như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng. Tranh Đông Hồ được in trên giấy dó bằng bản khắc gỗ, sử dụng màu tự nhiên từ than lá tre, vỏ chàm, hoa điệp. Tranh Hàng Trống in dập bản nét trên giấy trắng bằng mực tàu, dùng phẩm màu vẽ tay vờn đậm nhạt. Cả hai dòng tranh đều có tính cách điệu cao, coi trọng tính giản lược và biểu ý hơn mô tả tả thật. Hình ảnh trong tranh dân gian mang tính trang trí mạnh, ẩn dụ phong phú, phản ánh quan niệm thẩm mỹ và triết lý sống của người Việt.

1.2. Truyền thống trang trí sân khấu chèo

Sân khấu chèo có lịch sử lâu đời, phát triển từ sân đình bến chợ đến nhà hát hiện đại. Trong chèo cổ, không gian sân khấu xử lý theo nguyên tắc ước lệ, cách điệu, không mô tả tả thật. Đầu thế kỷ XX, nhà cách tân Nguyễn Đình Nghị引入 trang trí tả thật vào chèo văn minh và chèo cải lương. Chèo hiện đại xuất hiện nhiều đề tài mới, đòi hỏi phương pháp thiết kế trang trí phù hợp. Các họa sĩ sân khấu chèo phải tìm kiếm giải pháp vừa giữ được bản sắc truyền thống vừa thích ứng với ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.

II. Phân tích tiếp nhận mỹ thuật dân gian của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm

Họa sĩ Nguyễn Đình Hàm là một trong những nghệ sĩ tiên phong phát hiện và vận dụng mỹ thuật dân gian vào thiết kế trang trí sân khấu chèo. Ông nhận ra tính cách điệu và ước lệ trong tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống tương đồng với bản chất nghệ thuật chèo. Trong các thiết kế của mình, Nguyễn Đình Hàm khai thác mảng màu đậm, đường nét giản lược, bố cục có tính trang trí cao từ tranh dân gian. Ông vận dụng các motif hoa văn, hình tượng dân gian vào trang trí phông màn, cảnh trí sân khấu. Thiết kế của Hàm không sao chép nguyên mẫu mà sáng tạo biến đổi, tạo chất phù hợp với tính ước lệ đặc trưng của chèo. Tranh dân gian Đông Hồ với các tác phẩm như Vinh hoa, Phú quý, Lợn đàn cung cấp nguồn cảm hứng dồi dào cho các thiết kế trang trí. Phong cách thiết kế của Nguyễn Đình Hàm奠定了 nền tảng quan trọng cho sự phát triển mỹ thuật sân khấu chèo hiện đại.

2.1. Phát hiện mỹ thuật dân gian trong sáng tạo

Nguyễn Đình Hàm có công lớn trong việc phát hiện giá trị nghệ thuật của mỹ thuật dân gian áp dụng vào sân khấu chèo. Ông nhận ra tranh Đông Hồ có tính cách điệu và giá trị biểu đạt, ẩn dụ lớn, phù hợp với bản chất ước lệ của chèo. Từ hình ảnh em bé ôm gà, ôm vịt trong tranh Vinh hoa Phú quý đến bức Lợn đàn với đường cong mềm mại kết hợp hình xoáy âm dương, Hàm thấy được tiềm năng trang trí sân khấu. Ông nghiên cứu kỹ phương pháp bố cục cách điệu đặc trưng của tranh Hàng Trống, coi trọng tính giản lược biểu ý.

2.2. Vận dụng vào thiết kế trang trí chèo

Trong thiết kế trang trí một số vở chèo, Nguyễn Đình Hàm vận dụng sáng tạo yếu tố mỹ thuật dân gian. Ông sử dụng mảng màu đậm nhạt, đường nét cách điệu từ tranh dân gian vào trang trí phông màn và cảnh trí. Thiết kế của ông không đứng biệt lập mà hòa vào tổng thể trang phục, hóa trang, diễn xuất và ánh sáng. Các motif hoa văn dân gian được biến đổi phù hợp với từng vở diễn, tạo nên không gian sân khấu chèo vừa truyền thống vừa hiện đại, góp phần khắc họa tính cách nhân vật.

III. Kế thừa và phát triển phong cách thiết kế từ họa sĩ Nguyễn Dân Quốc

Họa sĩ - NSND Nguyễn Dân Quốc kế thừa và phát triển phong cách thiết kế trang trí sân khấu chèo từ mỹ thuật dân gian của các bậc thầy, đặc biệt là Nguyễn Đình Hàm. Mỹ thuật chèo của Dân Quốc phần lớn mang tính nguyên chất, tươi rói, thanh thoát, gợi nhớ khắc họa của những bức tranh dân gian Việt Nam. Ông dày công nghiên cứu phục trang sân khấu, tính toán công phu qua mô hình tính cách nhân vật, chất liệu, màu sắc, kiểu cách từng vai diễn. Tuyển tập Mỹ thuật Chèo của Dân Quốc trình bày hàng trăm thiết kế phục trang từ tích cổ đến chèo dân gian, hiện đại. Đặc biệt, phục trang trong sáng tạo của Dân Quốc không đứng biệt lập mà hòa vào trang trí, hóa trang, diễn xuất và ánh sáng, tạo chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh theo nguyên lý âm dương ngũ hành. Phong cách thiết kế của Dân Quốc là bài học quý giá cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối về cách khai thác mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo.

3.1. Kế thừa phong cách thiết kế từ bậc thầy

Nguyễn Dân Quốc kế thừa phong cách thiết kế trang trí sân khấu chèo từ các họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Đình Hàm, Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc. Ông tiếp thu tinh thần vận dụng mỹ thuật dân gian vào sân khấu chèo mà Hàm đã khai phá. Sự kế thừa thể hiện ở việc duy trì tính cách điệu, ước lệ trong thiết kế, sử dụng mảng màu và đường nét mang dấu ấn tranh dân gian. Dân Quốc không sao chép mà phát triển trên nền tảng ấy, tạo nên phong cách riêng mang bản sắc cá nhân.

3.2. Phát triển thiết kế sân khấu chèo hiện đại

Dân Quốc phát triển phong cách thiết kế sân khấu chèo từ mỹ thuật dân gian theo hướng hiện đại hóa. Ông nghiên cứu kỹ hàng trăm mẫu phục trang: yếm, áo cánh, váy dài, áo tứ thân, áo dài năm tà, áo mã tiên, áo mệnh phụ cho nữ; áo cánh, áo vạt buồm, quần lá tọa, áo dài thư sinh cho nam. Mỗi thiết kế tính toán tỷ mỷ qua chất liệu, màu sắc phù hợp từng nghệ sĩ. Phục trang hòa nhập tổng thể ánh sáng, hóa trang, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao trong mối quan hệ âm dương ngũ hành.

IV. Kết luận và ứng dụng thiết kế trang trí sân khấu chèo

Luận án tiến sĩ của Vũ Đình Toán đã hệ thống hóa quá trình tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu chèo qua hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mỹ thuật dân gian, đặc biệt tranh Đông Hồ và Hàng Trống, là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo sân khấu chèo. Tính cách điệu, ước lệ trong tranh dân gian phù hợp tự nhiên với bản chất nghệ thuật chèo. Nguyễn Đình Hàm đặt nền tảng, Nguyễn Dân Quốc kế thừa và phát triển, tạo nên dòng chảy nghệ thuật liên tục. Bài học rút ra cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối: phải nghiên cứu sâu mỹ thuật dân gian, hiểu bản chất ước lệ của chèo, vận dụng sáng tạo而非 sao chép nguyên mẫu. Thiết kế trang trí sân khấu chèo cần hòa nhập tổng thể với phục trang, hóa trang, ánh sáng, diễn xuất. Ứng dụng nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới cho bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân gian trong nghệ thuật sân khấu đương đại.

4.1. Bài học cho thế hệ họa sĩ tiếp nối

Nghiên cứu về hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc rút ra nhiều bài học quý cho thế hệ họa sĩ tiếp nối. Thứ nhất, phải am hiểu sâu sắc mỹ thuật dân gian, nắm vững đặc trưng cách điệu và biểu ý. Thứ hai, cần hiểu bản chất ước lệ của sân khấu chèo để vận dụng phù hợp. Thứ ba, thiết kế phải hòa nhập tổng thể với các yếu tố khác của vở diễn. Thứ tư, sáng tạo dựa trên truyền thống, không sao chép nguyên mẫu mà biến đổi phù hợp ngữ cảnh hiện đại.

4.2. Ứng dụng trong bảo tồn văn hóa dân gian

Nghiên cứu sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn văn hóa dân gian. Việc vận dụng tranh Đông Hồ, Hàng Trống vào trang trí sân khấu giúp giới thiệu và quảng bá di sản mỹ thuật dân gian đến công chúng rộng rãi. Đồng thời, ứng dụng này tạo ra sản phẩm nghệ thuật mới mang bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ hiện đại. Mô hình tiếp nhận này có thể áp dụng cho các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống khác như tuồng, cải lương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghệ thuật sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu chèo của hai họa sĩ nguyễn đình hàm và nguyễn dân quốc

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, phần Tổng quan tài liệu, Danh mục công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Phần Nội dung luận án đƣợc chia làm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. (35 trang) Chƣơng 2: Tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí Chèo của họa sĩ - NSND Nguyễn Đình Hàm. (27 trang) Chƣơng 3: Sự kế thừa và phát triển phong cách thiết kế từ mỹ thuật dân gian trong trang trí sân khấu Chèo của họa sĩ – NSND Nguyễn Dân Quốc và bài học cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối.

(28 trang) 12 PHẦN TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nói đến tài liệu nghiên cứu về Chèo, mỹ thuật sân khấu Chèo nói chung và thiết kế trang trí sân khấu Chèo nói riêng là nói đến hệ thống các tài liệu từ các bài báo nhỏ lẻ đến các công trình nghiên cứu lớn và phân tích trên cơ sở các thành tố của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, đó là trang trí bài trí sân khấu, phục trang, hóa trang và đạo cụ biểu diễn. Trong hệ thống các loại tài liệu tổng quan, nghiên cứu sinh (sau đây viết tắt là NCS) xắp xếp các tài liệu các nhóm nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm: 1. Nhóm tài liệu về thiết kế mỹ thuật sân khấu nói chung và sân khấu Chèo nói riêng Bàn về thiết kế mỹ thuật sân khấu nói chung, sân khấu Chèo nói riêng các nhà nghiên cứu từ trƣớc tới nay đều có đánh giá chung: Sân khấu Chèo có tính ƣớc lệ, nên các vở Chèo trƣớc đây (Chèo sân đình) đều không có trang trí mà không gian của vở diễn chỉ đƣợc thể hiện qua các động tác diễn xuất và lời nói của diễn viên. Sân khấu Chèo ngày nay đã có trang trí.

Tuy nhiên, tùy từng quan niệm, chủ đề, giai đoạn mà trang trí sân khấu Chèo có rất nhiều xu hƣớng thiết kế khác nhau và góp phần rất quan trọng trong việc hình thành các vở diễn Chèo hiện đại. Hệ thống tài liệu của các nhà nghiên cứu hiện nay trƣớc tiên phải kể đến các bài báo đăng trên các báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo.; sau đó phải kể đến cuốn “Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam” của họa sĩ - NSND Phùng Huy Bính và các cuốn: “Mỹ thuật Chèo truyền thống”, “Trang trí Chèo 50 năm một chặng đường phát triển (1951 - 2001)”, “ Mỹ thuật Chèo” của họa sĩ - NSND Nguyễn Dân Quốc là những công trình tầm cỡ duy nhất đề cập kỹ lƣỡng về trang trí mỹ thuật sân khấu Chèo và một số luận án tiến sỹ, luận văn, tiểu luận thạc sỹ và cử nhân,. Trƣớc tiên đề cập đến vấn đề mỹ thuật sân khấu nói chung, trong cuốn sách “Mỹ thuật sân khấu kịch Việt Nam” của họa sĩ - NSND Phùng Huy Bính, đã có những đánh giá chính xác về mỹ thuật sân khấu ở thời kỳ mà các vở 13 diễn đều trong cảnh lang thang qua các làng xã, lƣu diễn tại các sân đình, bãi chợ, bến sông, sân tƣ gia, với đôi hòm gánh trên vai (gọi là gánh hát) nghèo nàn về vốn liếng trang thiết bị vật chất, nên mỹ thuật sân khấu thật sự chƣa thể có chỗ đứng, mà chỉ thu hẹp lại trong những gì có liên quan trực tiếp đến yếu tố biểu diễn của diễn viên nhƣ phục trang, hóa trang, đạo cụ, trang trí sân khấu là thông qua lời giao đãi và những động tác tả ý của diễn viên gợi lên. Nhƣ vậy, khái niệm mỹ thuật của sân khấu Chèo cổ xƣa chỉ có phục trang, hóa trang và những đạo cụ cần thiết nhất, chứ chƣa hề có trang trí.

Các không gian trong vở diễn Chèo cổ đều dựa vào nghệ thuật diễn xuất (những tổ hợp động tác vũ đạo) của các diễn viên đóng vai. Tác giả, họa sĩ - NSND Phùng Huy Bính cũng cho rằng, vào những thập niên đầu thế kỷ XX, khi Chèo ra thành phố và biểu diễn trên sân khấu hộp trong rạp cố định, “bắt chƣớc” kịch phƣơng Tây, bấy giờ mới có trang trí. Trong cuốn sách này, tác giả, họa sĩ, NSND Phùng Huy Bính đã dẫn ngƣời đọc đi ngƣợc thời gian, nhìn lại mỹ thuật sân khấu kịch nói từ thời kỳ sơ khai, những vở diễn chỉ là họa sĩ mỹ thuật tranh thủ sang làm giúp thiết kế mỹ thuật sân khấu, trong đó có Chèo; mãi đến khi có khái niệm thiết kế mỹ thuật sân khấu, thì lúc ấy mới có khái niệm về tính “ƣớc lệ, cách điệu, tƣợng trƣng” của mỹ thuật trên sân khấu Chèo. Cũng có thể nói, vì phát triển trong cùng một bối cảnh xã hội, nên sân khấu Chèo đã luôn sánh vai cùng mỹ thuật sân khấu kịch nói và tuồng, và thƣờng là theo cách cắt cúp, cách điệu hoặc ƣớc lệ sao cho tạo ra đƣợc một không gian (khắc họa những địa điểm) thích hợp nhất cho những hoàn cảnh của các nhân vật, một không khí, một trạng thái cảm xúc, một phong cách… thích hợp nhất của vở diễn, chứ chƣa chắc xuất phát từ phƣơng pháp, phong cách thể loại của Chèo,.

Để có thể nêu lên những nét chính, thiết yếu, cơ bản của hoạt động sân khấu kịch nói mà chủ yếu là của mỹ thuật sân khấu kịch nói trên những giai đoạn hình thành và phát triển của chính nó, cuốn sách của họa sĩ - NSND Phùng Huy Bính đƣợc trình bày thành các phần nhƣ: i) Phần 14 thứ nhất: Mỹ thuật sân khấu kịch nói giai đoạn trƣớc Cách mạng tháng Tám (1920-1945); ii) Phần thứ hai: Mỹ thuật sân khấu kịch nói giai đoạn Cách mạng tháng Tám thành công và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954); iii) Phần thứ ba: Mỹ thuật sân khấu kịch nói giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nƣớc (1955-1975); iv) Phần thứ tư: Mỹ thuật sân khấu kịch nói giai đoạn Độc lập và thống nhất đất nƣớc (1975-2000). Nói đến các tài liệu nghiên cứu về mỹ thuật sân khấu Chèo cần phải kể đến họa sĩ, NSND Nguyễn Dân Quốc. Năm 2007, ông đã cho xuất bản một cuốn sách nói về mỹ thuật Chèo mang tên “Mỹ thuật Chèo truyền thống” [83]. Trong cuốn sách này, tác giả, họa sĩ - NSND Nguyễn Dân Quốc tập trung nghiên cứu, phân tích về mỹ thuật Chèo truyền thống và những bộ phận cấu thành nên mỹ thuật Chèo truyền thống.

Tuy chƣa đề cập sâu đến yếu tố mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo, nhƣng những gì đƣợc viết ra trong cuốn sách của họa sĩ - NSND Nguyễn Dân Quốc đã phản ánh đúng con ngƣời và sự nghiệp của ông. Những luận điểm trong cuốn sách có sự gắn bó chặt chẽ với những tác phẩm của tác giả. Đọc những trang ông miêu tả những đồ mặc, đồ đội, đồ đi trong phục trang, những cách hóa trang, những vật thực, vật hƣ trong đạo cụ ngƣời ta hiểu đƣợc một cách chính xác về công việc của ngƣời họa sĩ trong thiết kế và thực hiện phần mỹ thuật cho một vở diễn Chèo. Có thể khẳng định rằng, cuốn sách này là công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về lý luận và thực tiễn của mỹ thuật sân khấu Chèo truyền thống, phù hợp với định hƣớng nghiên cứu và hoạt động thực nghiệm của Nhà hát Chèo Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI và nằm trong định hƣớng chung về đƣờng lối văn hóa của Đảng và Nhà nƣớc ta, thể hiện rõ qua Nghị quyết Trung ƣơng 5 (Khóa VIII) về việc bảo tồn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc… 15 Một trong những tài liệu quan trọng cần kể đến là cuốn “Trang trí Chèo 50 năm một chặng đường phát triển (1951- 2001) [85], cuốn sách đã tập trung khảo sát những khía cạnh của trang trí Chèo từ năm 1951 đến 2001: Lịch sử trang trí Chèo ở các giai đoạn phát triển; trang trí Chèo với những đề tài, những phong cách, khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, đồng thời phân tích những vấn đề dựa trên cơ sở thực tiễn của các vở diễn.

Cuốn sách đã phát hiện ra những cái hay, cái đẹp để đối chiếu, so sánh tìm ra các giá trị thẩm mỹ và phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế của thiết kế trang trí sân khấu Chèo giai đoạn 1951 – 2001. Bên cạnh các bài nghiên cứu, các bài báo, các sách chuyên khảo nghiên cứu về mỹ thuật sân khấu Chèo, còn có nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học cũng lựa chọn chủ đề thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo cho hƣớng nghiên cứu của luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Luận án tiến sĩ “Những vấn đề về trang phục truyền thống (tuồng và Chèo)” của Đoàn Thị Tình [98] là một công trình nghiên cứu chuyên sâu và có nhiều giá trị. Tính chất của công trình chủ yếu thiên về lịch sử trang phục, đối tƣợng nghiên cứu là mỹ thuật ở giai đoạn Chèo truyền thống.

Tuy vậy, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên, cung cấp nhiều tƣ liệu mỹ thuật quý, hiếm cho các họa sĩ thiết kế trang trí Chèo. Bên cạnh đó, luận án “Những yếu tố mỹ thuật của Chèo cổ và ứng dụng những yếu tố đó vào Chèo hiện đại ngày nay” của họa sĩ Đinh Quý Thêm là những nghiên cứu đáng quý cho thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo [93]. Năm 2012, trong luận văn thạc sĩ nghệ thuật sân khấu “Một số khuynh hướng thiết kế mỹ thuật trong Chèo” [48], tác giả Trần Đức Minh trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của phƣơng pháp sáng tạo nghệ thuật Chèo, cũng nhƣ các nguyên tắc trong sáng tạo thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, đã phân tích và đƣa ra một số khuynh hƣớng chính trong sự phát triển của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo; nhằm phát hiện những cái hay, cái đẹp của các khuynh hƣớng thiết kế mỹ thuật Chèo. Đồng thời, thông qua những phân tích về yếu 16 tố thiết kế mỹ thuật Chèo ở một số vở diễn cụ thể, tác giả đƣa ra những nguyên nhân thành công và chƣa thành công của từng khuynh hƣớng đó.

Trong luận văn, tác giả đã giới thiệu sự hình thành và phát triển của mỹ thuật sân khấu Chèo, nhƣ: Khái lƣợc về sự hình thành và phát triển nghệ thuật Chèo, đƣa ra một số khuynh hƣớng thiết kế mỹ thuật trong sân khấu Chèo và từ đó vận dụng một số phƣơng pháp xử lý không gian trong Chèo truyền thống vào thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo đƣơng đại. Đây cũng có thể coi là một nguồn tƣ liệu hữu ích về chủ đề thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo nói chung và thiết kế trang trí sân khấu Chèo từ yếu tố mỹ thuật dân gian Việt Nam nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ