Tổng quan luận án
| Thông tin học thuật |
Chi tiết |
| Tiêu đề luận án |
Sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc |
| NCS thực hiện |
Vũ Đình Toán |
| Người hướng dẫn khoa học |
PGS. Nguyễn Đình Thi |
| Chuyên ngành |
Lý luận và Lịch sử Sân khấu |
| Mã số chuyên ngành |
9 21 02 21 |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội |
| Năm bảo vệ |
2021 |
| Dung lượng văn bản |
124 trang chính văn (kèm phụ lục hình ảnh và tài liệu tham khảo) |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sân khấu Chèo truyền thống khởi nguồn từ không gian diễn xướng dân gian tại sân đình, bến chợ, gắn liền với mô hình các gánh hát lưu diễn mang tính cơ động. Trong không gian nguyên hợp đó, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên đóng vai trò trung tâm thông qua các tổ hợp động tác múa, hát, giao đãi nhằm gợi mở không gian ước lệ; các thành tố mỹ thuật chỉ dừng lại ở phục trang, đạo cụ và hóa trang tối giản mà chưa hình thành thành phần trang trí bối cảnh cố định.
Đến những thập niên đầu thế kỷ XX, quá trình đô thị hóa đưa Chèo vào biểu diễn trong các nhà hát hộp cố định theo mô hình phương Tây (Chèo văn minh, Chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị). Việc này nảy sinh yêu cầu cấp thiết về trang trí phông cảnh nhằm đáp ứng thị hiếu của công chúng thành thị, ban đầu dẫn tới khuynh hướng sao chép tả thực kịch nghệ phương Tây hoặc lắp ghép bối cảnh một cách khiên cưỡng ("thói đa dùng").
Vấn đề thiết kế mỹ thuật Chèo mang tính hệ thống chỉ thực sự được định hình từ năm 1956 khi Đoàn Chèo Trung ương phục dựng vở Quan Âm Thị Kính với sự tham gia của các họa sĩ tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương gồm Sĩ Ngọc, Quang Phòng và Nguyễn Đình Hàm. Tiếp nối tiến trình đó, họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và học trò là họa sĩ Nguyễn Dân Quốc đã khai thác các giá trị ước lệ của mỹ thuật dân gian để giải quyết bài toán không gian sân khấu hộp cho nghệ thuật Chèo.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích một cách toàn diện mối quan hệ ảnh hưởng từ mỹ thuật dân gian đến tư duy thiết kế trang trí sân khấu Chèo qua thực tiễn sáng tạo của hai tác giả tiêu biểu là họa sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Nguyễn Đình Hàm và họa sĩ, NSND Nguyễn Dân Quốc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phát hiện và lý giải tư duy sáng tạo của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo, đồng thời xác định hiệu quả của việc vận dụng các yếu tố mỹ thuật dân gian Việt Nam trong tiến trình hình thành hình tượng nghệ thuật của vở diễn Chèo hiện đại.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Nghiên cứu, phân tích những biến đổi trong từng giai đoạn sáng tác cụ thể của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo.
- Nhận diện phương pháp trang trí sân khấu Chèo của hai họa sĩ, khẳng định việc vận dụng mỹ thuật dân gian là một phong cách thiết kế trang trí sân khấu Chèo mang tính định hình.
- Rút ra bài học áp dụng thực tiễn cho các thế hệ họa sĩ kế cận trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của vở diễn Chèo hiện đại từ phong cách thiết kế trang trí của hai tác giả.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Luận án giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu:
- NSND Nguyễn Đình Hàm và NSND Nguyễn Dân Quốc đã tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong sáng tạo của họ như thế nào?
- Hiệu quả của sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo là gì?
- Tác động và ảnh hưởng từ phong cách của hai ông đối với các thế hệ họa sĩ tiếp nối ra sao?
Hai giả thuyết nghiên cứu được xác lập:
- Họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc tiếp nhận mỹ thuật dân gian dựa trên sự nhận thức sâu sắc về mục đích xây dựng hình tượng nghệ thuật tổng thể của vở diễn Chèo.
- Có sự kế thừa liên tục từ họa sĩ Nguyễn Đình Hàm sang họa sĩ Nguyễn Dân Quốc và các thế hệ sau về việc vận dụng mỹ thuật dân gian, trong đó mỗi tác giả hình thành phương pháp sáng tạo và dấu ấn cá nhân riêng biệt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thiết kế trang trí sân khấu Chèo của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc trong mối quan hệ tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố mỹ thuật dân gian trên bình diện lý luận và thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Khảo sát, phân tích các bản vẽ ma-két, ảnh chụp sân khấu và hiện trường biểu diễn của các vở Chèo mẫu mực do hai họa sĩ thực hiện (thuộc khối lượng di sản khoảng 170 vở diễn).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghệ thuật sân khấu Chèo từ mốc phục dựng trò diễn Quan Âm Thị Kính (năm 1956), qua các dấu mốc năm 1972, 1973 đến giai đoạn phát triển Chèo đương đại đầu thế kỷ XXI tại các đơn vị nghệ thuật như Đoàn Chèo Trung ương (nay là Nhà hát Chèo Việt Nam), Đoàn Chèo Thái Bình, Đoàn Chèo Hà Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân loại thành 5 nhóm nguồn tư liệu chính:
Hệ thống tài liệu tổng quan
1. Nhóm tài liệu về thiết kế mỹ thuật sân khấu và sân khấu Chèo
- Họa sĩ, NSND Phùng Huy Bính trong cuốn Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam đã phân chia lịch sử mỹ thuật sân khấu kịch qua 4 giai đoạn (1920-1945, 1945-1954, 1955-1975, 1975-2000), khẳng định tính chất nghèo nàn của mỹ thuật sân khấu truyền thống buổi đầu và quá trình tiếp nhận sân khấu hộp phương Tây.
- Họa sĩ, NSND Nguyễn Dân Quốc với các công trình Mỹ thuật Chèo truyền thống (2007), Trang trí Chèo 50 năm một chặng đường phát triển (1951 - 2001) và bộ sách 3 tập Mỹ thuật Chèo (2007) đã hệ thống hóa các thành tố trang trí, phục trang, hóa trang, đạo cụ của Chèo truyền thống và Chèo hiện đại.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Tình về trang phục truyền thống Tuồng - Chèo (1998) và luận án của Đinh Quý Thêm về các yếu tố mỹ thuật của Chèo cổ và ứng dụng vào Chèo hiện đại.
- Luận văn thạc sĩ của Trần Đức Minh (2012) về Một số khuynh hướng thiết kế mỹ thuật trong Chèo.
2. Nhóm tài liệu về không gian và xử lý không gian sân khấu
- Các công trình lý thuyết quốc tế bằng tiếng Pháp: Esthétique générale du décor de théâtre de 1870 à 1914, Le théâtre Annamite, Le Théâtre et L'existence, Cogniat cinquante les décorateurs de théâtre.
- Các nghiên cứu chuyên khảo trong nước: Cuốn Không gian sân khấu và nghệ sĩ của Nguyễn Thị Hợp và Thời gian và không gian sân khấu của Vũ Minh, phân tích sự tương tác giữa không gian biểu diễn và hoạt động sáng tạo của đạo diễn, diễn viên.
3. Nhóm tài liệu về nghệ thuật Chèo dưới góc nhìn văn hóa - nghệ thuật dân gian
- Các công trình của Ban Nghiên cứu Chèo (thành lập từ Tổ nghiên cứu Chèo năm 1954, phát triển thành Ban năm 1958) với các học giả và nghệ nhân: Trần Huyền Trân, Hà Văn Cầu, Trần Bảng, Trần Việt Ngữ, Hoàng Kiều, Bùi Đức Hạnh, Cả Tam, Trùm Thịnh, Năm Ngũ, Dịu Hương, Minh Lý; cùng các nghiên cứu của Vũ Khắc Khoan (miền Nam trước 1975).
- Tác phẩm Khái luận về nghệ thuật Chèo của GS. NSND Trần Bảng; Đường trường phải chiều và Con đường phát triển của Chèo của PGS. TS. Trần Đình Ngôn.
- Các tiểu luận chuyên ngành của Trần Trí Trắc (Nghệ thuật Chèo truyền thống phục hồi và phát triển - phân tích 3 phương thức trang trí qua 15 vở diễn tại hội diễn; Cảm nhận về Mỹ thuật Chèo của NSND - Họa sĩ Nguyễn Dân Quốc), Trần Việt Ngữ, Trần Minh Phượng.
- Các công trình nghiên cứu múa và âm nhạc Chèo của Lâm Tô Lộc, Lê Ngọc Canh, Bùi Đức Hạnh, Hà Thị Hoa.
4. Nhóm tài liệu về mỹ thuật dân gian
- Công trình Tranh dân gian làng Hồ của Từ Thị Loan; Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến của Nguyễn Du Chi; tài liệu Hoa văn Đại Việt cùng các bài khảo cứu mỹ thuật cổ trên Tạp chí Mỹ thuật.
5. Nhóm tư liệu về các bản thiết kế của tác giả nghiên cứu
- Bộ tuyển tập Mỹ thuật Chèo 3 tập của NSND Nguyễn Dân Quốc: Tập 1 về đề tài truyền thống và lịch sử (Trương Viên, Lọ nước thần, Nàng Thiệt Thê); Tập 2 về đề tài hiện đại (Cô hàng rau, Bão rừng, Ngôi sao Hạ Long, Ni cô Đàm Vân, Nhớ về Bắc Mã); Tập 3 về hệ thống hàng trăm ma-két trang phục nam - nữ.
- Các bài viết tư liệu đánh giá sự nghiệp của NSND Nguyễn Đình Hàm qua các vở Quan Âm Thị Kính (1956, 1972), Lọ nước thần (1972), Tình rừng (1973).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các tài liệu trước đây đã đề cập đến từng khía cạnh như trang phục, âm nhạc, lịch sử thể loại hoặc ghi chép hồi ức nghề nghiệp, nhưng chưa có công trình nào phân tích có hệ thống tiến trình chuyển hóa mỹ thuật dân gian thành ngôn ngữ thiết kế trang trí sân khấu hộp cho Chèo. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào điểm giao thoa giữa Sân khấu học và Mỹ thuật học, giải quyết khoảng trống về phương pháp luận thiết kế bối cảnh Chèo dựa trên di sản mỹ thuật truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 4 trụ cột lý thuyết:
- Lý luận Sân khấu học: Quan niệm tác phẩm sân khấu là một chỉnh thể nghệ thuật tổng hợp, trong đó mỹ thuật sân khấu là thành phần cấu tạo nên phương diện "nhìn", tham gia định hình môi trường sống và xung đột kịch của nhân vật.
- Lý thuyết về Sân khấu truyền thống Việt Nam: Đặc trưng thi pháp thể loại Chèo với phương pháp "tự sự - ước lệ nhằm tả ý", đối lập với thi pháp tả thực của kịch nói phương Tây.
- Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation): Xem xét sự chuyển hóa giữa các yếu tố văn hóa nội sinh (mỹ thuật dân gian, diễn xướng sân đình) khi tiếp xúc với yếu tố ngoại sinh (mô hình sân khấu hộp, kỹ thuật chiếu sáng hiện đại).
- Tiếp cận Xã hội học nghệ thuật: Đặt tác phẩm mỹ thuật sân khấu trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử, chính trị, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đô thị và nông thôn qua từng thời kỳ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và liên ngành:
| Phương pháp |
Nội dung và phạm vi triển khai |
| Phương pháp điền dã |
Khảo sát thực tế tại các nhà hát, đoàn Chèo, bảo tàng, làng nghề tranh dân gian (Đông Hồ, Hàng Trống), đình chùa cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ nhằm thu thập tư liệu hoa văn, điêu khắc và hình ảnh sân khấu thực tế. |
| Phương pháp tiếp cận liên ngành |
Kết hợp tri thức giữa Sân khấu học, Mỹ thuật học, Lịch sử nghệ thuật, Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học và Khảo cổ học để phân tích đa chiều hiện tượng du nhập sân khấu hộp vào Việt Nam. |
| Phương pháp so sánh, đối chiếu |
So sánh đồng đại và lịch đại giữa phong cách xử lý bối cảnh của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc; so sánh nguyên mẫu mỹ thuật dân gian gốc với bản thiết kế sân khấu đã cách điệu. |
| Phương pháp phân tích, tổng hợp |
Giải mã các đồ án ma-két, phân tích kết cấu không gian, đường nét, mảng màu phẳng, sắc độ, ánh sáng và bố cục bối cảnh trong mối tương quan với kịch bản văn học và diễn xuất. |
| Phương pháp chuyên gia |
Tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu sân khấu, đạo diễn, nhà phê bình mỹ thuật và các họa sĩ từng làm việc trực tiếp với hai tác giả Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc. |
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc 3 chương của phần Nội dung luận án
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 (dung lượng 35 trang) xác lập hệ thống khái niệm công cụ và phân tích bối cảnh thực tiễn của sân khấu Chèo qua các thời kỳ:
- Hệ thống khái niệm: Luận giải các thuật ngữ Mỹ thuật, Mỹ thuật dân gian, Mỹ thuật sân khấu, Trang trí sân khấu, Thiết kế trang trí sân khấu (trên sân khấu hộp) và Sân khấu Chèo.
- Xử lý không gian trong Chèo cổ (Chèo sân đình):
- Không gian diễn xướng mang tính "trống rỗng" và ước lệ cao, xác lập bởi manh chiếu đậu cạp điều trải giữa sân đình, quy ước cửa sinh (bên trái) và cửa tử (bên phải).
- Tấm màn hậu đơn sắc (đỏ sẫm hoặc thanh thiên) đóng vai trò làm nền thị giác trung tính, không vẽ cảnh cụ thể, tạo khả năng đa năng hóa không gian.
- Tấm rèm (đơzem) chia đôi sân khấu thành cảnh đường và cảnh nhà; sử dụng mồi lửa (đuốc bốc khói) tạo không gian kỳ ảo trong các cảnh chạy giặc hay tiên giới.
- Các vật dụng như hòm, bồ đựng đồ nghề được ước lệ hóa thành ngai vàng, án thư, bàn ghế hoặc núi non thông qua động tác diễn xuất của diễn viên.
- Tính chất cách điệu và ước lệ của mỹ thuật dân gian: Phân tích đặc trưng ngôn ngữ tạo hình của tranh dân gian Đông Hồ (bố cục mảng bẹt, viền nét đen dứt khoát, màu sắc tự nhiên từ than lá tre, rỉ đồng, hoa hòe, sỏi son, nền điệp) và tranh Hàng Trống (kỹ thuật vờn màu bút lông, tranh thờ, tranh tứ bình), cùng điêu khắc gỗ đình làng và hoa văn cổ.
- Biến đổi qua các giai đoạn: Điểm lại giai đoạn trang trí tả chân thời kỳ Chèo văn minh, Chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện đề tài hiện đại và tiểu sử nghệ thuật của hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc.
Chương 2: Tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí Chèo của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm
Chương 2 (dung lượng 27 trang) đi sâu phân tích quá trình khai phá ngôn ngữ tạo hình dân gian của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm:
- Phát hiện và định hình phương pháp: Là một trong những họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương tham gia thiết kế sân khấu Chèo, Nguyễn Đình Hàm nhận ra sự tương đồng về bản chất ước lệ giữa tranh dân gian và phương pháp tả ý của Chèo. Ông từ bỏ lối vẽ phông cảnh tả thực theo luật viễn cận phương Tây để đưa các mảng phẳng, đường nét cô đọng của tranh dân gian vào bối cảnh sân khấu hộp.
- Phân tích các tác phẩm tiêu biểu:
- Vở Quan Âm Thị Kính (Nhà hát Chèo Việt Nam dựng năm 1956 và Đoàn Chèo Thái Bình dựng năm 1972): Khai thác triệt để bố cục và bảng màu của tranh dân gian Đông Hồ, kết hợp đường nét thanh thoát nhằm tạo nên không gian đậm chất thơ và chất trữ tình dân tộc.
- Các vở Chèo đề tài hiện đại và cổ tích: Lọ nước thần (1972), Tình rừng (1973) – những công trình được GS. NSND Trần Bảng đánh giá là đặt nền móng tạo hình cho mỹ thuật Chèo hiện đại, khẳng định vai trò đồng sáng tạo của họa sĩ trong việc giải phóng sàn diễn cho diễn viên.
Chương 3: Sự kế thừa và phát triển phong cách thiết kế từ mỹ thuật dân gian trong trang trí sân khấu Chèo của họa sĩ Nguyễn Dân Quốc và bài học cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối
Chương 3 (dung lượng 28 trang) khảo cứu sự phát triển phong cách ở giai đoạn tiếp nối:
- Kế thừa và mở rộng chất liệu tạo hình: NSND Nguyễn Dân Quốc tiếp thu tư duy thẩm mỹ của thầy mình (Nguyễn Đình Hàm), đưa nguyên lý ước lệ dân gian vào hơn 170 vở diễn với việc mở rộng sang nhiều chất liệu mỹ thuật dân tộc: tranh khắc gỗ (Cô hàng rau), tranh lụa (Bão rừng, Ngôi sao Hạ Long), sơn mài, sơn khắc (Ni cô Đàm Vân), tranh xé giấy (Nhớ về Bắc Mã).
- Thủ pháp sáng tạo đặc thù của Nguyễn Dân Quốc:
- Lấy ý để tả thực: Sử dụng các biểu tượng có tính khái quát, triết lý cao (ví dụ: vở Súy Vân năm 2001 dùng hình ảnh thái cực trên nền vầng trăng vàng kết hợp mạng nhện và bốn tấm bình phong "Xuân - Hạ - Thu - Đông" để khái quát bi kịch số phận người phụ nữ).
- Lấy thực để tả ý: Dùng các yếu tố tả thực để chuyển tải tư tưởng (vở Bão giữa nhà ông năm 1995 thiết kế mỗi cảnh như một bức tranh Đông Hồ để phản ánh mâu thuẫn gia đình đương đại).
- Hệ thống biểu tượng thiên nhiên và xử lý màu sắc: Sử dụng hình tượng ước lệ như vầng trăng khuyết, dải mây ngũ sắc bay, khóm trúc, nhành mai chuyển động theo diễn xuất; phân định hai gam màu chủ đạo: gam nóng cho cảnh cung đình, quyền quý (Lời sấm truyền từ quán Trung Tân, Từ Thức, Trần Anh Tông) và gam lạnh cho các vở bi kịch, trữ tình thuộc âm tính của Chèo (Trương Viên, Lọ nước thần).
- Ứng dụng mô hình chiếu Chèo sân đình vào sân khấu hộp: Tạo các mặt bằng sàn diễn đa năng, thông thoáng, không làm cản trở vũ đạo Chèo.
- Bài học thực tiễn cho thế hệ tiếp nối: Xác lập nguyên tắc đồng bộ giữa trang trí bối cảnh với phục trang, đạo cụ, ánh sáng; giữ vững bản sắc ước lệ tả ý của Chèo, tránh nguy cơ tả thực hóa hoặc lạm dụng kỹ thuật số làm mất đi "hồn cốt" sân khấu truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa lý luận về mỹ thuật sân khấu Chèo: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu làm rõ quá trình vận động của mỹ thuật sân khấu Chèo từ không gian diễn xướng sân đình sang sân khấu hộp cố định.
- Xác lập nguyên tắc tiếp nhận mỹ thuật dân gian: Chứng minh việc khai thác mỹ thuật dân gian (tranh khắc gỗ, điêu khắc đình làng, hoa văn cổ) không phải là sự sao chép hình thức đơn thuần, mà là sự đồng điệu về bản chất ước lệ, tượng trưng giữa mỹ thuật dân tộc và thi pháp sân khấu Chèo.
- Định hình phong cách tạo hình sân khấu Chèo hiện đại: Khái quát các thủ pháp nghệ thuật cốt lõi ("lấy ý tả thực", "lấy thực tả ý", nguyên lý sử dụng gam màu âm - dương ngũ hành, biểu tượng hóa bối cảnh) thành hệ thống lý luận có giá trị khoa học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khảo cứu và tư liệu hóa di sản tác phẩm: Phân tích, đánh giá có hệ thống khối lượng bản vẽ thiết kế, ma-két và hình ảnh sân khấu tiêu biểu của hai thế hệ họa sĩ đầu ngành (Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc).
- Định hướng thực hành nghề nghiệp: Cung cấp các bài học kinh nghiệm về việc xử lý không gian, tránh tình trạng trang trí rườm rà, bục bệ chiếm lĩnh sàn diễn, giúp giải phóng không gian cho nghệ thuật diễn xuất của diễn viên.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn: Đưa ra các giải pháp giữ gìn bản sắc thẩm mỹ truyền thống trong bối cảnh sân khấu hiện đại chịu tác động mạnh mẽ của công nghệ trình chiếu và kỹ thuật số.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo cứu sâu vào thực tiễn sáng tạo của hai tác giả đại diện tiêu biểu (Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc) trong mối liên hệ với các dòng mỹ thuật dân gian chủ chốt của đồng bằng Bắc Bộ (tranh Đông Hồ, Hàng Trống, điêu khắc đình làng). Do giới hạn nguồn tư liệu hình ảnh lịch sử giai đoạn 1956-1975, một số vở diễn chỉ có thể tiếp cận qua ma-két hoặc bản ghi chép phục dựng.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các phong cách thiết kế trang trí Chèo của những họa sĩ tiêu biểu khác cùng thời kỳ và thế hệ đương đại (như Lê Huy Quang, Bùi Vũ Minh, Hoàng Song Hào).
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ đồ họa, kỹ thuật chiếu sáng thông minh kết hợp với ngôn ngữ mỹ thuật dân gian trong dàn dựng Chèo thế kỷ XXI.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Sân khấu và Mỹ thuật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật về lịch sử mỹ thuật sân khấu Việt Nam, phương pháp phân tích tác phẩm tạo hình sân khấu và thi pháp Chèo.
- Giảng viên và cơ sở đào tạo nghệ thuật (Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Đại học Mỹ thuật Việt Nam): Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về thiết kế mỹ thuật sân khấu truyền thống, xử lý không gian ước lệ.
- Họa sĩ thiết kế sân khấu, đạo diễn tại các Nhà hát Chèo: Tham khảo phương pháp vận dụng hoa văn, chất liệu tranh dân gian, điêu khắc cổ vào các vở diễn đề tài lịch sử và hiện đại nhằm đảm bảo tính đồng bộ thị giác.
- Nhà quản lý văn hóa và lý luận phê bình: Căn cứ đánh giá tiêu chuẩn mỹ thuật sân khấu trong các kỳ liên hoan, hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Sự khác biệt cơ bản giữa xử lý không gian trong Chèo cổ sân đình và Chèo trên sân khấu hộp là gì?
Trong Chèo cổ sân đình, không gian hoàn toàn mang tính quy ước trên mảnh chiếu diễn, dựa vào lời hát, động tác vũ đạo và sự tưởng tượng của khán giả mà không có bối cảnh trang trí cố định. Khi chuyển sang sân khấu hộp kín ba mặt, người họa sĩ phải thiết kế phông cảnh, bục bệ, ánh sáng cụ thể nhưng vẫn phải đảm bảo tính ước lệ, cách điệu để không cản trở diễn xuất của diễn viên.
2. Họa sĩ Nguyễn Đình Hàm đã có đóng góp bản lề nào cho mỹ thuật Chèo hiện đại?
Họa sĩ Nguyễn Đình Hàm là người đầu tiên phát hiện và ứng dụng thành công ngôn ngữ ước lệ, mảng phẳng và màu sắc của tranh dân gian Đông Hồ vào trang trí sân khấu Chèo, khởi đầu từ vở Quan Âm Thị Kính (1956, 1972) và các vở Lọ nước thần (1972), Tình rừng (1973), giúp mỹ thuật Chèo xóa bỏ "thói đa dùng" để hình thành ngôn ngữ tạo hình độc lập.
3. Hai thủ pháp "lấy ý để tả thực" và "lấy thực để tả ý" của họa sĩ Nguyễn Dân Quốc được thể hiện như thế nào?
- "Lấy ý để tả thực" là dùng hình tượng khái quát, biểu tượng mang tính triết lý để thể hiện hiện thực (như hình tượng thái cực, trăng vàng và mạng nhện trong vở Súy Vân để tả số phận người phụ nữ).
- "Lấy thực để tả ý" là dùng các hình thức tả thực cụ thể để gợi lên ý niệm tư tưởng sâu xa (như việc dựng mỗi cảnh diễn thành một bức tranh Đông Hồ trong vở Bão giữa nhà ông để biểu đạt sóng gió gia đình hiện đại).
4. Bảng màu trong thiết kế trang trí sân khấu Chèo của họa sĩ Nguyễn Dân Quốc được phân bổ theo nguyên tắc nào?
Nguyễn Dân Quốc sử dụng hai gam màu chính: gam nóng dành cho các cảnh mang tính chất cung đình, vương giả nhằm tạo không khí hoành tráng (Lời sấm truyền từ quán Trung Tân, Từ Thức); gam lạnh (đặc trưng cho tính âm của Chèo) dành cho các vở diễn trữ tình, bi kịch, thể hiện chiều sâu nội tâm nhân vật (Trương Viên, Lọ nước thần).
5. Những chất liệu mỹ thuật dân gian nào đã được đưa vào thiết kế sân khấu Chèo?
Bên cạnh tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống, các họa sĩ đã đưa vào sân khấu nghệ thuật điêu khắc gỗ đình làng, tranh lụa, tranh sơn mài, sơn khắc, tranh xé giấy và hoa văn trang trí thời tiền sử, phong kiến (hoa văn trống đồng, mây ngũ sắc, hoa sen, rồng phượng Đại Việt).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Vũ Đình Toán đã làm sáng tỏ tiến trình tiếp nhận và chuyển hóa mỹ thuật dân gian vào thiết kế trang trí sân khấu Chèo qua hai tác giả tiêu biểu là NSND Nguyễn Đình Hàm và NSND Nguyễn Dân Quốc. Công trình khẳng định việc vận dụng ngôn ngữ tạo hình dân gian (mảng phẳng, nét tinh giản, tính ước lệ tả ý) là giải pháp khoa học giúp sân khấu Chèo giữ vững bản sắc truyền thống khi vận hành trong không gian sân khấu hộp hiện đại. Kết quả nghiên cứu đóng góp hệ thống lý luận chuyên sâu và cung cấp nguồn dữ liệu thực tiễn có giá trị cho công tác đào tạo, dàn dựng và sáng tạo mỹ thuật sân khấu Việt Nam.