I. Tổng quan mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo
Luận án tiến sĩ nghệ thuật của Vũ Đình Toán (2021) thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội. Đề tài nghiên cứu sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu chèo qua hai họa sĩ tiêu biểu: Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc. Mỹ thuật dân gian Việt Nam, tiêu biểu là tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống, mang tính cách điệu cao, giá trị biểu đạt ẩn dụ sâu sắc. Các dòng tranh này sử dụng đường nét giản lược, mảng màu đậm nhạt đặc trưng, phản ánh đời sống tinh thần của người Việt xưa. Trong sân khấu chèo, tính ước lệ và cách điệu của mỹ thuật dân gian phù hợp tự nhiên với đặc trưng nghệ thuật chèo. Hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc đã phát hiện, vận dụng và phát triển các yếu tố mỹ thuật dân gian vào thiết kế trang trí sân khấu chèo, tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo, vừa bảo tồn giá trị truyền thống vừa đáp ứng yêu cầu sáng tạo hiện đại.
1.1. Đặc trưng mỹ thuật dân gian Việt Nam
Mỹ thuật dân gian Việt Nam bao gồm nhiều dòng tranh tiêu biểu như tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng. Tranh Đông Hồ được in trên giấy dó bằng bản khắc gỗ, sử dụng màu tự nhiên từ than lá tre, vỏ chàm, hoa điệp. Tranh Hàng Trống in dập bản nét trên giấy trắng bằng mực tàu, dùng phẩm màu vẽ tay vờn đậm nhạt. Cả hai dòng tranh đều có tính cách điệu cao, coi trọng tính giản lược và biểu ý hơn mô tả tả thật. Hình ảnh trong tranh dân gian mang tính trang trí mạnh, ẩn dụ phong phú, phản ánh quan niệm thẩm mỹ và triết lý sống của người Việt.
1.2. Truyền thống trang trí sân khấu chèo
Sân khấu chèo có lịch sử lâu đời, phát triển từ sân đình bến chợ đến nhà hát hiện đại. Trong chèo cổ, không gian sân khấu xử lý theo nguyên tắc ước lệ, cách điệu, không mô tả tả thật. Đầu thế kỷ XX, nhà cách tân Nguyễn Đình Nghị引入 trang trí tả thật vào chèo văn minh và chèo cải lương. Chèo hiện đại xuất hiện nhiều đề tài mới, đòi hỏi phương pháp thiết kế trang trí phù hợp. Các họa sĩ sân khấu chèo phải tìm kiếm giải pháp vừa giữ được bản sắc truyền thống vừa thích ứng với ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
II. Phân tích tiếp nhận mỹ thuật dân gian của họa sĩ Nguyễn Đình Hàm
Họa sĩ Nguyễn Đình Hàm là một trong những nghệ sĩ tiên phong phát hiện và vận dụng mỹ thuật dân gian vào thiết kế trang trí sân khấu chèo. Ông nhận ra tính cách điệu và ước lệ trong tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống tương đồng với bản chất nghệ thuật chèo. Trong các thiết kế của mình, Nguyễn Đình Hàm khai thác mảng màu đậm, đường nét giản lược, bố cục có tính trang trí cao từ tranh dân gian. Ông vận dụng các motif hoa văn, hình tượng dân gian vào trang trí phông màn, cảnh trí sân khấu. Thiết kế của Hàm không sao chép nguyên mẫu mà sáng tạo biến đổi, tạo chất phù hợp với tính ước lệ đặc trưng của chèo. Tranh dân gian Đông Hồ với các tác phẩm như Vinh hoa, Phú quý, Lợn đàn cung cấp nguồn cảm hứng dồi dào cho các thiết kế trang trí. Phong cách thiết kế của Nguyễn Đình Hàm奠定了 nền tảng quan trọng cho sự phát triển mỹ thuật sân khấu chèo hiện đại.
2.1. Phát hiện mỹ thuật dân gian trong sáng tạo
Nguyễn Đình Hàm có công lớn trong việc phát hiện giá trị nghệ thuật của mỹ thuật dân gian áp dụng vào sân khấu chèo. Ông nhận ra tranh Đông Hồ có tính cách điệu và giá trị biểu đạt, ẩn dụ lớn, phù hợp với bản chất ước lệ của chèo. Từ hình ảnh em bé ôm gà, ôm vịt trong tranh Vinh hoa Phú quý đến bức Lợn đàn với đường cong mềm mại kết hợp hình xoáy âm dương, Hàm thấy được tiềm năng trang trí sân khấu. Ông nghiên cứu kỹ phương pháp bố cục cách điệu đặc trưng của tranh Hàng Trống, coi trọng tính giản lược biểu ý.
2.2. Vận dụng vào thiết kế trang trí chèo
Trong thiết kế trang trí một số vở chèo, Nguyễn Đình Hàm vận dụng sáng tạo yếu tố mỹ thuật dân gian. Ông sử dụng mảng màu đậm nhạt, đường nét cách điệu từ tranh dân gian vào trang trí phông màn và cảnh trí. Thiết kế của ông không đứng biệt lập mà hòa vào tổng thể trang phục, hóa trang, diễn xuất và ánh sáng. Các motif hoa văn dân gian được biến đổi phù hợp với từng vở diễn, tạo nên không gian sân khấu chèo vừa truyền thống vừa hiện đại, góp phần khắc họa tính cách nhân vật.
III. Kế thừa và phát triển phong cách thiết kế từ họa sĩ Nguyễn Dân Quốc
Họa sĩ - NSND Nguyễn Dân Quốc kế thừa và phát triển phong cách thiết kế trang trí sân khấu chèo từ mỹ thuật dân gian của các bậc thầy, đặc biệt là Nguyễn Đình Hàm. Mỹ thuật chèo của Dân Quốc phần lớn mang tính nguyên chất, tươi rói, thanh thoát, gợi nhớ khắc họa của những bức tranh dân gian Việt Nam. Ông dày công nghiên cứu phục trang sân khấu, tính toán công phu qua mô hình tính cách nhân vật, chất liệu, màu sắc, kiểu cách từng vai diễn. Tuyển tập Mỹ thuật Chèo của Dân Quốc trình bày hàng trăm thiết kế phục trang từ tích cổ đến chèo dân gian, hiện đại. Đặc biệt, phục trang trong sáng tạo của Dân Quốc không đứng biệt lập mà hòa vào trang trí, hóa trang, diễn xuất và ánh sáng, tạo chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh theo nguyên lý âm dương ngũ hành. Phong cách thiết kế của Dân Quốc là bài học quý giá cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối về cách khai thác mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo.
3.1. Kế thừa phong cách thiết kế từ bậc thầy
Nguyễn Dân Quốc kế thừa phong cách thiết kế trang trí sân khấu chèo từ các họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Đình Hàm, Bùi Xuân Phái, Sỹ Ngọc. Ông tiếp thu tinh thần vận dụng mỹ thuật dân gian vào sân khấu chèo mà Hàm đã khai phá. Sự kế thừa thể hiện ở việc duy trì tính cách điệu, ước lệ trong thiết kế, sử dụng mảng màu và đường nét mang dấu ấn tranh dân gian. Dân Quốc không sao chép mà phát triển trên nền tảng ấy, tạo nên phong cách riêng mang bản sắc cá nhân.
3.2. Phát triển thiết kế sân khấu chèo hiện đại
Dân Quốc phát triển phong cách thiết kế sân khấu chèo từ mỹ thuật dân gian theo hướng hiện đại hóa. Ông nghiên cứu kỹ hàng trăm mẫu phục trang: yếm, áo cánh, váy dài, áo tứ thân, áo dài năm tà, áo mã tiên, áo mệnh phụ cho nữ; áo cánh, áo vạt buồm, quần lá tọa, áo dài thư sinh cho nam. Mỗi thiết kế tính toán tỷ mỷ qua chất liệu, màu sắc phù hợp từng nghệ sĩ. Phục trang hòa nhập tổng thể ánh sáng, hóa trang, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao trong mối quan hệ âm dương ngũ hành.
IV. Kết luận và ứng dụng thiết kế trang trí sân khấu chèo
Luận án tiến sĩ của Vũ Đình Toán đã hệ thống hóa quá trình tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế trang trí sân khấu chèo qua hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mỹ thuật dân gian, đặc biệt tranh Đông Hồ và Hàng Trống, là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo sân khấu chèo. Tính cách điệu, ước lệ trong tranh dân gian phù hợp tự nhiên với bản chất nghệ thuật chèo. Nguyễn Đình Hàm đặt nền tảng, Nguyễn Dân Quốc kế thừa và phát triển, tạo nên dòng chảy nghệ thuật liên tục. Bài học rút ra cho các thế hệ họa sĩ tiếp nối: phải nghiên cứu sâu mỹ thuật dân gian, hiểu bản chất ước lệ của chèo, vận dụng sáng tạo而非 sao chép nguyên mẫu. Thiết kế trang trí sân khấu chèo cần hòa nhập tổng thể với phục trang, hóa trang, ánh sáng, diễn xuất. Ứng dụng nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới cho bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân gian trong nghệ thuật sân khấu đương đại.
4.1. Bài học cho thế hệ họa sĩ tiếp nối
Nghiên cứu về hai họa sĩ Nguyễn Đình Hàm và Nguyễn Dân Quốc rút ra nhiều bài học quý cho thế hệ họa sĩ tiếp nối. Thứ nhất, phải am hiểu sâu sắc mỹ thuật dân gian, nắm vững đặc trưng cách điệu và biểu ý. Thứ hai, cần hiểu bản chất ước lệ của sân khấu chèo để vận dụng phù hợp. Thứ ba, thiết kế phải hòa nhập tổng thể với các yếu tố khác của vở diễn. Thứ tư, sáng tạo dựa trên truyền thống, không sao chép nguyên mẫu mà biến đổi phù hợp ngữ cảnh hiện đại.
4.2. Ứng dụng trong bảo tồn văn hóa dân gian
Nghiên cứu sự tiếp nhận mỹ thuật dân gian trong thiết kế sân khấu chèo có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn văn hóa dân gian. Việc vận dụng tranh Đông Hồ, Hàng Trống vào trang trí sân khấu giúp giới thiệu và quảng bá di sản mỹ thuật dân gian đến công chúng rộng rãi. Đồng thời, ứng dụng này tạo ra sản phẩm nghệ thuật mới mang bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ hiện đại. Mô hình tiếp nhận này có thể áp dụng cho các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống khác như tuồng, cải lương.