phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được chia làm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn (25 tr) Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua (38 tr) Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (23 tr) 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận Trong mục này, để làm rõ cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu các khái niệm văn hóa, quản lý văn hóa, tổ chức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và các lý thuyết tiếp cận cho các phần nghiên cứu và các chương tiếp sau.1 Khái niệm văn hóa Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có đến hàng trăm định nghĩa khoa học về văn hóa. Trong đó có rất nhiều định nghĩa được nhiều nhà khoa học ghi nhận hợp lý, được nhiều giáo trình khoa học công bố. Sau đây là một số định nghĩa được vận dụng.
Theo định nghĩa của E.B Tylor (năm 1871) Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục tập quán và tất cả những khả năng và thói quen khác, được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội [19, tr 13] Định nghĩa này bắt đầu bằng việc liệt kê (tri thức, tín ngưỡng…) mà sau đó nó được tóm lược lại bằng hai điểm chung. Tất cả các yếu tố riêng lẻ, được liệt kê ở trên, một mặt được hiểu là thói quen, mặt khác lại được xem như hình thái xã hội. Cuối cùng, một bằng chứng được đưa ra rằng văn hóa bao gồm những thói quen của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Dưới góc nhìn giá trị, ông Fédérico Mayor Zaragoza, nguyên tổng giám đốc UNESCO cho rằng: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên 9 một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [2, tr 12]. Tại hội nghị quốc tế ở Mêhico, những nhà văn hóa đại diện cho trên trăm nước, do UNESCO chủ trì, trong tuyên bố chung, người ta chấp nhận một quan điểm về văn hóa như sau: Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương; những lối sống, những tập tục và tín ngưỡng [52, tr 39] Những năm gần đây, ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã nhắc đến quan điểm về văn hóa của danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những yêu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ” [27, Tập 3, tr 431] Qua các định nghĩa về văn hóa trên đây ( không kể định nghĩa của Đào Duy Anh [1, tr 13], Trần Ngọc Thêm [35, tr 10],…) chúng ta có thể nói rằng, tùy theo cách tiếp cận mà chúng ta có định nghĩa về văn hóa khác nhau. Có những định nghĩa về chức năng, có định nghĩa về giá trị, về dân tộc học, về nhân học. Chúng tôi cho rằng quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là phù hợp với luận văn này.2 Khái niệm đời sống văn hóa Trong phần này, tác giả xin dẫn lại nội dung phân tích khái niệm đời sống văn hóa của nhóm tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy 10 [3, tr 21- 24]. Tác giả cho rằng phân tích như vậy là hợp lý và vẫn mang tính cập nhật đối với công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay.
Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành thích hợp và có thể coi là “mặt cắt ngang” trong đời sống chung của con người và xã hội. Nó gồm một tổng hợp những thành tố văn hóa tác động qua lại với đời sống của những cá nhân và cộng đồng, khả dĩ để đáp ứng nhu cầu, tinh thần của con người và thúc đẩy sự tiến triển của đời sống xã hội. Đời sống văn hóa, cũng có khi được hiểu như “môi trường văn hóa” là khâu nối liền giữa văn hóa của xã hội và văn hóa của cá nhân. Nó là một tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hóa bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành nếp sống và lối sống của con người ở đó.
Thể thống nhất này của đời sống văn hóa thường gồm 4 loại yếu tố: - Những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng: các thiết chế văn hóa, các tác phẩm và sản phẩm văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá văn hóa, lễ hội, văn hóa, văn nghệ dân gian, các trường học, các nhóm văn hóa… - Những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên và xây dựng) hiện diện ở mỗi cộng đồng: di tích lịch sử - văn hóa, phong cảnh, công viên, quy hoạch và kiến trúc, tượng, đài… - Những yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng – những con người biểu hiện văn hóa: trình độ học vấn, mức phát triển nhu cầu, sở thích và thị hiếu văn hóa, định hướng giá trị, các sinh hoạt và xử lý thời gian lao động và thời gian tự do, văn hóa ứng xử, nếp sống văn hóa, lễ nghi, lễ phép… - Những yếu tố văn hóa của các vi môi trường trong những cộng đồng (gia đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập, quân ngũ…). Trong bất kỳ cộng đồng nào cũng đều có môi trường văn hóa nhỏ và môi 11 trường văn hóa lớn. Môi trường văn hóa nhỏ là môi trường văn hóa trong nhóm gia đình, trong tổ lao động, trong tổ học tập…- môi trường gần gũi nhất với mỗi cá nhân. Nó không phải là những môi trường văn hóa biệt lập mà là một bộ phận cấu thành trong môi trường văn hóa lớn.
Còn môi trường văn hóa lớn thì có thể chia thành nhiều cấp độ: môi trường văn hóa một xã hội toàn bộ; môi trường văn hóa một cộng đồng bộ tộc trong một quốc gia; môi trường văn hóa miền, khu vực, thành phố, thị xã, quận, huyện; môi trường văn hóa của cấp hạ tầng cơ sở xã hội (xã, phường, thôn, ấp, làng, bản, phum sóc, khối phố, nông trường, khu tập thể…) - Như vậy, khái niệm đời sống văn hóa mà chúng ta hiểu ở đây, căn cứ vào khái niệm văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống con người (trong sự khu biệt với kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống con người), là một trong những phương tiện và phương thức thỏa mãn các nhu cầu chính yếu của đời sống xã hội, đó là nhu cầu tồn tại nhân tính (sống và bảo vệ cuộc sống theo hướng chuẩn mực hóa). Văn hóa còn được coi như là hình thức sống. Khái niệm đời sống văn hóa là khái niệm chỉ quá trình hoạt động văn hóa thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, bao gồm hoạt động văn hóa tự thân và sáng tạo sản phẩm văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu về hưởng thụ thẩm mỹ và giải trí, về xây dựng môi trường văn hóa và về phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Đời sống văn hóa là hệ quả của mối quan hệ biện chứng giữa môi trường văn hóa và chủ thể văn hóa (cộng đồng và cá nhân).
Đời sống văn hóa không chỉ thể hiện mức sống và chất lượng sống mà còn thể hiện tập trung ở lối sống và nếp sống thông qua: - Hoạt động văn hóa tự thân (ứng xử trong quan hệ cộng đồng, hoạt động tín ngưỡng, tâm linh, tham gia lễ thức, lễ tục và lễ hội), 12 - Hoạt động văn hóa sáng tạo (sáng tác văn học nghệ thuật, dân gian và bác học) nhằm tạo ra các loại sản phẩm văn hóa (vật thể và phi vật thể) đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, - Hoạt động xây dựng môi trường văn hóa (cộng đồng và gia đình) và hoàn thiện nhân cách (cá nhân) 1.3 Quan niệm về đơn vị cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa Theo Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Hy, có thể hiểu khái niệm cơ sở trên ba phương diện [3, tr 24 - 27] - Cơ sở - được quan niệm như là: những cái gì cơ bản, cái làm nền, làm gốc, làm căn cứ chính … Cho một lĩnh vực hoạt động hay tri thức nào đó. Ví dụ: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, “Cơ sở lý luận Mác Lê nin”, “Cơ sở vật chất” của chủ nghĩa xã hội, của nhà văn hóa… hoặc: Nói ra cái gì cũng phải có “cơ sở ”, có đủ “cơ sở” chứng lý mới buộc tội được… - Cơ sở - được quan niệm như là: một nơi, một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm, trung tâm… Để diễn ra một loại hoạt động nào đó (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội). Ví dụ: Cơ sở hoạt động cách mạng, cơ sở chiến khu, cơ sở thương nghiệp, cơ sở dạy nghề, cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, cơ sở hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình… - Cơ sở - được quan niệm như là: một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn… có cơ cấu bộ máy quản lý hoàn chính ở cấp cuối cùng của mỗi loại hệ thống.