Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công với đề tài "Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam" giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tính đến tháng 8 năm 2022, Việt Nam đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh 8 di sản văn hóa vật thể thế giới (gồm 5 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp). Sự hiện diện của các di sản này mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa và phát triển du lịch tại các địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý nhà nước đối với các di sản này đang bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng: tình trạng lấn chiếm, xâm hại di sản, hủy hoại môi trường, khai thác quá mức, tu bổ sai quy định làm biến dạng yếu tố gốc, xây dựng công trình trái phép hoặc đưa hiện vật lạ vào vùng bảo vệ. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di sản tại các địa phương thiếu thống nhất về mô hình và tên gọi, chức năng nhiệm vụ chồng chéo, phân cấp chưa rõ ràng, nguồn lực tài chính buông lỏng kiểm tra và năng lực của đội ngũ công chức, viên chức chuyên môn còn nhiều bất cập. Những sai phạm này đã khiến UNESCO đưa ra khuyến nghị cảnh báo nguy cơ rút tên khỏi danh mục di sản thế giới nếu không kịp thời khắc phục. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện dưới góc độ khoa học quản lý công về toàn bộ 8 di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam để làm rõ nguyên nhân của các bất cập thể chế, tổ chức bộ máy, nhân lực và tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý đồng bộ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân chia thành 4 nội dung cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới.
  3. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2021.
  4. Tổng hợp quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam trong giai đoạn tới.

Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, hiện trạng di sản còn bị xuống cấp, bị xâm hại, bị khai thác quá mức và chưa phát huy đầy đủ giá trị. Nguyên nhân chủ yếu là do việc cụ thể hóa và triển khai thực hiện thể chế còn chậm, bộ máy quản lý còn chồng chéo, năng lực đội ngũ công chức quản lý và viên chức chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho hoạt động bảo tồn chưa đủ mạnh; hoạt động kiểm soát còn bị buông lỏng, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Nếu có giải pháp quản lý phù hợp cùng sự hỗ trợ của UNESCO thì quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam trong thời gian tới sẽ hoàn thiện hơn.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm 4 câu hỏi:

  1. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới được các tổ chức, cá nhân nghiên cứu như thế nào từ trước tới nay?
  2. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới dựa trên những cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn nào?
  3. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam hiện nay được thực hiện như thế nào?
  4. Để hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam trong thời gian tới, cần dựa trên những quan điểm, định hướng và giải pháp nào?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Tập trung vào 7 nội dung quản lý nhà nước gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; Xây dựng và phát triển đội ngũ công chức quản lý và viên chức chuyên môn; Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính; Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật; Tổ chức và thực hiện nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.
  • Về không gian: Nghiên cứu thực trạng trên địa bàn 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có 8 di sản văn hóa vật thể thế giới, bao gồm: thành phố Hà Nội (Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long); tỉnh Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long); tỉnh Ninh Bình (Quần thể danh thắng Tràng An); tỉnh Thanh Hóa (Thành Nhà Hồ); tỉnh Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng); tỉnh Thừa Thiên Huế (Quần thể di tích Cố đô Huế); tỉnh Quảng Nam (Đô thị cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn).
  • Về thời gian: Khảo sát và đánh giá thực trạng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021, đồng thời đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình nghiên cứu chính có liên quan trực tiếp đến đề tài:

Nhóm nghiên cứu về di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa vật thể thế giới:

  • Tài liệu hướng dẫn "Managing Tourism at World Heritage Sites" của Arthur Pederson (2002) do UNESCO, TEMA và UNEP hỗ trợ, cung cấp cơ sở cho việc quản lý du lịch, xử lý rủi ro và lập kế hoạch tổng thể tại các khu di sản thế giới.
  • Cuốn sách "Du lịch bền vững trong những khu vực được bảo vệ" của Paul Eagles (2002) do UNEP, IUCN và UNWTO xuất bản, phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa du lịch bền vững và công tác bảo tồn khu vực được bảo vệ.
  • Các công trình trong nước như "Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập" do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2009); cuốn sách nghiên cứu thiết chế tín ngưỡng "Đình Chùa Lăng Miếu - Di sản văn hóa vật thể của người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh" của Hồ Sơn Diệp và Nguyễn Văn Hiệp (2013); công trình "Di sản văn hóa Việt Nam, Bản sắc và những vấn đề về quản lý, bảo tồn" của Nguyễn Thịnh (2012); bài viết "Sức sống cho sự tồn tại của di sản văn hóa" của Phạm Sanh Châu trên Tạp chí Di sản văn hóa (2011); bài viết "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa" của Lưu Trần Tiêu (2002); cuốn sách "Di sản thế giới, Văn hóa - Tự nhiên - Hỗn hợp" của Bùi Đẹp (1999); sách "Những di sản nổi tiếng thế giới" của Trần Mạnh Tường (2000); luận án tiến sĩ "Khai thác hợp lý các di sản văn hoá thế giới nhằm phát triển du lịch miền Trung Việt Nam" của Nguyễn Thị Thống Nhất (2012); công trình "Bảo vật hoàng cung triều Nguyễn" do Nguyễn Văn Cường chủ biên (2016).

Nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa vật thể thế giới:

  • Kỷ yếu hội thảo khoa học "Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và hình ảnh điểm đến du lịch tại các tỉnh miền Trung" do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức tại Huế (2015).
  • Luận án tiến sĩ "The guideline for conservation of living heritage temples in Thailand context" của Bhakhakanok Ratanawaraporn tại Đại học Silpakorn, Thái Lan (2011).
  • Các công trình học thuật quốc tế: "Asean Heritage Management, context, concerns and prospects" của Kapila D. Silva và Neel Kamal Chapagain (2013); "Heritage: Management, Interpretation, Identity" của Peter Howard (2003); "Transcending the Culture - Nature Divide in Cultural Heritage, Views from the Asia-Pacific Region" của Sally Brockwell, Sue O’Connor và Denis Byrne (2013); "Principles for the Conservation of Heritage Sites in China" của Neville Agnew và Martha Demas (2004); "Handbook of Conservation of Heritage Buildings" của Cục Công chính Trung ương Ấn Độ (2013); bài báo "Cultural Heritage Management: A Possible Role for Charters and Principles in Asia" của Ken Taylor trên Tạp chí Nghiên cứu Di sản Quốc tế (2004); hướng dẫn xây dựng và giám sát kế hoạch quản lý di sản thế giới khu vực Adriatic của UNESCO (2014).
  • Các nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam: Luận án "Quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng" của Quách Ngọc Dũng (2018); các bài viết của Nguyễn Quốc Hùng (2013) về kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong bảo vệ di sản; nghiên cứu của Nguyễn Viết Cường (2014) về áp dụng quy định quốc tế; bài viết của Phương Thúy và Đào Yến về bất cập quản lý di sản; nghiên cứu so sánh kinh nghiệm châu Á của Nguyễn Toàn Thắng (2013); bài viết của Hà An (2013) về chấn chỉnh quản lý di tích; bài viết của Hoàng Tuấn Anh (2014) trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân về tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa; bài viết của An Ngọc (2014) về thống nhất đầu mối quản lý di tích; bài báo khoa học của Nguyễn Khánh Tùng và Trần Bá Hùng (2021) trên Tạp chí Quản lý nhà nước.

Nhóm nghiên cứu liên quan trực tiếp đến 8 di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam:

  • Bộ sách 11 tập "Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội" thuộc Chương trình KX.09 do Nguyễn Chí Bền chủ biên (2010); dự án nghiên cứu tác động du lịch biển tại Vịnh Hạ Long của Đại học Kent, Đại học Bradford và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2015); dự án hợp tác quốc tế nghiên cứu thích ứng môi trường của người tiền sử tại Tràng An giữa Đại học Cambridge, Đại học Belfast và Ban Quản lý Tràng An (2017); Kỷ yếu hội thảo quốc tế về bảo tồn đô thị di sản tại Quảng Nam (2017); bài viết của Hoàng Đạo Kính về trùng tu di tích cố đô Huế; luận án tiến sĩ "Quản lý Di sản thế giới ở Việt Nam qua trường hợp cố đô Huế và đô thị cổ Hội An" của Trịnh Ngọc Chung (2015); bài viết của Đặng Văn Bài về quản lý nhà nước tại Vịnh Hạ Long; bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà về du lịch di sản Hội An; cùng các bài viết phản ánh sai phạm tại Vịnh Hạ Long của An Khanh và Trọng Tài.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận di sản dưới góc độ khảo cổ học, văn hóa học, kiến trúc, bảo tồn bảo tàng hoặc khai thác du lịch đơn lẻ ở từng di sản cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống trên góc độ khoa học quản lý công đối với toàn bộ 8 di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam; chưa làm rõ cấu trúc 7 nội dung quản lý nhà nước, chưa đánh giá định lượng thông qua điều tra xã hội học diện rộng về sự đồng bộ của thể chế, tổ chức bộ máy, năng lực nhân sự, phân bổ tài chính và cơ chế phối hợp liên ngành. Luận án đặt vị trí của mình vào việc giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới trong bối cảnh hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết quản lý công:

  • Khái niệm văn hóa: Luận án dẫn xuất các định nghĩa từ Từ điển Hán Việt Từ Nguyên, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, định nghĩa hệ thống của Trần Ngọc Thêm, và định nghĩa từ góc độ quản lý công (văn hóa là thành tố cấu thành hệ thống tổ chức xã hội, gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội).
  • Khái niệm di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể: Luận giải theo Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới năm 1972 của UNESCO, định nghĩa năm 1982 tại Mexico, khái niệm cảnh quan văn hóa năm 1992, kết hợp với các điều khoản của Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2013). Cụ thể, di sản văn hóa vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.
  • Tiêu chí di sản văn hóa vật thể thế giới: Phân tích 10 tiêu chí giá trị nổi bật toàn cầu (tiêu chí 1 đến 6 về văn hóa, tiêu chí 7 đến 10 về thiên nhiên) cùng điều kiện bắt buộc về tính toàn vẹn (integrity) theo Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản thế giới của UNESCO.
  • Khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới: Được tiếp cận theo nghĩa rộng của quản lý công, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình văn hóa và di sản văn hóa vật thể thế giới nhằm bảo tồn nguyên gốc, phát huy giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đồng thời tuân thủ các cam kết và sự giám sát quốc tế của UNESCO. Khung nội dung quản lý nhà nước được xác lập gồm 7 nội dung cơ bản: chiến lược/quy hoạch/kế hoạch; văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức bộ máy; đội ngũ nhân lực; nguồn lực tài chính; thanh tra/kiểm tra; và nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Đại hội VIII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Nghị quyết Đại hội XIII).
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích các công ước quốc tế của UNESCO, hệ thống pháp luật Việt Nam (Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 109/2017/NĐ-CP), các báo cáo thống kê, chương trình, đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân 7 tỉnh, thành phố có di sản.
  • Phương pháp so sánh: Khảo cứu và so sánh mô hình, chính sách quản lý di sản văn hóa thế giới của Campuchia, Trung Quốc và Nhật Bản để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (nghiên cứu định lượng và định tính):
    • Điều tra bằng bảng hỏi: Thiết lập mẫu phiếu khảo sát trên Google Biểu mẫu, gửi trực tiếp và trực tuyến qua email, Zalo. Số lượng gửi đi là 500 phiếu, số phiếu hợp lệ thu về là 446 phiếu. Khảo sát thực hiện trên 5 nhóm đối tượng:
      1. Nhóm tham mưu ra quyết định cấp Trung ương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): 40 phiếu;
      2. Nhóm quyết định tổ chức triển khai cấp tỉnh (7 tỉnh, thành phố có di sản): 70 phiếu;
      3. Nhóm đại diện chính quyền cấp huyện và xã nơi có di sản: 80 phiếu;
      4. Nhóm đại diện các ban/trung tâm quản lý di sản văn hóa vật thể thế giới: 160 phiếu;
      5. Nhóm đại diện các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khai thác di sản: 150 phiếu.
    • Phỏng vấn sâu chuyên gia (định tính): Phỏng vấn 32 chuyên gia là lãnh đạo các cục, vụ, viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long, Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và Ninh Bình (do tác động của dịch bệnh Covid-19, phương thức phỏng vấn kết hợp trực tiếp và qua điện thoại).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS và Microsoft Excel để mã hóa, làm sạch và tổng hợp dữ liệu khảo sát thành hệ thống bảng biểu, biểu đồ phản ánh thực trạng quản lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này dành 20 trang (từ trang 10 đến 29) để tổng thuật một khối lượng lớn tài liệu học thuật trong và ngoài nước. Tác giả phân chia các công trình theo ba phân nhóm chủ đề: nhóm nghiên cứu chung về di sản và bảo tồn di sản; nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với di sản; và nhóm nghiên cứu chuyên biệt về 8 di sản thế giới tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích điểm mạnh và khoảng trống của các tài liệu, chương 1 khẳng định các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ văn hóa, bảo tàng, khảo cổ học hoặc phân tích cục bộ một địa bàn di tích riêng biệt. Luận án kế thừa các phân tích nền tảng về đặc thù di sản, kinh nghiệm quốc tế và sự xung đột giữa phát triển du lịch với bảo tồn, đồng thời xác định nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu hệ thống hóa quản lý nhà nước dưới góc độ quản lý công cho toàn bộ hệ thống di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới

Chương 2 (từ trang 30 đến 74) xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế. Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: văn hóa, di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa vật thể thế giới và quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới. Luận án làm rõ đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực này: chịu sự ràng buộc song trùng giữa luật pháp quốc gia và các công ước quốc tế; chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ của UNESCO; đối tượng quản lý mang tính không thể tái sinh và chứa đựng giá trị toàn cầu. Luận án xác định 7 nội dung quản lý nhà nước cụ thể và phân tích 4 nhóm vai trò của quản lý nhà nước (định hướng chính sách, bảo tồn yếu tố gốc, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương, phát triển du lịch văn hóa hướng tới mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030). Về kinh nghiệm quốc tế, chương 2 phân tích bài học quản lý của Campuchia (quản lý quần thể Angkor), Trung Quốc và Nhật Bản; chỉ ra các giá trị tham khảo về cơ chế vận hành cơ quan quản lý chuyên trách, cơ chế tài chính và huy động sự tham gia của cộng đồng.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam

Chương 3 (từ trang 75 đến 128) tập trung khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước giai đoạn 2010 - 2021 dựa trên dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra xã hội học từ 446 phiếu khảo sát và 32 chuyên gia.

Tác giả thống kê và phân tích chi tiết thực trạng 8 di sản tại 7 tỉnh, thành phố:

TT Tên di sản văn hóa vật thể thế giới Địa phương Loại hình di sản Năm công nhận
1 Quần thể di tích Cố đô Huế Thừa Thiên Huế Di sản văn hóa 1993
2 Vịnh Hạ Long Quảng Ninh Di sản thiên nhiên 1994, 2000
3 Khu phố cổ Hội An Quảng Nam Di sản văn hóa 1999
4 Khu đền tháp Mỹ Sơn Quảng Nam Di sản văn hóa 1999
5 Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng Bình Di sản thiên nhiên 2003, 2015
6 Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long Hà Nội Di sản văn hóa 2010
7 Thành Nhà Hồ Thanh Hóa Di sản văn hóa 2011
8 Quần thể danh thắng Tràng An Ninh Bình Di sản hỗn hợp 2014

Chương 3 phân tích thực trạng theo 7 nội dung quản lý qua các bảng số liệu từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.8 và các bảng điều tra xã hội học từ Bảng 3.9 đến Bảng 3.14:

  • Thống kê tổ chức bộ máy và nhân sự năm 2021: Phân tích mô hình hoạt động của các ban quản lý, trung tâm bảo tồn di sản; số lượng các phòng ban và cơ cấu trình độ nhân sự (Bảng 3.2, 3.3, 3.4, 3.5). Kết quả chỉ ra sự phân tán: nơi trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh (Huế, Tràng An, Thăng Long), nơi trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hoặc trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh (Hạ Long, Hội An).
  • Nguồn vốn đầu tư và nguồn thu giai đoạn 2010 - 2021: Thống kê nguồn ngân sách nhà nước, vốn xã hội hóa (Bảng 3.6, Bảng 3.8), doanh thu từ phí tham quan và lượt khách bình quân hàng năm (Bảng 3.7). Nguồn lực đầu tư còn thiếu cân đối, phụ thuộc nhiều vào ngân sách trung ương và địa phương.
  • Kết quả điều tra xã hội học: Đánh giá của 5 nhóm đối tượng về quy hoạch di sản (Bảng 3.9), tính đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật (Bảng 3.10), mô hình tổ chức bộ máy (Bảng 3.11), năng lực đội ngũ công chức viên chức (Bảng 3.12), huy động tài chính (Biểu đồ 3.1), và hiệu quả thanh tra, kiểm tra (Bảng 3.13).
  • Đánh giá tổng quát: Luận án chỉ rõ các kết quả đạt được về bảo tồn di tích, gia tăng khách du lịch; đồng thời làm rõ các hạn chế (vi phạm trật tự xây dựng, ô nhiễm môi trường, sự thương mại hóa quá mức, tranh chấp nguồn thu) và xác định 4 nhóm nguyên nhân cơ bản (Bảng 3.14): chậm ban hành quy chế phối hợp liên ngành; bộ máy cồng kềnh, chồng chéo; trình độ cán bộ chưa chuẩn hóa; và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam

Chương 4 (từ trang 129 đến 163) trình bày hệ thống quan điểm của Đảng, Nhà nước và xác định 8 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Xây dựng và hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý theo hướng phát triển liên kết chuỗi di sản văn hóa vật thể thế giới tại các địa phương và liên vùng.
  2. Cụ thể hóa và triển khai thực hiện kịp thời hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi các quy định còn chồng chéo giữa Luật Di sản văn hóa với Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường và Luật Lâm nghiệp.
  3. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, thống nhất mô hình tổ chức của các ban/trung tâm quản lý di sản trên toàn quốc, thể hiện qua Sơ đồ 4.1 "Mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam".
  4. Nâng cao năng lực đội ngũ công chức quản lý và viên chức chuyên môn theo hướng chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh, bồi dưỡng kỹ năng ngoại ngữ, quản trị rủi ro và nghiệp vụ bảo tồn theo tiêu chuẩn quốc tế.
  5. Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, hoàn thiện chính sách xã hội hóa, đa dạng hóa các nguồn tài chính và bảo đảm phân bổ, sử dụng nguồn thu từ di sản đúng mục đích tái đầu tư cho bảo tồn.
  6. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra liên ngành, hậu kiểm các dự án tu bổ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại di sản.
  7. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ, ứng dụng chuyển đổi số (số hóa 3D, dữ liệu lớn trong quản lý du khách) và mở rộng hợp tác quốc tế với các tổ chức bảo tồn di sản thế giới.
  8. Hoàn thiện phân cấp quản lý hành chính giữa Trung ương và địa phương, ban hành quy chế phối hợp đồng bộ giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Chương này cũng đưa ra các khuyến nghị cụ thể đối với cấp Trung ương (Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và chính quyền các địa phương nơi có di sản văn hóa vật thể thế giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 6 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Tổng quan một cách hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý di sản văn hóa vật thể thế giới, chỉ rõ các khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục giải quyết dưới góc độ chuyên ngành quản lý công.
  2. Làm rõ nội hàm khái niệm di sản văn hóa vật thể; bổ sung về mặt học thuật khái niệm di sản văn hóa vật thể thế giới và quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới, làm sáng tỏ tính đặc thù của hoạt động quản lý khi chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật Việt Nam và các hướng dẫn, giám sát từ UNESCO.
  3. Xác định và luận giải có hệ thống 7 nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới từ khâu lập chiến lược, hoàn thiện thể chế pháp lý, tổ chức bộ máy, nhân lực, tài chính cho đến thanh tra và hợp tác quốc tế.
  4. Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa vật thể thế giới của các quốc gia trong khu vực gồm Campuchia, Trung Quốc, Nhật Bản, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị tham chiếu cho Việt Nam.
  5. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với toàn bộ 8 di sản thế giới tại 7 tỉnh, thành phố của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2021 bằng phương pháp hỗn hợp; cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và xác định đúng các nguyên nhân hạn chế về mặt thể chế, tổ chức bộ máy và nguồn lực.
  6. Tổng hợp hệ thống quan điểm, định hướng và đề xuất 8 nhóm giải pháp đồng bộ kèm theo các kiến nghị khả thi đối với các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về di sản thế giới trong giai đoạn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận quá trình thu thập thông tin sơ cấp qua phương pháp điều tra xã hội học gặp nhiều trở ngại do tác động của dịch bệnh Covid-19, dẫn đến việc hạn chế đi lại và tiếp xúc thực tế. Do đó, việc gửi và thu thập phiếu khảo sát cũng như phỏng vấn sâu 32 chuyên gia chủ yếu phải thực hiện gián tiếp qua môi trường trực tuyến (Google Biểu mẫu, Zalo, Email) và phỏng vấn qua điện thoại, điều này làm giảm mức độ tương tác trực tiếp tại hiện trường di sản.

Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở 8 di sản văn hóa vật thể thế giới tại 7 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010 - 2021, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu sang các di sản văn hóa phi vật thể thế giới, di sản tư liệu thế giới tại Việt Nam, hoặc tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của khung pháp lý mới (Luật Di sản văn hóa sửa đổi) và hiệu quả của các dự án chuyển đổi số di sản trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương: Cung cấp luận cứ khoa học để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa và Ủy ban nhân dân 7 tỉnh, thành phố tham khảo trong quá trình xây dựng, điều chỉnh chiến lược, lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di sản, kiện toàn mô hình ban quản lý di sản và ban hành quy chế phối hợp liên ngành.
  • Các ban quản lý, trung tâm bảo tồn di sản: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà quản lý cơ sở tại 8 khu di sản thế giới trong việc xây dựng phương án khai thác du lịch bền vững, quản lý nguồn nhân lực và sử dụng nguồn thu dịch vụ để tái đầu tư cho bảo tồn.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học chuyên ngành Quản lý công, Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Du lịch học và Luật học; đặc biệt là chương 2 về khung lý thuyết quản lý nhà nước và chương 3 về phương pháp luận khảo sát xã hội học.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới lại có tính đặc thù khác biệt so với quản lý các di sản văn hóa thông thường?
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới mang tính chất đặc thù do di sản sở hữu giá trị nổi bật toàn cầu, không thể tái sinh, chịu sự tác động đồng thời của pháp luật Việt Nam (Luật Di sản văn hóa, Nghị định 109/2017/NĐ-CP) và các công ước, hướng dẫn thực hiện của UNESCO. Mọi can thiệp bảo tồn, tu bổ, xây dựng tại vùng bảo vệ di sản đều phải tuân thủ các quy chuẩn quốc tế và chịu sự thanh tra, giám sát nghiêm ngặt từ Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO, nếu vi phạm di sản có thể bị đưa vào danh sách cảnh báo hoặc rút danh hiệu.

2. Cơ cấu mẫu điều tra xã hội học trong luận án được phân bổ như thế nào?
Tác giả đã phát ra 500 phiếu khảo sát và thu về 446 phiếu hợp lệ, chia thành 5 nhóm đối tượng: nhóm 1 là người tham mưu cấp Trung ương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) với 40 phiếu; nhóm 2 là người quyết định triển khai cấp tỉnh nơi có di sản với 70 phiếu; nhóm 3 là đại diện chính quyền cấp huyện, xã với 80 phiếu; nhóm 4 là đại diện các ban/trung tâm quản lý di sản với 160 phiếu; nhóm 5 là đại diện các tổ chức, cá nhân khai thác di sản với 150 phiếu. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 32 chuyên gia là lãnh đạo các đơn vị quản lý di sản.

3. Những hạn chế nổi bật nhất của bộ máy quản lý di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra sự thiếu thống nhất về mô hình tổ chức và tên gọi của các ban quản lý di sản giữa các địa phương; chức năng và nhiệm vụ quản lý bị chồng chéo giữa ngành văn hóa, ngành du lịch, ngành tài nguyên môi trường và nông nghiệp; sự phân cấp, phân quyền chưa triệt để dẫn tới tranh chấp quản lý nguồn thu từ vé tham quan giữa đơn vị quản lý di tích với chính quyền cấp cơ sở; đồng thời đội ngũ cán bộ, viên chức ban quản lý còn thiếu kỹ năng chuyên môn sâu và hạn chế về trình độ ngoại ngữ.

4. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào về mặt tổ chức bộ máy và hoàn thiện thể chế?
Tác giả đề xuất xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước thống nhất từ Trung ương đến địa phương (Sơ đồ 4.1); chuẩn hóa mô hình tổ chức của ban quản lý di sản theo hướng tinh gọn và trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa để khắc phục các mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường; đồng thời xây dựng quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương.

Kết luận

Luận án "Quản lý nhà nước về di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công, giải quyết một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn công tác quản lý 8 di sản thế giới tại Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở khoa học, đánh giá thực trạng quản lý giai đoạn 2010 - 2021 thông qua dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra xã hội học từ 446 phiếu khảo sát và 32 chuyên gia. Kết quả nghiên cứu làm rõ các thành tựu, bất cập về thể chế, bộ máy, nhân lực, tài chính và đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa vật thể thế giới tại Việt Nam trong thời gian tới.